Thứ Ba, 23 tháng 6, 2020

VÀI SUY NGHĨ XUNG QUANH VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC CHỮ HÁN VÀ CHỮ NÔM


Văn bản Hán Nôm trong sách và các bài giảng hiện hành được giới thiệu đầy đủ và chi tiết về các vấn đề lý thuyết quan trọng cho quá trình giảng dạy lý thuyết của giảng viên. Trong đó các văn bản thực hiện cho giờ tự học và các câu hỏi ở mỗi sau bài học chính là tiền đề hướng dẫn cho sinh viên thực hiện được giờ tự học sau giờ học lý thuyết trên lớp. Để thực hành tốt các vấn đề tự học sau mỗi giờ học này, trong quá trình tiếp thu kiến thức trên lớp, sinh viên cần lưu ý các điểm lý thuyết quan trọng từ giảng viên. Trong đó, cần tập trung chú ý đến các cách giải nghĩa văn bản, các hình thức kiến giải thuật ngữ theo xu hướng nào và cần nhất vẫn là sự ghi chép tỉ mĩ để nhằm hệ thống hóa kiến thức.
Học qua việc mô phỏng này nhằm hướng đến cho sinh viên một thói quen tập  trung vào các điểm trọng yếu mà giảng viên đã giới thiệu trên lớp. Nhất là đối với học phần Hán Nôm, thực chất giờ học trên lớp chính là cơ hội để người học, sinh viên và giảng viên trao đổi và truyền đạt – tiếp thu nhanh nhất. Thí dụ, trong giờ học lý thuyết, khi giảng viên hướng dẫn các cách viết chữ Hán theo qui tắc bút thuận, sinh viên phải là người chủ động theo dõi và luyện tập theo cách viết thống nhất mà giảng viên đã hướng dẫn. Nếu trong quá trình theo dõi đó sinh viên không thể theo dõi kịp thì có thể yêu cầu giảng viên mô phỏng lại cách viết như thế nào. Bởi trong cách viết chữ Hán – Nôm khi thực hành viết chữ để ghi nhớ chữ, buột người học phải thực hiện đúng theo qui tắc viết bút thuận của chữ. Có như vậy thì khi thực hiện quá trình tự học, người học dần rèn luyện cho mình khả năng tự ghi chép theo cách thức mà giảng viên đã hướng dẫn.
Ngoài ra, khi giảng viên hướng dẫn các vấn đề về nội dung văn bản, ý nghĩa văn bản Hán Nôm trong giáo trình và bài giảng, sinh viên có thể trao đổi tương tác trực tiếp với giảng viên về các vấn đề còn tồn nghi hay bản thân chưa lĩnh hội đầy đủ. Từ đó, tự rút ra cho mình cách hiểu phù hợp nhất với năng lực cảm thụ giá trị của tác phẩm. Thật sự, trong các văn bản Hán Nôm trong học phần Hán Nôm, giá trị tư tưởng của tác phẩm chứa đựng rất lớn và đa dạng các phương diện. Hán văn cơ sở ngoài nội dung giới thiệu và các phần viết chữ Hán, lịch sử và cấu tạo cũng như đặc điểm của chữ Hán thì phần nội dung


minh giải văn bản Hán văn (Hán văn Việt Nam) đã được biên soạn phù hợp với chương trình học tập trong chuyên ngành. Đó là nền tảng xây dựng nên kiến thức ban đầu để sinh viên dần dần làm quen với hệ thống kiến thức văn học viết Việt Nam thời trung đại. Khi tiếp cận các văn bản này, sinh viên sau khi hoàn thành giờ học lý thuyết và cộng với sự ghi chép có thể lập bảng hệ thống kiến thức sau mỗi bài. Trong đó có thể hệ thống về các chữ Hán mới, khó nhớ nhiều nét, hệ thống về các chức năng ngữ pháp của hư từ Hán, thành ngữ gốc Hán và nội dung – chủ đề của văn bản. Chúng tôi thử thiết lập một bảng hệ thống kiến thức từ văn bảnKhán thiên gia thi hữu cảm - 看千家詩有感” [Tạ Đức Tú, 2016] của Hồ Chí Minh sau được dựa vào việc mô phỏng đơn giản bài học lý thuyết sẵn có trong bài giảng Hán văn cơ sở như sau.

Chữ Hán nhiều nét        Từ Hán Việt dễ nhớ         Hư từ          Tóm tắt ý nghĩa

 



– thi – ái - ứng thiết – hội – xung
– phong



古詩 – cổ thi
天然 – thiên nhiên
sơn; thủy;
–  yên; hoa;
tuyết; - nguyệt; – phong

– dã

Chức năng của nhà thơ trong quá trình sáng tác phải đáp ứng tinh thần của thời đại. Thơ xưa hay mô tả cảnh thiên nhiên; thơ ngày nay cần phải có sự cộng hưởng với nhà thơ với tinh thần xung phong



 
Bảng 13: Minh họa phương pháp hệ thống kiến thức văn bản Hán Nôm sau giờ học lý thuyết

Ngoài phương pháp tự hệ thống kiến thức sau mỗi chuỗi văn bản, sinh viên có thể tham khảo thêm các văn bản được giảng viên giới thiệu trong bảng đề cương học phần. Đó là những tài liệu tham khảo rất đáng tin cậy và cung cấp rất nhiều kiến thức bổ trợ cho văn bản chính trong bài giảng. Sinh viên có thể tự cập nhật về kiến thức Hán Nôm qua internet hay các tạp chí chuyên san về Hán Nôm hay các blog nhóm, hệ thống từ điển


trực tuyến hướng dẫn dạy học chữ Hán – Nôm miễn phí. Từ đó có thể vận dụng vào việc tìm hiểu, đọc kỹ bài giảng trước khi đến lớp cũng là phương cách hữu hiệu nhất.

1.1.1.1.      Các phương pháp tự học chữ Hán – Nôm hiệu quả

Phương pháp tự học chữ Hán chính là những phương thức, cách thức tự nghiên cứu, tự tiếp thu chữ Hán theo nhiều dạng thức: viết chữ Hán, làm quen với âm đọc Hán Việt và giải thích nghĩa của chữ. Nói gọn hơn, chính là qui tắc tự học làm quen với chữ Hán qua ba điểm: hình – âm – nghĩa. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu về qui tắc tạo chữ trong chữ Hán, cấu trúc hình thể của chữ Hán và chữ Nôm để đề ra một số phương thức, tiếp cận và làm quen với chữ Hán – Nôm.

1.1.1.1.1.             Phương pháp ghi nhớ bộ thủ

Bộ thủ là một thành phần rất quan trọng trong việc học và ghi nhớ chữ Hán. Bộ thủ “chính là tập hợp những chữ có thành phần tương đồng vào một bộ trong tự điển” và “bộ thủ biểu thị một loại lớn, những tự điển thông thường có hơn hai trăm bộ thủ, những bộ thủ này đại diện cho hơn hai trăm sự vật, mỗi loại sự vật đều ba gồm rất nhiều sự vật cụ thể, cho nên hơn hai trăm bộ thủ cụ thể này có thể thống lĩnh hàng vạn chữ Hán” [8; 77]. Phương pháp ghi nhớ bộ thủ trong chữ Hán có lợi thế giúp cho quá trình tri nhận chữ Hán trở nên đơn giản hơn và cụ thể. Giúp cho quá trình đoán nghĩa chữ Hán trở nên nhanh chóng hơn nhờ vào việc nắm bắt được ý nghĩa tượng hình từ bộ thủ chữ Hán.
Theo Hàn Giám Đường (Trung Quốc), chữ Hán được chia làm hai loại đơn thể và hợp thể. Những chữ đơn thể bản thân nó đã hàm chứa bộ thủ sẵn có cấu thành chữ và mang âm đọc nhất định, chẳng hạn như: mộc; dương; thủ; trúc; mục;
ngôn; khẩu; tâm,... Vì vậy, việc ghi nhớ các chữ này trở nên đơn giản và bộ thủ cũng chính là chữ Hán. Từ đó, chúng ta suy ra các chữ Hán hợp thể, hình thể phức tạp gồm nhiều các bộ thủ cấu thành và chữ Hán làm âm thanh. Và từ một chữ Hán có chung bộ thủ, ta có thể học và ghi nhớ được nhiều chữ cùng một lúc có cùng bộ thủ biểu thị ý nghĩa.


Từ một thủ đơn giản biểu thị ý nghĩa:
·         Bộ “thảo” ()

Thảo>cỏ
Hoa >hoa
Thái>rau
Cúc>hoa cúc
Trà>trà
Vạn>mười ngìn
Diệp>lá
·         Bộ
“môn” ()









         


Môn>         Gian
Vấn
Văn
Muộn>
Nhàn>
Sấm>xông
Các
Ngại
Lư>
cửa        >khoảng
>hỏi
>nghe
buồn

rãnh

(vào)
>gác
>vùi
cổng


Bộ thủ trong chữ Hán biểu thị một lượng ý nghĩa tượng hình rất lớn, nhờ vào bộ thủ chữ Hán – Nôm mà người tìm hiểu, tiếp xúc với văn bản Hán – Nôm có thể truy ra được nghĩa, cấu tạo và hài thanh cách đọc. Học và ghi nhớ chữ Hán bằng phương pháp ghi nhớ các bộ thủ cũng nhằm giúp tối ưu hóa việc tri nhận chữ viết trong thời gian đầu tiếp xúc với học phần. Dần dần, vốn chữ Hán và việc ghi nhớ âm Hán Việt tăng dần và bản thân người học có thể tự phân biệt được các cụm từ, từ chữ Hán có kết cấu âm đọc đồng âm, khác nghĩa.
Đối với chữ Nôm, trong kết cấu tiểu loại của chữ Nôm gây không ít khó khăn cho người học, bởi các cấu tạo phức tạp từ việc ghép nối nhiều bộ thủ và các chữ Hán lại với nhau tạo nên một thực thể nhiều nét, phức tạp. Theo tác giả Nguyễn Ngọc San, chức năng bộ thủ trong chữ Nôm “nhưng trong loại chữ hình thanh, bộ thủ cũng chỉ có giá trị biểu ý lúc ban đầu. Về sau, một chữ được dùng chung cho nhiều từ và một từ phát triển thành nhiều nghĩa thì bộ thủ chỉ có giá trị biểu ý trong lĩnh vực từ nguyên” [15;75]. Nhưng cũng nhờ vào đặc điểm biểu thị ý nghĩa mà chúng ta có thể ghi nhớ chữ Nôm nhanh chóng. Chúng tôi thử mô phỏng một số ví dụ sau về việc ghi nhớ bộ thủ trong chữ Nôm.
·         Bộ khẩu

 
 
 
 
𠰌  
𠺺
nôm
na
cha
mách
qué


·         Bộ nữ

𡛔


gái

mái
nàng

·         Bộ nhục ()





𦢶
𦝬
da
·         Bộ thủ

thịt
đùi
ruột
𢬣
𢯦

𢭯

tay
lay

quét


- Phân biệt chữ đồng âm, cận âm trong chữ Nôm nhờ vào quan sát bộ thủ cấu tạo:

𠄼                𢆥                            𩵜                            




Năm
>số 5

Năm
>năm tháng

>cá nhân

>con cá

>gật

>chim bồ câu



Bộ thủ
(ngũ)           (niên)          (trúc)       (ngư)       (nhục)          (điểu)

- Phân biệt được chữ Hán đồng âm sau qua việc tra ra hình dạng của chữ viết, trong khi đó viết bằng chữ Quốc ngữ thì ta khó có thể phân biệt nghĩa và phải phụ thuộc vào văn – ngữ cảnh trong văn bản.

                                                        

 

Số nét, bộ thủ
11 nét, bộ (thủy)         17 nét, bộ (nhĩ)            8 nét, bộ (thanh)
 




Thanh> trong

âm Hán Việt


Thanh> âm thanh



Thanh>màu xanh



 


âm tiếng Quan Thoại (Pinyin – 拼音)

/qīng/                              /sheng/                      /qīng/ Bảng 14: Phân biệt chữ Hán đồng âm
khác nghĩa qua phương pháp so sánh hình dạng chữ viết

Tuy các chữ Nôm trên đây thuộc cấu tạo chữ biểu âm và bộ thủ biểu ý, nhưng trong đó nếu người học nắm được các qui tắc tạo chữ từ bộ thủ sẽ giúp cho việc thực hành bài tập sáng tạo chữ Nôm đạt được hiệu quả tốt hơn. Từ đó, giúp cho việc ghi nhớ bộ thủ làm chức năng tạo ý trong một bộ phận chữ Nôm và chức năng tạo nghĩa trong chữ Hán  là rất lớn. Hiệu quả sử dụng và ghi nhớ bộ thủ góp phần cho quá trình tri nhận chữ Hán được nhanh chóng và dễ hiểu và kỹ năng tra từ điển cũng được cải thiện.

1.1.1.1.2. Phương pháp “chiết tự”

Một phương pháp khác, khá phổ biến và mang nhiều ý nghĩa văn chương hơn, đó là phương pháp “chiết tự”. Thực sự đây là một trong những cấu tạo của Lục thư trong chữ Hán, giúp người tiếp nhận văn bản Hán Nôm có thể hiểu rõ sâu hơn về ba phương diện: hình – âm – nghĩa của chữ, và từ đó có thể nắm được nghĩa khái quát của cả văn bản. Trong bài giảng “Hán văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú đã dẫn ra phương pháp học này trong bài thơ “Chiết tự” của Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Qua đó, người học chữ Hán nền tảng cơ sở sẽ hiểu sâu hơn về kết cấu và diễn biến cấu tạo của chữ Hán qua phương pháp chiết tự. Từ một chữ Hán đơn hay hợp thể cơ sở, kết hợp thêm với một bộ thủ để hàm ý chuyển sang một nét nghĩa mới hay chuyển thành tố âm đọc sang một dị âm khác – cũng nhằm vào trong tính chất đa âm của chữ Hán.
Thí dụ
Nguyên văn chữ Hán                                       Phiên âm



折字

(1)    人出去或為
(2)    過頭時始見

Chiết tự
nhân xuất khứ hoặc vi quốc, Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung; Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,


(3)    有憂愁優點
(4)      開竹閂出真

Lung khai trúc sản, xuất chân long.
[18; 46]


Trong bài thơ “Chiết tự”, phương thức tách chữ, thêm chữ hoặc thêm bộ kiện, bộ thủ được diễn biến trong các chữ đầu dòng thơ và chữ cuối cùng mỗi dòng thơ chính là thành quả của quá trình tách – chiết chữ đó. Ta có:
Dòng (1), chữ nhân sau khi bỏ chữ đi chữ nhân trong bộ vi thêm chữ hoặc thành chữ quốc. Dòng (2), chữ hoạn sau khi bỏ đi một bộ khẩu thành chữ trung (trung thành).
Dòng (3), chữ nhân thêm một nét ngang thành chữ đại.
Dòng (4), chữ lung bỏ đi bộ trúc trên đầu còn lại chữ long (rồng).
Chiết tự còn có một số hình thức khác để giúp cho việc học chữ Hán thú vị hơn. Chiết tự gồm chiết tự về hình thể chữ, chiết tự về âm đọc và một số hình thức chơi chữ bằng phương pháp chiết tự.
-     Chiết tự về mặt hình thể chữ:

    Lai đến                 Hai người đứng quanh một gốc cây: chữ mộc (cây) và hai chữ nhân (người)

    Tọa ngồi              Hai người cùng ngồi trên đất: chữ thổ (đất) và hai chữ
nhân (người)

    Hòa – hòa hợp        Đại ý chỉ người và lương thực là hai hòa hợp với nhau, nuôi dưỡng nhau: Bộ hòa (cây lúa) chữ khẩu (miệng)

    Minh sáng           Ánh sáng của thái dương và mặt trăng là ánh sáng nhất của vũ trụ: chữ nhật (mặt trời) chữ nguyệt (mặt trăng)



    Đông – phía đông

Mặt trời mọc xuyên qua hàng cây tức chỉ phía đông vào buổi sáng: mộc (cây) và chữ nhật (mặt trời)



    Khán xem            Cánh tay che mắt để quan sát: chữ thủ (tay) và bộ mục
(mắt)

    Thu – mùa thu        Dùng lửa để đốt đồng lúa sau thu hoạch: bộ hòa (lúa) và chữ hỏa (lửa)
    Sầu buồn             Tâm trạng () thường buồn vào mùa thu (): bộ tâm


chữ thu
    Nhàn – rảnh rỗi     Ngắm trăng đi qua cánh cửa: bộ môn (cửa) và chữ nguyệt
(trăng)

- Chiết tự về âm đọc:

Chiết tự về mặt hình thể âm đọc là phương pháp gọi tên từng chữ và bộ thủ trong chữ Hán bằng một câu thơ, thành ngữ hay một câu nói cửa miệng, chính xác hơn là một hình chơi chữ thành thơ để vừa ghi nhớ chữ Hán và làm thú chơi bác học. Chúng tôi sưu tầm được một số ví dụ sau:

đức           Chim trích mà đậu cành tre, (bộ xích )
Thập () trên tứ ()dưới nhất () đè chữ tâm ()
chương     Chữ lập () mà đập chữ viết (), chữ viết đập chữ thập ()
tưởng        Tựa cây () mỏi mắt chờ mong ()
Người xa nơi ấy trong lòng () nhớ ai
thời           Mặt trời () xế đã về chùa ()
an             (女)kia đội nón chờ ai ()
Hay cô an phận đứng hòai thế cô
thủy          Con gái () mà đứng éo le
Chồng con chưa có kè kè mang thai ()
- Một số hình thức chơi chữ Hán chiết tự:

Chữ “thiên” và chữ “phu”; chữ “liễu” và chữ “tử” trong câu thơ của Hồ Xuân Hương:
Duyên thiên chửa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao đành nảy nét ngang.
Giải thích: chữ thiên nếu chừa nét dư bên trên thành chữ phu là chồng; chữ liễu
nếu thêm nét ngang thành chữ tử là con.


Chiết tự theo lối thơ ca trong cách diễn đạt từ hình thể ban đầu của một chữ tiếp nối với các bộ thủ để tạo thành chữ mới:

 



市在門前鬧月來門下閒


安女去豕入為家山石岩前古木枯

Thị tại môn tiền náo, Nguyệt lai môn hạ nhàn


An nữ khứ thỉ nhập vi gia,
Sơn thạch nham tiền cổ mộc khô

Chữ thị (chợ) đặt trong chữ
môn (cửa) thành chữ náo
(ồn),
Chữ nguyệt (trăng) để trong chữ
môn (cửa) thành chữ nhàn
Chữ an bỏ đi bộ nữ nhập chữ thỉ vào thành chữ gia



八刀分米粉千里重金鍾


Bát đao phân mễ phấn, Thiên lý trọng kim chung

Chữ bát ghép trên chữ đao thành chữ phân ; Chữ thiên ghép trên chữ lí thành chữ
trọng , đặt bộ kim bên trái thành chữ chung .



 




囚人出去或為國患過頭時始見忠


Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc, Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung

chữ nhân sau khi bỏ chữ đi chữ nhân trong bộ vi thêm chữ hoặc thành chữ quốc ; chữ hoạn sau khi bỏ đi một bộ khẩu thành chữ trung (trung thành).



 
Bảng 15: Minh họa một số ví dụ về chơi chữ theo phương pháp “chiết tự”


Tóm lại, phương pháp “chiết tự” là một trong những phương pháp học chữ Hán vừa thú vị và giúp giải tỏa đi những rắc rối và phức tạp của chữ Hán. Từ đó giúp cho việc giản đơn hóa việc ghi nhớ chữ Hán, từ một chữ có kết cấu phức tạp chúng ta có thể tách chiết thành các bộ thủ và các chữ đơn thể và ghi nhớ bằng cách ghép từng bộ và chữ lại với nhau theo qui tắc nhất định. Từ đó, sau một khoảng thời gian sinh viên có thể hệ thống lại những chữ Hán – Nôm đã học và tự ôn tập lại sau mỗi bài học. Như vậy, sau khi hoàn thành học phần sinh viên qua sự mài giũa kiên trì học tập chữ Hán sẽ có một vốn chữ Hán phong phú góp phần tạo nền tảng cho việc đăng ký học phần Hán văn nâng cao hay chữ Nôm.


1.1.1.1.3.             Phương pháp ghi nhớ chữ “tượng hình” và “hội ý”


Tượng hình là một trong sáu cách thức tạo chữ Hán mà Hứa Thận đã dày công  biên soạn và tập hợp trong “Thuyết văn giải tự”. “Tượng hình là loại chữ mô tả lại hình tướng cụ thể của vật thật thông qua nét vẽ mang tính biểu trưng” [18; 14]. Như thế, nếu trong quá trình học chữ Hán sinh viên có thể bắt đầu việc ghi nhớ chữ Hán từ phương pháp Lục thư như bài giảng Hán văn cơ sở đã trình bày thì quá trình tri nhận chữ từ đơn giản đến phức tạp diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Chúng tôi có một số minh họa đơn giản sau về chữ tượng hình.

                                                                             

 
Mộc                  Sơn                Xuyên               Nữ                Dương                 Môn

 

Tượng hình cho cây cối, sự vật bằng gỗ

Tượng hình cho ngọn núi “ba đỉnh”

Tượng hình cho dòng sông và lưu vực

Tượng hình cho người con gái

Tượng hình cho con dê; các con vật thuộc họ

Tượng hình cho cánh cửa


 
Bảng 16: Mô phỏng một số chữ Hán tượng hình cơ bản

Một số ví dụ điển hình đơn giản khác:


Trúc>tre
Đao>dao
Ngư>cá
Vũ>mưa
Điền>ruộng

Khi đã nắm được một số lượng chữ Hán tượng hình cơ bản, sinh viên có thể vận dụng vào việc phân tích hình thể và bộ thủ của chữ để làm rõ và hiểu cặn kẽ được ý nghĩa tượng hình trong mỗi bộ thủ chữ Hán. Bởi bộ thủ và chữ tượng hình biểu thị một lượng lớn thông điệp từ quá trình diễn biến hình thể của chữ Hán rất giàu ý nghĩa.
Ngoài ra, chữ tượng hình trong chữ Hán còn có một đặc điểm đó là dễ ghi nhớ  hình thể và âm đọc. Nếu như kiên trì và cần mẫn, người học có thể tự mày mò nghiên cứu thông qua diễn biến hình thể của chữ Hán qua tài liệu “Tìm về nguồn cội chữ Hán 字溯源, của tác giả Lạc Nghi 李樂毅 (Trung Quốc), nhà xuất bản Thế Giới năm 1998 hiện đang lưu tại thư việntrung tâm học liệu của Trường Đại học Cần Thơ. Trong đó,

tác giả Lý Lạc Nghi trình các hình thể tượng hình của các chữ Hán phổ biến từ trong chữ tượng hình và qua quá trình biến đổi của Triện văn và dần hình thành đến chữ Khải sau này. Theo dõi được quá trình hình thành và biến đổi này, sinh viên khi học và ghi nhớ chữ Hán sẽ tạo được niềm đam mê và khám phá chữ Hán. Từ đó tạo nên niềm say mê hứng thú trong việc tiếp thu kiến thức từ bài giảng và tự học tự thực hành các văn bản Hán  Nôm tạo nên sự trau dồi kiến thức không bị gián đoạn.
Chữ Hán hội ý là một dạng chữ gồm “hai hoặc vài chữ tượng hình để tạo thành một chữ mới, biểu thị một ý nghĩa hoàn toàn mới” [8; 62]. Theo tác giả Hàn Giám Đường, chữ hội ý gồm hai loại: chữ hội ý đồng thể và dị thể. Theo đó, ta có một số phương pháp ghi nhớ chữ Hán hội ý theo các bộ phận cấu thành từ bộ thủ biểu thị ý nghĩa bằng phương thức liên hội ý nghĩa với nhau. Sau đây là một vài ví dụ minh họa:
·         Chữ Hội ý đồng thể
-          lâm rừng, do hai chữ mộc tạo thành. Tức nhiều cây sẽ thành rừng. (山sơn lâm,林儒lâm nho
-          sâm là rừng rậm rạp, do ba chữ mộc tạo thành, biểu thị quần thể số lượng lớn.
(萧森 tiêu sâm,森立 sâm lập
-          bắc là hướng bắc, hai bộ nhân quay ngược hướng biểu thị sự đối chiều giữa hai hướng Bắc Nam. 北方bắc phương,北部bắc bộ,台北đài bắc
-          chúng là đông hay nhiều người, do  ba chữ  nhân tạo  thành. Tức  chỉ số đông.
(众生 chúng sinh,众民 chúng dân
-          hóa là biến đổi, do hai bộ nhân trên dưới đảo ngược vị trí, biểu thị sự thay đổi.
(變化 biến hóa,化學 hóa học,仁化 nhân hóa,全球化 toàn cầu hóa)
·         Chữ Hội ý dị thể
-          lôi sấm sét, do bộ vũ mưa kết hợp với chữ điền ruộngtức chỉ sấm sét xuất hiện trên đồng ruộng.
-          nghĩa nghĩa tình, do chữ dương với chữ ngã bản thân con người ý chỉ sự cúng tế và phụng sự cho con người.
-          nôm chữ của người Việt, do chữ nam bộ khẩu đại ý nói rằng chữ và tiếng nói của người phương nam là chữ Nôm.
-          muộnphiền, do bộ môn chữ tâm , đại ý chỉ tấm lòng buồn rầu trong cánh cửa khép lại.

-          hảotốt, do chữ nữ chữ tử , tức chỉ người con gái sinh con được con trai là tốt.
-          tínhtính tình, do bộ tâm chữ sinh, tức tâm sinh tính.
-          phụcphục vụ, bộ nhân chữ khuyển, tức chỉ con người thuần phục loài vật.

Phương pháp ghi nhớ chữ Hán bằng cách học chữ tượng hình và hội ý nhằm giúp kích thích hứng thú cho sinh viên trong việc tìm hiểu về nguồn cội của chữ Hán cũng như quá trình diễn biến hình thể của chữ Hán qua chữ tượng hình. Từ đó, những câu chuyện về bí mật của chữ Hán dần dần hé lộ. Chữ hội ý giúp cho sinh viên gia tăng được trí tò mò và say mê trong việc phân tích cấu tạo của chữ và dùng chính kiến thức và tư duy của mình để giải thích ý nghĩa của chữ dựa vào sự kết hợp ý nghĩa của phương pháp này.

Không có nhận xét nào: