Văn bản Hán Nôm trong sách và các bài giảng hiện hành được giới thiệu đầy
đủ và chi tiết về các vấn đề lý thuyết quan trọng cho quá trình giảng dạy lý
thuyết của giảng viên. Trong đó các văn bản thực hiện cho giờ tự học và các câu
hỏi ở mỗi sau bài học chính là tiền đề hướng dẫn cho sinh viên thực hiện được
giờ tự học sau giờ học lý thuyết trên lớp. Để thực hành tốt các vấn đề tự học
sau mỗi giờ học này, trong quá trình tiếp thu kiến thức trên lớp, sinh viên cần
lưu ý các điểm lý thuyết quan trọng từ giảng viên. Trong đó, cần tập trung chú
ý đến các cách giải nghĩa văn bản, các hình thức kiến giải thuật ngữ theo xu hướng
nào và cần nhất vẫn là sự ghi chép tỉ mĩ để nhằm hệ thống hóa kiến thức.
Học qua việc mô phỏng này nhằm hướng đến cho sinh viên một thói quen tập trung vào các điểm trọng yếu mà giảng viên đã
giới thiệu trên lớp. Nhất là đối với học phần Hán Nôm, thực chất giờ học trên lớp
chính là cơ hội để người học, sinh viên và giảng viên trao đổi và truyền đạt –
tiếp thu nhanh nhất. Thí dụ, trong giờ học lý thuyết, khi giảng viên hướng dẫn
các cách viết chữ Hán theo qui tắc bút thuận, sinh viên phải là người chủ động
theo dõi và luyện tập theo cách viết thống nhất mà giảng viên đã hướng dẫn. Nếu
trong quá trình theo dõi đó sinh viên không thể theo dõi kịp thì có thể yêu cầu
giảng viên mô phỏng lại cách viết như thế nào. Bởi trong cách viết chữ Hán –
Nôm khi thực hành viết chữ để ghi nhớ chữ, buột người học phải thực hiện đúng
theo qui tắc viết bút thuận của chữ. Có như vậy thì khi thực hiện quá trình tự
học, người học dần rèn luyện cho mình khả năng tự ghi chép theo cách thức mà giảng
viên đã hướng dẫn.
Ngoài ra, khi giảng viên hướng dẫn các vấn đề về nội dung văn bản, ý
nghĩa văn bản Hán Nôm trong giáo trình và bài giảng, sinh viên có thể trao đổi
tương tác trực tiếp với giảng viên về các vấn đề còn tồn nghi hay bản thân chưa
lĩnh hội đầy đủ. Từ đó, tự rút ra cho mình cách hiểu phù hợp nhất với năng lực
cảm thụ giá trị của tác phẩm. Thật sự, trong các văn bản Hán Nôm trong học phần
Hán Nôm, giá trị tư tưởng của tác phẩm chứa đựng rất lớn và đa dạng các phương
diện. Hán văn cơ sở ngoài nội dung giới thiệu và các phần viết chữ Hán, lịch sử
và cấu tạo cũng như đặc điểm của chữ Hán thì phần nội dung
minh
giải văn bản Hán văn (Hán văn Việt Nam) đã được biên soạn phù hợp với chương
trình học tập trong chuyên ngành. Đó là nền tảng xây dựng nên kiến thức ban đầu
để sinh viên dần dần làm quen với hệ thống kiến thức văn học viết Việt Nam thời
trung đại. Khi tiếp cận các văn bản này, sinh viên sau khi hoàn thành giờ học
lý thuyết và cộng với sự ghi chép có thể lập bảng hệ thống kiến thức sau mỗi
bài. Trong đó có thể hệ thống về các chữ Hán mới, khó nhớ nhiều nét, hệ thống về
các chức năng ngữ pháp của hư từ Hán, thành ngữ gốc Hán và nội dung – chủ đề của
văn bản. Chúng tôi thử thiết lập một bảng hệ thống kiến thức từ văn bản “Khán thiên gia thi hữu cảm - 看千家詩有感” [Tạ Đức Tú,
2016] của Hồ Chí Minh sau được dựa vào việc mô phỏng đơn giản bài học lý thuyết
sẵn có trong bài giảng Hán văn cơ sở như sau.
Chữ Hán
nhiều nét Từ Hán Việt dễ nhớ Hư từ Tóm tắt ý nghĩa
詩 –
thi 愛 – ái 應 - ứng 鐵– thiết
會 – hội 衝– xung
鋒–
phong
古詩 – cổ thi
天然 – thiên nhiên
山 – sơn; 水 – thủy; 煙
– yên; 花 – hoa; 雪–
tuyết; 月 - nguyệt; 風– phong
也–
dã
Chức năng của nhà thơ
trong quá trình sáng tác phải đáp ứng tinh thần của thời đại. Thơ xưa hay mô tả
cảnh thiên nhiên; thơ ngày nay cần phải có sự cộng hưởng với nhà thơ với tinh
thần xung phong
Bảng 13: Minh họa phương pháp hệ thống kiến thức
văn bản Hán Nôm sau giờ học lý thuyết
Ngoài phương pháp tự hệ thống kiến thức sau mỗi chuỗi văn bản, sinh viên
có thể tham khảo thêm các văn bản được giảng viên giới thiệu trong bảng đề
cương học phần. Đó là những tài liệu tham khảo rất đáng tin cậy và cung cấp rất
nhiều kiến thức bổ trợ cho văn bản chính trong bài giảng. Sinh viên có thể tự cập
nhật về kiến thức Hán Nôm qua internet hay các tạp chí chuyên san về Hán – Nôm hay các blog nhóm, hệ thống từ điển
trực tuyến hướng dẫn dạy học chữ Hán –
Nôm miễn phí. Từ đó có thể vận dụng vào việc tìm hiểu, đọc kỹ bài giảng trước
khi đến lớp cũng là phương cách hữu hiệu nhất.
1.1.1.1.
Các
phương pháp tự học chữ Hán – Nôm hiệu quả
Phương pháp tự học chữ Hán chính là những phương thức, cách thức tự
nghiên cứu, tự tiếp thu chữ Hán theo nhiều dạng thức: viết chữ Hán, làm quen với
âm đọc Hán Việt và giải thích nghĩa của chữ. Nói gọn hơn, chính là qui tắc tự học
làm quen với chữ Hán qua ba điểm: hình – âm – nghĩa. Chúng tôi trên cơ sở
nghiên cứu về qui tắc tạo chữ trong chữ Hán, cấu trúc hình thể của chữ Hán và
chữ Nôm để đề ra một số phương thức, tiếp cận và làm quen với chữ Hán – Nôm.
1.1.1.1.1.
Phương
pháp ghi nhớ bộ thủ
Bộ
thủ là một thành phần rất quan trọng trong việc học và ghi nhớ chữ Hán. Bộ thủ
“chính là tập hợp những chữ có thành phần
tương đồng vào một bộ trong tự điển” và “bộ thủ biểu thị một loại lớn, những tự điển thông thường có hơn hai
trăm bộ thủ, những bộ thủ này đại diện cho hơn hai trăm sự vật, mỗi loại sự vật
đều ba gồm rất nhiều sự vật cụ thể, cho nên hơn hai trăm bộ thủ cụ thể này có
thể thống lĩnh hàng vạn chữ Hán” [8; 77]. Phương pháp ghi nhớ bộ thủ trong
chữ Hán có lợi thế giúp cho quá trình tri nhận chữ Hán trở nên đơn giản hơn và
cụ thể. Giúp cho quá trình đoán nghĩa chữ Hán trở nên nhanh chóng hơn nhờ vào
việc nắm bắt được ý nghĩa tượng hình từ bộ thủ chữ Hán.
Theo Hàn Giám Đường (Trung Quốc), chữ Hán được chia làm hai loại đơn thể
và hợp thể. Những chữ đơn thể bản thân nó đã hàm chứa bộ thủ sẵn có cấu thành
chữ và mang âm đọc nhất định, chẳng hạn như: 木 mộc; 羊 dương; 手 thủ; 竹 trúc; 目mục; 言
ngôn;
口 khẩu; 心 tâm,... Vì vậy, việc ghi nhớ các chữ này trở nên đơn giản và bộ thủ
cũng chính là chữ Hán. Từ đó, chúng ta suy ra các chữ Hán hợp thể, hình thể phức
tạp gồm nhiều các bộ thủ cấu thành và chữ Hán làm âm thanh. Và từ một chữ Hán
có chung bộ thủ, ta có thể học và ghi nhớ được nhiều chữ cùng một lúc có cùng bộ
thủ biểu thị ý nghĩa.
Từ một thủ đơn giản biểu
thị ý nghĩa:
·
Bộ “thảo”
(艸)
|
草
Thảo>cỏ
|
花
Hoa >hoa
|
菜
Thái>rau
|
菊
Cúc>hoa cúc
|
茶
Trà>trà
|
萬
Vạn>mười ngìn
|
葉
Diệp>lá
|
|||||
|
·
Bộ
|
“môn” (門)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
門 間
|
問
|
聞
|
悶
|
|
閒
|
|
闖
|
閣
|
閡
|
閭
|
|
|
Môn> Gian
|
Vấn
|
Văn
|
Muộn>
|
Nhàn>
|
Sấm>xông
|
Các
|
Ngại
|
Lư>
|
|||
|
cửa >khoảng
|
>hỏi
|
>nghe
|
buồn
|
|
rãnh
|
|
(vào)
|
>gác
|
>vùi
|
cổng
|
|
Bộ thủ trong chữ Hán biểu thị một lượng ý nghĩa tượng hình rất lớn, nhờ
vào bộ thủ chữ Hán – Nôm mà người tìm hiểu, tiếp xúc với văn bản Hán – Nôm có
thể truy ra được nghĩa, cấu tạo và hài thanh cách đọc. Học và ghi nhớ chữ Hán bằng
phương pháp ghi nhớ các bộ thủ cũng nhằm giúp tối ưu hóa việc tri nhận chữ viết
trong thời gian đầu tiếp xúc với học phần. Dần dần, vốn chữ Hán và việc ghi nhớ
âm Hán Việt tăng dần và bản thân người học có thể tự phân biệt được các cụm từ,
từ chữ Hán có kết cấu âm đọc đồng âm, khác nghĩa.
Đối
với chữ Nôm, trong kết cấu tiểu loại của chữ Nôm gây không ít khó khăn cho người
học, bởi các cấu tạo phức tạp từ việc ghép nối nhiều bộ thủ và các chữ Hán lại
với nhau tạo nên một thực thể nhiều nét, phức tạp. Theo tác giả Nguyễn Ngọc
San, chức năng bộ thủ trong chữ Nôm “nhưng
trong loại chữ hình thanh, bộ thủ cũng chỉ có giá trị biểu ý lúc ban đầu. Về
sau, một chữ được dùng chung cho nhiều từ và một từ phát triển thành nhiều
nghĩa thì bộ thủ chỉ có giá trị biểu ý trong lĩnh vực từ nguyên” [15;75].
Nhưng cũng nhờ vào đặc điểm biểu thị ý nghĩa mà chúng ta có thể ghi nhớ chữ Nôm
nhanh chóng. Chúng tôi thử mô phỏng một số ví dụ sau về việc ghi nhớ bộ thủ
trong chữ Nôm.
·
Bộ
khẩu 口
|
喃
|
哪
|
囉
|
吒
|
𠰌
|
𠺺
|
|
nôm
|
na
|
là
|
cha
|
mách
|
qué
|
|
·
Bộ nữ 女
|
|
|||
|
𡛔
|
|
㜥
|
娘
|
|
|
gái
|
|
mái
|
nàng
|
|
|
·
Bộ nhục 月(肉)
|
|
|
|
|
|
䏧
|
|
䏦
|
𦢶
|
𦝬
|
|
da
·
Bộ thủ 手
|
|
thịt
|
đùi
|
ruột
|
|
𢬣
|
𢯦
|
|
𢭯
|
|
|
tay
|
lay
|
|
quét
|
|
- Phân biệt chữ đồng âm, cận âm trong chữ Nôm nhờ vào quan sát bộ thủ cấu
tạo:
𠄼 𢆥 箇 𩵜 臞 鴝
Năm
>số 5
Năm
>năm
tháng
Cá
>cá nhân
Cá
>con
cá
Gù
>gật gù
Gù
>chim
bồ câu
Bộ thủ
五(ngũ) 年(niên) 竹(trúc) 魚(ngư) 月(nhục) 鳥(điểu)
- Phân biệt được chữ Hán đồng âm sau qua việc tra ra hình dạng của chữ viết, trong khi đó viết bằng chữ Quốc ngữ thì ta khó có thể phân biệt nghĩa và phải phụ thuộc vào văn – ngữ cảnh trong văn bản.
清 聲 青
Số nét, bộ thủ
11
nét, bộ 氵(thủy) 17 nét, bộ 耳(nhĩ) 8 nét, bộ 青(thanh)
Thanh> trong
âm Hán Việt
Thanh>màu xanh
/qīng/ /sheng/ /qīng/ Bảng 14: Phân biệt chữ Hán đồng âm
Tuy các chữ Nôm trên đây thuộc cấu tạo chữ biểu âm và bộ thủ biểu ý,
nhưng trong đó nếu người học nắm được các qui tắc tạo chữ từ bộ thủ sẽ giúp cho
việc thực hành bài tập sáng tạo chữ Nôm đạt được hiệu quả tốt hơn. Từ đó, giúp
cho việc ghi nhớ bộ thủ làm chức năng tạo ý trong một bộ phận chữ Nôm và chức
năng tạo nghĩa trong chữ Hán là rất lớn.
Hiệu quả sử dụng và ghi nhớ bộ thủ góp phần cho quá trình tri nhận chữ Hán được
nhanh chóng và dễ hiểu và kỹ năng tra từ điển cũng được cải thiện.
1.1.1.1.2. Phương pháp “chiết tự”
Một phương pháp khác, khá phổ biến và mang nhiều ý nghĩa văn chương hơn,
đó là phương pháp “chiết tự”. Thực sự đây là một trong những cấu tạo của Lục
thư trong chữ Hán, giúp người tiếp nhận văn bản Hán Nôm có thể hiểu rõ sâu hơn
về ba phương diện: hình – âm – nghĩa của chữ, và từ đó có thể nắm được nghĩa
khái quát của cả văn bản. Trong bài giảng “Hán
văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú đã dẫn ra phương pháp học này trong bài thơ
“Chiết tự” của Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Qua đó, người học chữ Hán nền tảng cơ
sở sẽ hiểu sâu hơn về kết cấu và diễn biến cấu tạo của chữ Hán qua phương pháp
chiết tự. Từ một chữ Hán đơn hay hợp thể cơ sở, kết hợp thêm với một bộ thủ để
hàm ý chuyển sang một nét nghĩa mới hay chuyển thành tố âm đọc sang một dị âm
khác – cũng nhằm vào trong tính chất đa âm của chữ Hán.
Thí dụ
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm
折字
(1)
囚人出去或為國,
(2) 患過頭時始見忠。
Chiết tự
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc, Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung; Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
(3)
人有憂愁優點大,
(4) 籠開竹閂出真龍。
Lung
khai trúc sản, xuất chân long.
[18; 46]
Trong bài thơ “Chiết tự”, phương thức tách chữ, thêm chữ hoặc thêm bộ kiện,
bộ thủ được diễn biến trong các chữ đầu dòng thơ và chữ cuối cùng mỗi dòng thơ
chính là thành quả của quá trình tách – chiết chữ đó. Ta có:
Dòng (1), chữ nhân sau khi bỏ chữ đi chữ
nhân trong bộ vi thêm chữ hoặc thành chữ quốc. Dòng (2), chữ hoạn sau khi bỏ đi
một bộ khẩu thành chữ trung (trung thành).
Dòng (3), chữ nhân thêm một
nét ngang thành chữ đại.
Dòng (4), chữ lung bỏ đi bộ trúc trên đầu còn lại chữ long (rồng).
Chiết
tự còn có một số hình thức khác để giúp cho việc học chữ Hán thú vị hơn. Chiết
tự gồm chiết tự về hình thể chữ, chiết tự về âm đọc và một số hình thức chơi chữ
bằng phương pháp chiết tự.
- Chiết tự về mặt hình thể chữ:
來 Lai – đến Hai người đứng quanh một gốc cây: chữ mộc
木 (cây) và hai chữ nhân 人(người)
坐 Tọa – ngồi Hai người cùng ngồi trên đất: chữ thổ 土 (đất)
và hai chữ
nhân 人 (người)
和 Hòa – hòa hợp Đại ý chỉ người và lương thực là hai hòa
hợp với nhau, nuôi dưỡng nhau: Bộ hòa
禾(cây lúa) và chữ khẩu 口(miệng)
明 Minh – sáng Ánh sáng của thái dương và mặt trăng
là ánh sáng nhất của vũ trụ: chữ nhật 日(mặt trời) và chữ nguyệt
月(mặt trăng)
東 Đông –
phía đông
Mặt trời mọc xuyên qua hàng cây tức chỉ phía đông vào buổi sáng: mộc 木 (cây)
và chữ nhật 日 (mặt trời)
看 Khán – xem Cánh tay che mắt để quan sát: chữ thủ 手 (tay)
và bộ mục 目
(mắt)
秋 Thu – mùa thu Dùng lửa để đốt đồng lúa sau thu hoạch: bộ
hòa 禾 (lúa) và chữ hỏa 火(lửa)
愁 Sầu – buồn Tâm trạng (心) thường buồn vào mùa thu (秋): bộ tâm 心và
chữ thu 秋
閒 Nhàn – rảnh rỗi Ngắm trăng đi qua cánh cửa: bộ môn 門 (cửa)
và chữ nguyệt
月 (trăng)
- Chiết tự về âm đọc:
Chiết tự về mặt hình thể âm đọc là phương pháp gọi tên từng chữ và bộ thủ
trong chữ Hán bằng một câu thơ, thành ngữ hay một câu nói cửa miệng, chính xác
hơn là một hình chơi chữ thành thơ để vừa ghi nhớ chữ Hán và làm thú chơi bác học.
Chúng tôi sưu tầm được một số ví dụ sau:
德– đức Chim
trích mà đậu cành tre, (bộ xích )
Thập (十) trên tứ
(四)dưới nhất (一) đè chữ tâm (心)
章– chương Chữ lập (立) mà đập chữ viết
(曰), chữ viết đập chữ thập (十)
想– tưởng Tựa cây (木) mỏi mắt chờ mong (目)
Người xa nơi ấy trong lòng (心) nhớ ai
時– thời Mặt trời (日) xế đã về
chùa (寺)
安– an Cô (女)kia đội nón
chờ ai (宀)
Hay cô an phận đứng hòai thế cô
始– thủy Con gái (女) mà đứng
éo le
Chồng con chưa có kè kè mang thai (台)
- Một số hình thức chơi chữ Hán chiết tự:
Chữ 天“thiên”
và chữ 夫“phu”; chữ 了“liễu” và chữ 子“tử”
trong câu thơ của Hồ Xuân Hương:
Duyên
thiên chửa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao đành nảy nét ngang.
Giải thích:
chữ thiên 天 nếu chừa nét dư bên trên thành chữ phu 夫 là chồng; chữ liễu 了
nếu thêm nét ngang thành chữ tử 子 là con.
Chiết tự theo lối thơ ca trong cách diễn
đạt từ hình thể ban đầu của một chữ tiếp nối với các bộ thủ để tạo thành chữ mới:
市在門前鬧月來門下閒
Thị tại môn tiền náo, Nguyệt lai môn hạ nhàn
An nữ khứ thỉ nhập vi
gia,
Sơn thạch nham tiền cổ
mộc khô
Chữ thị 市
(chợ) đặt trong chữ
môn 門 (cửa) thành chữ náo 鬧
(ồn),
Chữ nguyệt 月(trăng)
để trong chữ
môn 門(cửa)
thành chữ nhàn 閒
八刀分米粉千里重金鍾
Bát đao phân mễ phấn, Thiên lý trọng kim chung
Chữ bát 八 ghép trên chữ đao 刀thành
chữ phân 分 ; Chữ thiên 天ghép trên chữ lí 里 thành chữ
trọng 重 , đặt bộ kim 金 bên
trái thành chữ chung 鍾.
囚人出去或為國患過頭時始見忠
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc, Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung
chữ nhân 人sau khi bỏ chữ đi chữ nhân trong bộ vi 囗 thêm chữ hoặc 或 thành chữ quốc 國 ; chữ
hoạn 患 sau khi bỏ đi một bộ khẩu 口thành chữ trung 忠(trung thành).
Bảng 15: Minh họa một
số ví dụ về chơi chữ theo phương pháp “chiết tự”
Tóm lại, phương pháp “chiết tự” là một trong những phương pháp học chữ
Hán vừa thú vị và giúp giải tỏa đi những rắc rối và phức tạp của chữ Hán. Từ đó
giúp cho việc giản đơn hóa việc ghi nhớ chữ Hán, từ một chữ có kết cấu phức tạp
chúng ta có thể tách chiết thành các bộ thủ và các chữ đơn thể và ghi nhớ bằng
cách ghép từng bộ và chữ lại với nhau theo qui tắc nhất định. Từ đó, sau một
khoảng thời gian sinh viên có thể hệ thống lại những chữ Hán – Nôm đã học và tự
ôn tập lại sau mỗi bài học. Như vậy, sau khi hoàn thành học phần sinh viên qua
sự mài giũa kiên trì học tập chữ Hán sẽ có một vốn chữ Hán phong phú góp phần tạo
nền tảng cho việc đăng ký học phần Hán văn nâng cao hay chữ Nôm.
1.1.1.1.3.
Phương
pháp ghi nhớ chữ “tượng hình” và “hội ý”
Tượng hình là một trong sáu cách thức tạo chữ Hán mà Hứa Thận đã dày công biên soạn và tập hợp trong “Thuyết văn giải tự”. “Tượng hình là loại chữ mô tả lại hình tướng cụ thể của vật thật thông qua nét vẽ mang tính biểu trưng” [18; 14]. Như thế, nếu trong quá trình học chữ Hán sinh viên có thể bắt đầu việc ghi nhớ chữ Hán từ phương pháp Lục thư như bài giảng Hán văn cơ sở đã trình bày thì quá trình tri nhận chữ từ đơn giản đến phức tạp diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Chúng tôi có một số minh họa đơn giản sau về chữ tượng hình.
木 山 川 女 羊 門
Mộc Sơn Xuyên Nữ Dương Môn
Tượng hình cho cây cối, sự vật bằng gỗ
Tượng hình cho ngọn núi “ba đỉnh”
Tượng hình cho dòng sông và lưu vực
Tượng hình cho người con gái
Tượng hình cho con dê; các
con vật thuộc họ dê
Tượng hình cho cánh cửa
Bảng 16: Mô phỏng một
số chữ Hán tượng hình cơ bản
Một số ví dụ điển hình đơn giản khác:
|
竹
|
刀
|
漁
|
雨
|
田
|
|
Trúc>tre
|
Đao>dao
|
Ngư>cá
|
Vũ>mưa
|
Điền>ruộng
|
Khi đã nắm
được một số lượng chữ Hán tượng hình cơ bản, sinh viên có thể vận dụng vào việc
phân tích hình thể và bộ thủ của chữ để làm rõ và hiểu cặn kẽ được ý nghĩa tượng
hình trong mỗi bộ thủ chữ Hán. Bởi bộ thủ và chữ tượng hình biểu thị một lượng
lớn thông điệp từ quá trình diễn biến hình thể của chữ Hán rất giàu ý nghĩa.
Ngoài ra,
chữ tượng hình trong chữ Hán còn có một đặc điểm đó là dễ ghi nhớ hình thể và âm đọc. Nếu như kiên trì và cần mẫn,
người học có thể tự mày mò nghiên cứu thông qua diễn biến hình thể của chữ Hán
qua tài liệu “Tìm về nguồn cội chữ Hán”
漢 字溯源, của tác giả Lý Lạc Nghi 李樂毅 (Trung Quốc), nhà xuất bản Thế Giới năm 1998 hiện
đang lưu tại thư viện – trung tâm học liệu của Trường Đại học Cần Thơ. Trong đó,
tác giả Lý Lạc Nghi trình các
hình thể tượng hình của các chữ Hán phổ biến từ trong chữ tượng hình và qua quá
trình biến đổi của Triện văn và dần hình thành đến chữ Khải sau này. Theo dõi
được quá trình hình thành và biến đổi này, sinh viên khi học và ghi nhớ chữ Hán
sẽ tạo được niềm đam mê và khám phá chữ Hán. Từ đó tạo nên niềm say mê hứng thú
trong việc tiếp thu kiến thức từ bài giảng và tự học tự thực hành các văn bản
Hán Nôm tạo nên sự trau dồi kiến thức
không bị gián đoạn.
Chữ Hán hội ý là một dạng
chữ gồm “hai hoặc vài chữ tượng hình để tạo
thành một chữ mới, biểu thị một ý nghĩa hoàn toàn mới” [8; 62]. Theo tác giả
Hàn Giám Đường, chữ hội ý gồm hai loại: chữ hội ý đồng thể và dị thể. Theo đó,
ta có một số phương pháp ghi nhớ chữ Hán hội ý theo các bộ phận cấu thành từ bộ
thủ biểu thị ý nghĩa bằng phương thức liên hội ý nghĩa với nhau. Sau đây là một
vài ví dụ minh họa:
·
Chữ
Hội ý đồng thể
-
林lâm là rừng,
do hai chữ mộc 木tạo thành. Tức có nhiều cây sẽ thành rừng. (山林sơn lâm,林儒lâm nho)
-
森 sâm
là rừng rậm rạp, do ba chữ mộc tạo thành, biểu thị quần thể số lượng lớn.
(萧森 tiêu sâm,森立 sâm lập)
-
北 bắc là hướng bắc, hai bộ
nhân quay ngược hướng biểu thị sự đối chiều giữa hai hướng Bắc Nam. (北方bắc phương,北部bắc bộ,台北đài bắc)
-
众 chúng
là đông hay nhiều người, do ba chữ nhân tạo
thành. Tức chỉ số đông.
(众生 chúng sinh,众民 chúng dân)
-
化 hóa
là biến đổi, do hai bộ nhân trên dưới đảo ngược vị trí, biểu thị sự thay đổi.
(變化 biến hóa,化學 hóa học,仁化 nhân hóa,全球化 toàn cầu hóa)
·
Chữ
Hội ý dị thể
-
雷 lôi là sấm sét, do bộ vũ
雨 là mưa kết hợp với chữ điền 田 là ruộng – tức chỉ sấm sét xuất hiện trên đồng ruộng.
-
義nghĩa là nghĩa tình, do chữ dương 羊là dê với chữ ngã 我là bản thân con người ý chỉ sự cúng tế và phụng sự cho
con người.
-
喃 nôm là chữ
của người Việt, do chữ nam
南 và bộ khẩu 口đại ý nói
rằng chữ và tiếng nói của người phương nam là chữ Nôm.
-
悶 muộn – phiền, do bộ môn 門và chữ tâm 心 , đại ý chỉ tấm lòng
buồn rầu trong cánh cửa khép lại.
-
好 hảo – tốt,
do chữ nữ 女 và chữ tử 子 , tức chỉ người con
gái sinh con được con trai là tốt.
-
性tính – tính tình,
do bộ tâm và chữ sinh, tức tâm sinh tính.
-
伏phục – phục
vụ, bộ nhân và chữ khuyển, tức chỉ
con người thuần phục loài vật.
Phương
pháp ghi nhớ chữ Hán bằng cách học chữ tượng hình và hội ý nhằm giúp kích thích
hứng thú cho sinh viên trong việc tìm hiểu về nguồn cội của chữ Hán cũng như
quá trình diễn biến hình thể của chữ Hán qua chữ tượng hình. Từ đó, những câu
chuyện về bí mật của chữ Hán dần dần hé lộ. Chữ hội ý giúp cho sinh viên gia
tăng được trí tò mò và say mê trong việc phân tích cấu tạo của chữ và dùng
chính kiến thức và tư duy của mình để giải thích ý nghĩa của chữ dựa vào sự kết
hợp ý nghĩa của phương pháp này.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét