Hội họa thế giới đi từ nét vẽ sơ khai từ trong các hang động, vết tích đầu tiên hay các di chỉ vẫn còn lưu giữ lại được. Hội họa được xem như những hình dung ban đầu của loài người về tự nhiên, vạn vật xung quanh thông qua mô phỏng đường nét và tạo hình bắt chước. Nghệ thuật hội họa đông tây trải qua cuộc biến hình đầy sóng gió khi phương tây xem trọng cái cổ điển là mẫu mực ở thời kỳ phục hưng, ở Trung Hoa – một đại biểu lớn của nền văn học nghệ thuật phương đông chú trọng nhiều đến nghệ thuật mô phỏng từ bách gia và phương thức sáng tác lấy kỹ pháp từ quan niệm triết học cổ điển Lão Trang. Hội họa cổ điển Việt Nam với dấu ấn đặc trưng là tái hiện và hội họa chức năng phục vụ cho triều đình phong kiến là chủ yếu, hội họa dân gian vẫn là hình thức gắn với đời sống tâm linh, tranh mang nội hàm tư tưởng khuyến động trong dân gian. Hiện nay, mỹ thuật và hội họa hòa nhập với cái nhìn cải tân, đôi khi cũng có sự phân hóa sâu sắc giữa các trường phải khác nhau. Tuy nhiên, hội họa cổ điển vẫn giữ được cái tâm và tính đặc sắc của phương thức sáng tác mẫu mực, bất di bất dịch. Bộ ba tác phẩm hội họa mà chúng tôi khảo sát và phân tích các cách nhìn mỹ học từ cái nhìn Đông sang Tây, và nhìn lại tác phẩm Việt Nam để chứng nghiệm hành trình tiếp nhận của tinh thần hội họa Việt Nam. Đồng thời, chứng nghiệm được sức sống của hội họa Trung Hoa, hội họa phương tây dưới cái nhìn so sánh không chuyên.
2. Nội dung
2.1.
Tác phẩm The Swing của Jean-Honoré
Fragonard (Pháp, 1766)
Jean-Honoré Fragonard (1732 – 1806) là họa sĩ người Pháp,
ông danh dự từng đoạt giải thưởng La Mã do chính người thầy của mình là Boucher
(1703-1770). Tác phẩm của ông chủ đề thường hướng đến mô tả đời sống tự nhiên,
tình yêu đôi lứa, sinh hoạt thường nhật của con người. Tác phẩm The Swing ra đời
năm 1766 (có tài liệu ghi 1767) khi nhà họa sĩ nhận được đơn đặt hàng từ Baron
Louis-Guillaume Baillet de Saint-Julien vẽ chính người tình của mình. Nội dung
của bức tranh xoay quanh việc mô tả hình ảnh một người phụ nữ tring chiếc váy hồng
trên cái xích đu được kéo bởi một người đàn ông lớn tuổi phía sau, dưới chân
nàng là chàng trai trẻ đang thích thú ngắm nhìn cử động cua chiếc đu. Đồng thời,
trong bức tranh cũng mô tả chiếc giày của người phụ nữ bị chính nàng hất văng về
phía bức tượng thần Cupid – vị thần của tình yêu và dục vọng. Ở bối cảnh sau
lưng nàng là hai bức tượng của hai vị thiên sứ gần như ánh mắt và điểm nhìn về
thần Cupid phản đối. Sự hô ứng của các sự vật trong họa phẩm làm nên cái nhìn
xéo về không gian và điểm nhìn ánh sáng của các nhân vật.
2.1.1.
Phương thức thể hiện động tĩnh
Họa sĩ lấy hướng chuyển động của chiếc xích đu làm điểm
nhìn chính tuyến của tác phẩm, phụ tuyến là cảnh vật xung quanh và các tĩnh vật
nền bối cảnh nền cho tác phẩm. Sự chuyển động của bức tranh nhìn từ điểm nhìn của
nhân vật hạ tuyến (người ngồi dưới ngắm cô gái) và phụ họa của chiếc giày cô
gái hất tung, vị thần tình yêu và dục vọng qua bức tượng với hướng nhìn về cô
gái và chiếc xích đu chuyển động như thể đồng vọng. Sự tương hợp trong điểm
nhìn giữa vật thể trong tranh tạo cảm giác cho người thưởng thức tranh cũng đồng
cảm được sự hô ứng giữa các tĩnh vật, chủ thể trong tầm nhìn bằng mắt thường mà
chưa cần phải liên hội với các hình thái ý thức khác.
Chủ thể và cố cục chính trong tranh đó là hình ảnh cô gái
trên xích đu và chàng trai bên dưới nền cỏ xanh đang hướng mắt nhìn với nhau. Sự
hô ứng này tạo nên cảm giác đồng vọng về thẩm mỹ. Đó là sự hô ứng về người trao
truyền tín hiệu tình yêu với đối tượng tiếp nhận trong tranh. Kỹ pháp vẽ trực
diện nhân vật chính của hội họa cổ điển phương tây đã có sức tác động làm cho
chủ thể chính yếu của tranh luôn nổi bật và điểm nhìn từ người tiếp nhận luôn
hướng vào chính nó để có thể cảm nhận được nội dung chính trước, sau đó mới là
hậu cảnh.
2.1.2.
Nội dung bối cảnh
Bối cảnh của bức tranh là dải màu xanh lam, lục kéo dài,
dần về phía các góc là xanh dương đen, tối màu. Chính giữa tranh là màu sáng của
ánh nắng ban mai chiếu từ trên không xuống theo hướng của cô gái cùng với sự
chuyển động của chiếc xích đu. Quyển A
World History of Art (Hugh Honour, John Fleming, 2005) từng mô tả: Trong sáng tác The
Swing năm năm trước của ông đã đạt được sự minh xác ý niệm biểu đạt nghệ thuật
Rococo của Pháp giai đoạn cổ điển. tác phẩm The Swing, người phụ nữ Pháp như được
lấy làm chủ đề khái niệm của nghệ thuật, sự nổi bật trong họa tác của
fètesgalantes, đó là một vài bài thơ thông thường đối với sự chúc tụng sự giải
trí nhàn hạ, ca ngợi cuộc sống sinh hoạt giới quý tộc. sự xuất hiện của các đứa
trẻ biểu hiện ý niệm thụ hưởng tiêu khiển, mà người nam thì rất hiếm khi có. Phụ
nữ và trẻ em trong tranh như sự chiếm hữu độc quyền của chính bản thân nghệ thuật,
The Swing đã rât nhanh chóng đạt được sự tiến triển trong nội hàm về việc mô phỏng,
bắt chướt sự hưởng lạc trong chế độ cổ xưa. Đó là sự thu nhỏ của cách nhìn tinh
thần yêu thương, nổi bật là sự biến hóa bất ổn định của nữ tính, đặc biệt là
trong xã hội bậc cao, những người phụ nữ luôn lấy những trò chơi tiêu khiển để
tự làm vui bản thân, nếu như không chính là xuất phát từ trong nội tâm. Chiếc
xích đu cũng chính là vẻ đẹp cho điệu tình chân thực mà tiêu khiển nhẹ nhàng[1]
[1; 614]. Ý niệm phê bình tác phẩm của Hugh Honour hầu như đã tóm tắt được nội
dung cơ bản của câu chuyện ẩn ý sau bức tranh và tinh thần phục cổ, quan niệm
nghệ thuật vị nghệ thuật và nhân sinh rất cao xa.
Vấn đề bối cảnh và màu sắc trong tác phẩm cũng là yếu thẩm
mỹ quan trọng. Nhờ bối cảnh sau nhân vật, chủ thể chính trong bức tranh mà toàn
diện tác phẩm cho người thưởng lãm một cảm giác mơ mộng bay bổng. Màu xanh biến
chuyển của bối cảnh đem lại cảm giác thanh thản, thư giãn, nhưng chất chứa sự
huyền ảo của không gian sơ khai. Tán cây, vật – tượng bằng đá phía sau như sự đổ
nát của những sự cố định bất biến của một biến cố đã thành tan hoang. Cây cỏ
màu xanh tươi mới đã thay thế những di tích đó bằng tình yêu, sự đong đưa của
xích đu và tình cảm nam nữ tươi mới hòa phối với bối cảnh được phục sinh. Trên
nền thiên nhiên hình như mới được thiết lập, vẻ đẹp của tình yêu và con người hầu
như được tư nhiên giao phó, chủ đề tình yêu của bức tranh hài hoà với các chủ
thể chính, cái đẹp tự nhiên, sự khoái lạc, sự chuyển động trên nền thiên nhiên
cây cỏ tươi sắc màu, ánh sáng chiếu từ trên xuốn đất như hưởng ứng ủng hộ tình
yêu và sự giải trí tiêu khiển của con người.
2.2.
Thanh minh thượng hà đồ
của Trương Trạch Đoan (清明上河图, 张择端), Trung Quốc, Bắc Tống
2.2.1.
Mô tả tác phẩm
Thanh minh thượng hà đồ là tác phẩm được xem như
quốc bảo của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và của Đài Loan. Chính vì sự nổi tiếng
và giá trị thẩm mỹ của hội họa cổ điển mà chính tự thân tác phẩm hoặc các nhà
sưu tầm đã tự sao chép ra các phiên bản khác nhau. Phiên bản gốc của bức tranh
do chính danh họa Trương Trạch Đoan (1085-1145) vẽ và được lưu giữ tại Bảo tàng
Cố cung Bắc Kinh – Trung Quốc. Các phiên bản khác được phỏng tác vào đời nhà
Thanh (bản vẽ năm 1736) để hiến cống cho hoàng đế Đại Thanh Càng Long nay được
giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc (Đài Loan, Trung Hoa dân quốc).
Tên của tác phẩm được dịch có nghĩa là “bức họa
về tiết thanh minh trên sông”, mô tả cảnh sinh hoạt của thường dân và giới thượng
lưu xã hội Trung Quốc vào dịp tiết thanh minh. Bức tranh có tỷ lệ 24,8×528,7
cm, thể hiện trên chất liệu giấy Tuyên thành[2],
kỹ pháp công bút của hội họa thủy mặc trường phái chức năng, được bồi lụa dạng
trục biểu cuốn lại. Nhờ cách bảo quản này mà họa tác đã lưu giữ được qua nhiều
biến cố lịch sử, qua các nhà trung gian sưu tầm và còn nguyên vẹn đến ngày hôm
nay với hơn một nghìn năm tuổi. Chính đề tài thẩm mỹ trong lễ tiết truyền thống
của xã hội Trung Quốc xưa, Thanh Minh thượng hà đồ còn là nguồn cảm hứng bất tận
cho những sáng tác của các loại hình nghệ thuật khác. Nhiều bài hát, từ khúc,
thi ca của các văn nhân thi sĩ, kịch tác gia, nhạc sĩ đã phóng tác từ yếu tố
nghệ thuật của tác phẩm hội họa này.
2.2.2.
Nội dung thẩm mỹ
(1) Nghệ thuật sắp đặt bố cục
Hình thức cơ bản nhất của Thanh minh thượng hà đồ
đó là cách sắp đặt qui ước theo tỷ lệ. Nếu nhìn theo chiều dài của tranh, từ phải
sang trái (tả - hữu) rõ ràng họa tác được thiết kế theo điểm nhìn từ bờ vực
nông thôn, khung cảnh người chăn dắt gia súc. Trên lưng gia súc đang thồ hàng
theo con đường đất nhỏ để có thể đi đến phố thị ở phần trung tâm của tranh. Dần
dần theo hướng chuyển động sang cánh trái, quang cảnh làng mạc nhà thường dân lộ
diện, tiệm cận là phố thị và khung cảnh như “chợ nổi” vào tiết thanh minh nhộn
nhịp. Bố cục theo hình thức từ sơ – phức – hợp – kết của tranh thủy mặc truyền
thống, tuân thủ theo không gian của phép “thấu thị tẩu mã”[3].
Bố cục sắp đặt hài hòa trái phải cũng được tuân
thủ rất nghiêm ngặt. Tính thẩm mỹ của việc sắp đặt bố cục trong Thanh minh thượng
hà đồ rất được chăm chút một cách qui cũ. Không gian tầng bậc cho thấy bố cục
tranh sắp xếp theo hình chữ “thiên”[4],
hàm ý chứa đựng tư tưởng mỹ học về vũ trụ và sự cân đối: thiên nhân hợp nhất
theo tu tưởng của Đạo, hoặc “đạo pháp tự nhiên”[5], tức chỉ trời đất
và sự hợp nhất giữa con người. Trong bối cảnh một tiết thanh minh trên sông, cảnh
hợp chợ, từng tiểu tiết bố cục của quanh cảnh trên sông cũng được Trương Trạch
Đoan chú ý rất vi tế. Con thuyền, lão chài tay nâng giỏ cá và hình ảnh thuyền
buôn của các đại thương nhân cuối thời Bắc Tống neo đậu trên bờ ngạn. Ý và cảnh
nên thơ, nhịp sống của thường dân dưới chế độ phong kiến thịnh suy dần dần lộ
rõ.
Xét về yếu tố cảnh, Thanh minh thượng hà đồ có
giá trị hài hòa vẻ đẹp giữa con người và cảnh vật, thiên nhiên được miêu tả. Số
người và số vật trong tranh như quan sát thì tỷ lệ cân bằng với nhau, không
thiêng lệch. Không giống như trong tranh thủy mặc chủ đề hoa điểu[6],
tranh sơn thủy phong cảnh chù yếu đề cao tính cao nhã của vẻ đẹp không cảnh và
các đối tượng miêu tả trực tiếp như: núi (sơn), nước (thủy), mây (vân),cây cỏ
(thảo mộc). Tất cả hòa quyện theo trục ngang của điểm nhìn, ngoài ra cũng có
các điểm nhìn ngoại tuyến như, đối nghịch xen lẫn tromg tranh như: hướng di
chuyển của người vật trên các hà kiều, hàng quán hoạt dộng trên bờ sông, thương
nhân tiểu thương cùng hoạt náo trên cùng một khách điếm,...
(2) Bút pháp tuân thủ theo
triết học âm – dương tương đối
Cái đẹp của Thanh minh thượng hà đồ nhìn tử triết
học âm dương thể hiện ở hai vật thể đối nghịch nhau, nhưng không hoàn toàn phản
biện mà hỗ tương một cách đầy đủ, không đơn điệu.
Sự hô ứng của cảnh vật trong quanh cảnh lẫn các
cử chỉ con người, nhân vật trong họa tác phản ánh rõ nét điểm này. Chẳng hạn,
người trên thuyền hô, người trên bờ ngạn đáp. Thậm chí cử chỉ tay chân, hoạt
đông thao tác cũng rất nhịp nhàng và sinh động... đó chính là những tái hiện
theo qui tắc vận động của qui luật âm dương, chủ khách, gần xa,... của các
nguyên tắc cơ bản của thủy mặc cổ điển nào cũng phải tuân thủ.
Kiến trúc của các ngôi nhà, chòi tháp canh của
quan quân trong bức họa là một kiểu đề tài thuộc về nguyên tắc sáng tác hội họa
âm – hương hợp nhất. Tháp canh, hoặc các kỷ viện thanh lâu, các tòa nhà có lầu
cao trong họa tác đều tương đối với chiều cao của cây cối, không hơn kém. Mặt
chính diện của các tòa nhà đều được thể hiện nhìn ở hai mặt, tả - hữu và tiền –
hậu. Sự đối ngẫu này chính là yếu tố, phương thức sáng tác nghệ thuật cơ bản của
nền nghệ thuật cổ điển Trung Hoa. Tác giả Dư Huy (Trung Quốc) từng mô tả trong
nghiên cứu về kiến trúc trong Thanh minh thượng hà đồ: Nhìn vào các họa quyển kiến trúc đời Thanh,
trong đó các loại hình kiến trúc đồng dạng với kiểu nhà dân cư tứ hợp viện, khoảng
sân khá rộng và thoáng, mái nhà loang lổ khác nhau, đặc biệt là các kiểu thức tổ
hợp nhà dân không cùng sự đối xứng, như loại hình nhà chữ “thập” (十), chữ “công”
(工), chữ “ao” (凹) với hình thức
kiến trúc của một con dấu (triện ấn), còn thêm góc lầu chuyển điểm nhìn, cửa lầu
trong cách nhìn kiến trúc của thời nhà Tống điển hình là kiểu thức chữ “công” (工)[7][2; 128].
Như vậy, vẻ đẹp trong họa tác Thanh minh thượng
hà đồ còn thể hiện kỹ pháp tái hiện và mô phỏng kiến trúc, đúng với tinh thần của
mỹ học và thực dụng kiến trúc. Nhìn vào cách tái hiện của Trương Trạch Đoan,
các tòa nhà và kiến trúc xây dựng của Trung Hoa tuân thủ nghiêm ngặt theo hình
thức cấu tứ của chữ Hán và phong thủy. Từ đó cái đẹp cổ điển của tranh được
nhìn nhận từ góc độ ứng dụng và mô phỏng một cách mẫu mực.
(3) Tái hiện đa diện quang cảnh
và con người
Thế giới nhân vật trong Thanh minh thượng hà đồ
đa dạng và phức tạp. Từ nông dân, thương nhân, quan lại,bộ tứ “sĩ nông công
thương” và tầng lớp quan lại tăng lữ, kỹ nữ... đều được tái hiện chân xác và sống
động. Mỗi một nhân vật được vẽ với một sắc mặt, thái độ khác nhau, thể hiện bề
sâu tâm lý và sự hoạt náo vui vẻ bề ngoài. Thậm chí, động vật trong quanh cảnh
thanh minh trên sông ấy đều có sắc thái biểu cảm với hoàn cảnh, không cảnh và
thời gian tồn tại. Thậm chí, còn có các tài liệu ngoại biên không chính thống
còn cho rằng trong Thanh minh thượng hà đồ tồn tại 824 người, mỗi người đều
mang một danh tính nhất định, hàng quán, khách điếm trong quang cảnh theo chiều
dài ấy đều mang một bản hiệu kinh thương cố định. Các bữa ăn trong của khách
vãng lai đều được miêu tả chi tiết...
2.3. Tác phẩm Ngoại của Nguyễn Huy Thông
Tác phẩm Ngoại của họa sĩ Việt Nam hiện đại Nguyễn
Huy Thông hiện được lưu giữ tại bào tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, được vẽ
trên chất liệu lụa và màu nước.
Bức tranh mô tả nhân vật một bà cụ già đang ngồi
với ánh mắt nhìn xa xăm, khắc khổ trông ngóng. Hai phông màu chủ đạo trrong bức
tranh đó là trắng và đen, bối cảnh nâu ngả vàng.
Tác phẩm Ngoại của họa sị Nguyễn Huy thông với vẻ
đẹp đường nét, miêu tả chi tiết của các cơ hình thể của người phụ nữ lớn tuổi.
Kỹ thuật miêu tả ánh sáng và đường nét, cái nhìn của chủ thể đối với người tiếp
nhận. Ngoại trong tâm thức người dân Việt Nam, là người phụ nữ tảo tần, sớm hôm
nuôi dưỡng con cháu vì gia đình và tình yêu bao dung vô bờ bến. Hình ảnh người
bà với cái nhìn khắc khoải, thương cảm và mong chờ làm rung cảm và sống lại các
hồi ức về hình ảnh người bà trong tâm thức người con, cháu xa quê. Tuy chỉ với
phác họa màu nước, tác phẩm Ngoại vừa mang yếu tố thẩm mỹ về hình khối, vừa
mang giá trị tinh thần đậm nét về người bà tình cảm gia đình khó có thể quên.
Ngoài ra, trong cách nhìn sáng tác mỹ thuật hiện đại, tác phẩm Ngoại là sự độc
sáng về chủ đề nhân vật của các họa sĩ, sự kết hợp yếu tố ánh sáng, màu và hình
nét làm nên sự sáng tạo nghệ thuật riêng biệt của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
3.
Kết luận
Cái đẹp trong các tác phẩm hội họa cổ điển và hiện
đại phản ánh sự lưu giữ hình ảnh con người, thiên nhiên vũ trụ. Đồng thời cái
nhìn mỹ học trong tranh cũng là cách nhìn tôn thờ tự nhiên qua các hình thái ý
thức nghệ thuật và đời sống xã hội. Tranh lưu giữ giá trị nhất thời của thời đại
mà họa sĩ sáng tác, nhưng những tiếng đồng vọng của nó còn mãi ngân vang với hậu
thế. Trường hợp tác phẩm hội họa cổ điển The Swing và Thanh minh thượng hà đồ
là cái đẹp cổ điển, kỹ pháp sáng tác cổ điển mẫu mực đã làm giá trị bất biến của
tác phẩm. Tác phẩm Ngoại trong cái nhìn hiện đại là tác phẩm điểm tô, gợi nhớ về
cái đẹp của hình ảnh người bà, tình cảm thân thương với những con người đã và
đang còn “ngoại” theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Giá trị thẩm mỹ trong tranh và giá trị nghệ trong bộ
ba tác phẩm hội họa trên đã minh chứng sức sống của nghệ thuật với thời gian, với
công chúng và những người tiếp nhận cái đẹp.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Anh:
|
|
1
|
Hugh Honour, John Fleming, A World History
of Art, Laurence King Publishing, 2005.
|
Tiếng Trung Quốc:
|
|
2
|
余 辉, 张择端《清明上河图》卷新探, 故宮博物院院刊
2012年第5期・ 第163期.
|
Tranh sử dụng trong bài viết (quét mã QR để
xem tranh)
![]() |
![]() |
![]() |
The
swing
|
Thanh minh thượng hà đồ
|
Ngoại
|
[1] Nguyên văn tiếng anh: Had been given much more explicit expression
five years earlier in The Swing (14.7). A woman on a swing was an established motif
in French Rococo art, especially in paintings of fètes galantes, those poetic
celebrations of the aristocratic life of leisure, Children were occasion- ally
shown enjoying the pastime, very infrequently men. Women and girls monopolized
it and the swing soon acquired further connotations. It seemed to epitomize the
pleasure- loving, licentious spirit of the ancien régime and in particular the
fickleness and inconstancy ascribed to women, especially in hiigh society,
their teasing changes of mind if not of heart in the perpetual to-and-fro game
of light- hearted, feet-off-the-ground flirtation [p.614]. Đoạn văn trên, chúng
tôi chủ yếu chuyển dịch từ nguyên văn phiên bản tiếng Trung Quốc, sách cùng loại.
[2] 宣城纸Giấy Tuyên thành hay giấy
Tuyên, một loại giấy truyền thống của Trung Quốc dùng sử dụng trong viết chữ vẽ
tranh và in ấn.
[3] Thấu thị tẩu mã (透视走马) điểm nhìn hình dung từ
lưng ngựa chạy, tức phép chuyển dịch
nhìn theo chiều ngang (hoành thị).
[4] Chữ thiên天, bao gồm ba hình bàng
gáp lại: hình bàng nhân và bộ nhị, gồm thiên địa và nhân, chỉ cõi vũ trụ.
[5] Lão Tử, Đạo đức kinh, chương 32.
[6] Hoa điểu: tranh thủy mặc
miêu tả các loài hoa, cây cối và chim muông và cả động vật. Gọi chung là hoa điểu.
[7] Dịch từ nguyên văn tiếng Trung Quốc: 俯瞰《清》卷中的建筑,其中类同四合院式的民居、庭院颇为别致,屋顶错落有致,特别是各种不同类型的对称式民房的组合群,如“十“字形、“工”字形、“凹”字形和“一颗印”形等建筑,还有转角楼、门楼和宋代典型的工字殿等. Sđd, trang 128.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét