Khảo sát tác phẩm văn học huyền thoại mang nội
dung sáng thế dưới dạng văn bản từ thể loại văn học dân gian mang tính chất
truyền khẩu và có dị bản. Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu đi tìm các
phương diện đặc thù trong nội dung mà tác phẩm thể hiện, không quá đi sâu khai
thác yếu tố nghệ thuật kể chuyện và giọng điệu. Bởi một trong yếu tố tiên quyết
của tác phẩm huyền thoại đó là tư duy cảm tính, câu chuyện thần huyền trong
truyện kể chủ yếu mô tả lại quá trình hình thành nên thế giới, cộng đồng mang
qui mô khai mở một thời kỳ đầu tiên trong lịch sử.
1.1.
Đôi nét về khái niệm huyền
thoại học
Khái niệm “huyền thoại học” được hiểu là môn
khoa học nghiên cứu về huyền thoại, mà đó là môn khoa học tìm ra những đặc
trưng lớn và những ảnh hưởng của huyền thoại từ những thể loại trong văn hóa
dân gian hay trong thể loại văn học mang khuynh hướng huyền thoại.
Trong nghiên cứu huyền thoại học rất đa dạng và
bao hàm nhiều mô típ được thu nhặt từ yếu tố văn hóa và văn học. Huyền thoại học
trong khoa nghiên cứu văn chương ở một số nền học thuật văn chương được gọi
theo tiến trình lịch sử khác nhau. Giới nghiên cứu văn học ở Trung Quốc, khái
niệm huyền thoại được các học giả Trung Hoa gọi bằng “thần thoại”. Từ những
sáng tác ban đầu, văn học Trung Hoa không chủ trương định danh khái niệm, mà chỉ
tập trung vào yếu tố tên tác phẩm được các học giả tri thức đương thời biên tập
và chú giải. Từ yếu tố tên tác phẩm huyền thoại, người Trung Hoa ấn tượng với
tên gọi và in hằng vào niềm tin trong vô thức được truyền từ đời này sang đời
khác, từ triều đại này sang triều đại khác trong một tập thể, một dân tộc. và
những vô thức này, trong huyền thoại được liên kết mạnh với yếu tố truyện kể và
những mạch ngầm của văn hóa dân gian mang tính chất và hình thức của cổ mẫu.
Khác với Trung Hoa, huyền thoại trong lịch sử
văn học phương tây mang đậm nét lịch sử và dấu ấn tôn giáo. Những cuộc chiến
tranh được hóa thân thành lịch sử và trở thành dấu mốc đầu tiên tạo nên những
tiền lệ về hình ảnh người anh hùng, thần nữ và các vị tiên thánh. Hoặc giả như
trong nhiều tác phẩm mang yếu tố sử thi, thần thoại trong văn học phương Tây,
khái niệm “huyền thoại” được gọi chung theo ngôn ngữ có quan hệ anh em: Myth
(danh từ: thần thoại, chuyện hoang đường,...); tiếng Hy Lạp là Mythos, tiếng
Pháp Mythe,... đều có chung mẫu gốc “Myth” để chỉ chung mối huyết mạch giữa các
câu chuyện thần huyền. Ngược lại trong cách gọi huyền thoại học ở Trung Hoa được
ảnh hưởng bởi cách gọi cận – hiện đại từ sự chuyển dịch khái niệm ở nước ngoài
sang Trung Hoa. Tuy nhiên, xét về bản chất và nội hàm nghiên cứu không nằm ở
cách gọi thuật ngữ, thuật ngữ xuất hiện chỉ để nhằm đánh dấu một giai đoạn tiến
triển và có hệ thống của một ngành khoa học. Huyền thoại hay thần thoại dù sao ở
mỗi cách nghiên cứu và tiếp đều có thể phục vụ cho mục đích chung của môn khoa
học huyền thoại. Duy chỉ có cách gọi khác nhau do phụ thuộc vào đặc trưng ngôn
ngữ và cách dịch thuật ở thời kỳ đó mà thôi.
Từ sau thế kỷ XX đến năm 1949 khi Cách mạng
Trung Hoa thành công, công cuộc đổi mới nền văn nghệ ở Đại Lục có nhiều chuyển
biến khai mở. Giới nghiên cứu văn học Trung Hoa bắt đầu cuộc hành trình đi tìm
khái niệm với thế hệ nghiên cứu với liên mạch nước ngoài và trong cách nhìn từ
những trào lưu, trường phướng phê bình văn học phương Tây. Do đó, khái niệm huyền
thoại cũng như huyền thoại học được chỉ dẫn và nghiên cứu nội dung tác phẩm.
Kho tác phẩm huyền thoại đồ sộ của văn học Trung Hoa đồ sộ và phức tạp. Tác phẩm
cổ xưa nhất đó là “Sơn hải kinh” được cho là xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến
Quốc, sáng tác mang tính tập thể mô tả và lưu truyền về hình tượng nhân vật, vật
linh, cổ mẫu của dân tộc Hán thời kỳ đầu.
Nghiên cứu huyền thoại ở Việt Nam, khái niệm huyền
thoại được giới nghiên cứu sử dụng làm nền tên gọi chính định danh môn nghiên cứu
trong phân ngành nghiên cứu văn học. Huyền thoại trong văn học Việt Nam chủ yếu
từ các thể loại văn học dân gian và yếu tố sinh hoạt dân gian mang tính chất tập
thể, cổ xưa. Đó là những câu chuyện diễn giải về nguồn gốc của một dân tộc, cộng
đồng, những cuộc chiến và câu chuyện tình yêu, sức mạnh chiến đấu của loài người
với công cuộc chinh phục tự nhiên.
1.2.
Huyền thoại sáng thế
Huyền thoại trong truyện kể dân gian chứa đựng
tư tưởng sự việc và con người trong tâm thức cổ xưa. Huyền thoại sáng thế là
chuỗi liên mạch truyện kể khai sáng thời kỳ đầu tiên mà con người trong thuở hồng
hoang bắt đầu tư duy và suy nghĩ về quá trình và nguồn gốc hình thành của cộng
đồng thị tộc. Việc tái hiện không cảnh huyền thoại tạo nên cộng đồng thời kỳ đầu
mang tư duy hỗn mang, ở đó con người và tư tưởng luôn tin vào niềm tin tâm lý,
niềm tin duy “huyền thoại”. Trong truyện kể thần thoại sáng thế các dân tộc
trên thế giới và Việt Nam đều mang mô típ và ý nghĩa giải thích nguồn gốc của cặp
đôi đầu tiên sinh tạo nên các dân cư trên lãnh thổ, không gian văn hóa. Cụ thể
trong các thể loại mà chúng tôi khảo sát và tìm ra những đặc trưng sáng thế của
nó, không chỉ riêng truyện kể mà trong cả thể loại sử thi cũng hàm chứa yếu tố
ý thức tách biệt các mẫu gốc và hình tượng nhân sinh trong tác phẩm. Tuy là
sáng tác tập thể, các tác phẩm này một mặt tái hiện quá trình sản sinh thế giới
trong tư duy cá biệt của cộng đồng, một mặt các tác phẩm cũng đã có ý thức gán
ghép tính phân nguồn các dân tộc cùng chung sống theo không gian đặc tính địa
lý. Chung qui là sự ảnh hưởng của giai đoạn phân chia ranh giới nhân loại thời
kỳ đầu và ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác truyền miệng. Dưới góc nhìn tư duy cổ
sơ, huyền thoại sáng thế trong văn học dân gian nhiều màu sắc và góc độ phản
ánh sự lý giải vũ trụ một cách khôn ngoan.
1.3.
Khái quát về huyền thoại
(Thần thoại Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân; sử thi Đẻ đất đẻ nước)
Bộ ba huyền thoại mang dấu ấn khai sáng trong
văn học dân gian Việt Nam mà chúng tôi khảo sát nội dung tác phẩm trong bài viết
đều là những câu chuyện mở màn nên màu sắc nguồn dân tộc trong văn học dân
gian. Tuy nhiên, thần thoại Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân và sử thi Đẻ đất đẻ nước
có sự khác biệt về các yếu tố cổ mẫu và thời gian và sự việc huyền thoại được
diễn ra. Bước đầu phác thảo chân dung ba tác phẩm có phần khác nhau về thể loại
lẫn hình thức kể chuyện dân gian để tìm ra nội dung sáng thế của trong thể loại
văn học dân gian và định hình tính chất đặc thù của huyền thoại sáng thế trong
các tác phẩm văn học dân gian quen thuộc.
1.3.1.
Thần thoại Quả bầu mẹ
Thần thoại Quả bầu mẹ mô tả lại nguồn gốc và quá
trình ra đời của năm mươi bốn dân tộc anh em Việt Nam thời kỳ đầu qua cách kể
chuyện giải thích. Câu chuyện tái hiện lại không gian của một cặp vợ chồng đi rừng
và bắt được một con vật kỳ quái, biết nói tiếng người. Con vật xin tha và sẽ đền
ơn hai vợ chồng bằng cách dự báo sắp có một trận đại hồng thủy diễn ra cuốn
trôi tất cả mọi thứ, thiết lập nên trật tự thế giới. Con vật dự báo và khuyên
đôi vợ chồng nên chuẩn bị trước những vật dụng nhu yếu và nơi cư trú để vượt
qua trận hồng thủy. Sau đó, hai vợ chồng nghe theo lời của con vật thiêng và
sau khi trải qua cơn hồng thủy, mặt đất vắng tanh. Một thời gian sau, người vợ
hạ sinh một quả bầu, người chồng mang quả bầu cất vào giàn bếp. Một hôm, từ
trong quả bầu đã cho ra những con người mang dáng dấp và ngoại hình tiếng nói
khác nhau. Đó là sự ra đời của các dân tộc anh em Việt Nam ngày nay. Qua cách kể
chuyện theo trật tự và các chi tiết tuần tự có mạch logic nhất quán đã làm cho
truyện Quả bầu mẹ mang dáng dấp của thần thoại sáng thế theo cách tư duy của
con người thời cổ sơ. Trong đó các sự kiện và con người được sáng tạo nên tầm
vóc và xu hướng để dẫn giải nguyên nhân nguồn gốc của một cộng đồng và thị tộc.
1.3.2.
Thần thoại Lạc Long Quân
Thần thoại Lạc Long Quân có nhiều thuyết kể về
nguồn gốc của nhân vật Lạc Long Quân, nhưng đối chiếu với phạm vi giới hạn về
vùng văn hóa và yếu tố truyện kể dân gian gần với thiên hướng giải thích ý
nghĩa giáo dục phông cho nên chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu thần thoại về nguồn
gốc nhân vật Lạc Long Quân trong sách giáo khoa Ngữ văn Trung học Cơ sở hiện
hành. Điều này cũng nhằm dẫn đến nguồn tư liệu chính thống và một phần khơi gợi
nên ý nghĩa về huyền thoại trong giáo dục trung học phổ thông.
Lạc Long Quân vốn xuất thân là giống rồng, con
trai thần Long Nữ ở dưới nước, sinh trưởng nơi vùng biển. Âu Cơ thuộc giống
chim Hồng sinh trưởng nơi vùng núi, con gái Thần Nông. Cả hai kết duyên với
nhau và xoay quanh câu chuyện sinh nở của Âu Cơ đó là hình ảnh cái bọc trăm trứng
sinh ra trăm người con khỏe mạnh. Câu chuyện chia tay giữa họ và các người con
diễn ra mang tính chất lý giải cách phân bố vùng và lãnh thổ cộng đồng dân cư
Việt Nam thời kỳ đầu. Từ đó, cho thấy câu chuyện thần thoại Lạc Long Quân mang
màu sắc lý giải huyền thoại thủy tổ dân tộc Việt Nam. Đó là mô típ cặp vợ chồng
đầu tiên tạo nên cộng đồng dân tộc.
1.3.3.
Sử thi Đẻ đất đẻ nước
Đẻ đất đẻ nước là bộ sử thi đồ sộ bằng thơ của
dân tộc Mường, kể về quá trình hình thành và tạo tác trời đất, vũ trụ và các yếu
tố tự nhiên theo tư duy cảm tính của con người trong việc tri nhận và quan sát
thế giới tự nhiên một cách trực quan. Nhưng tất cả cách lý giải được huyền thoại
hóa theo cách kể cổ xưa và trực tiếp.
Nội dung chủ yếu của Đẻ đất đẻ nước chủ yếu diễn
tả thời kỳ hỗn mang, sau một cơn “mưa dầm mưa dãi” đến tận năm mươi ngày đêm mới
rút nước. Trên mặt đất mọc lên một cây xanh, từ các cành có cành cao chọc trời
biến thành ông Thu Tha và bà Thu Thiên. Từ đó hai ông bà lấy nhau và truyền lệnh
tạo ra sự vật cũng như sự kết nối, sinh giao giữa muôn loài. Trong bộ sử thi đồ
sộ này, bao gồm nhiều chương kể về sự tích ra đời của các vật tượng thời kỳ đầu.
Do giới hạn về phạm vi tư liệu và phục vụ cho việc đối sánh nội huyền thoại
trong thể loại văn học dân gian, nên chúng tôi chỉ trích lọc nghiên cứu hai
chương của sử thi này, bao gồm Chương II và Chương III (Đẻ đất và đẻ nước, Tổng
tập Văn học Việt Nam, tập 41, H. 2000)
Trong việc nghiên cứu thể loại thần thoại và sử
thi trong lý thuyết đối với huyền thoại sáng thế, cả ba tác phẩm nêu trên có
cùng đặc điểm về nội dung lẫn hình thức truyện kể. Nội dung cốt yếu đó là tiến
trình hình thành nên thị tộc và cộng đồng thời kỳ đầu tiên, duy chỉ có truyện Quả
bầu mang tính chất nội dung truyện kể cổ tích. Sinh khí huyền thoại được hiển
thị rõ ràng qua các yếu tố về không gian sự việc, các yếu tố kể thời gian tâm
tưởng và bất phân định mốc thời gian,... Ngoài ra, trong bài viết này chúng tôi
chỉ ra những mô típ tương đồng với nhau giữa bộ ba tác phẩm về nguồn gốc các mẫu
nhân vật, sự kiện tương đồng và ý nghĩa quy châm trong cách diễn giải của câu
chuyện huyền thoại.
1.4.
Huyền thoại sáng thế -
thể loại khởi đầu của văn học dân gian
Huyền thoại sáng thế trong thể loại văn học dân
gian là một chỉnh thể thể nghệ thuật mang tính cộng đồng và niềm tin tâm lý.
Huyền thoại sáng thế có thể là bước đi ban đầu của tư duy tiền sử, là cách lý
giải bằng ngôn từ thô sơ tinh lọc qua quá trình quan sát tự nhiên và sáng tạo.
Tìm hiểu thể loại tự sự dân gian Thần thoại
trong khuynh hướng sáng thế đầu tiên đó là tìm ra qui luật chung của thể loại.
Theo tác giả Nguyễn Hùng Vĩ trong Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế cb,
H.1999) đã viết về định nghĩa thể thần thoại: Thần thoại là tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân
vật anh hùng thần linh, các nhân vật sáng tạo văn hóa thần linh, phản ánh quan
niệm của con người cổ về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội con người [2;
25]. Trong cách kiến giải tổng quan này, tác giả đã khái quát nên nguyên hình
trạng của thần thoại mang tính khai sáng của huyền thoại sáng thế. Đó là những
mô hình đầu tiên mang dáng vóc của thần hoặc bán thần, con người anh hùng sáng
tạo nên thế giới và cộng đồng nào đó. Đồng thời, trong định nghĩa về thể loại tự
sự dân gian này, tác giả đã bảo chứng cho thể loại là khởi đầu, đặt tiền đề cho
văn học dân gian (mảng tự sự dân gian) và ảnh hưởng của nó: Bởi vậy, trước khi tồn tại một cách lâu dài
trong trạng thái nguyên hợp điển hình; nói cách khác, trước khi là một loại
hình nghệ thuật ngôn từ, thần thoại là một tổng thể nguyên hợp, ở đó quan hệ thực
tiễn và quan hệ tinh thần, các hình thái ý thức, các loại hình nghệ thuật, các
loại hình văn học dân gian đang hòa nhập nhuần nhuyễn dưới dạng những yếu tố
[2; 25].
Trong việc
định hình thể loại, thời kỳ đầu của lịch sử con người chủ yếu dựa vào các cảm
quan của tự nhiên với các hình thái ý thức sơ khai cộng với tư duy nguyên thủy
hoặc tâm thức nguyên thủy thiêng về trải nghiệm cảm xúc và tôn sùng tự nhiên.
Do đó trong bộ ba tác phẩm mà chúng tôi khảo sát tiến hành đi đến khái niệm huyền
thoại sáng thế là một thể loại tiền đề cho văn học dân gian sau này đó là việc
thể loại thần thoại và sử thi đã có sự chuyển biến từ huyền thoại sáng thế sang
các thể loại tương đồng. Ví dụ, các thể loại tự sự dân gian thì chuyển tiến
sang các đồng dạng như thần thoại truyền thuyết, thần thoại truyền thuyết, thần
thoại lịch sử, thần thoại anh hùng,... Từ đó, huyền thoại sáng thế như một mẫu
số chung chi phối và ảnh hưởng các thể loại và dung của các tác phẩm trong hệ
thống thể loại văn học dân gian.
Đối sánh với các câu chuyện thần thoại khác trên
các vùng văn hóa trên thế giới, thần thoại sáng thế ở Trung Quốc cũng là một điển
hình cho thấy từ huyền thoại sáng thế, hoặc một nhân vật trong câu chuyện mô tả
lại quá trình tạo tác nên thế giới loài người đã có sự ảnh hưởng và tiếp biến đến
các tác phẩm trong văn học dân gian. Hình tượng Phục Hy và Nữ Oa tương đồng với
cặp nhân vật Lạc Long Quân và Âu Cơ, hoặc vợ chồng trong chuyện Quả Bầu,... Duy
chỉ có khác nhau ở điểm nguồn gốc của nhân vật khai sinh nên tạo vật. Nữ oa và
Phục Hy trong thần thoại Trung Hoa không được đề cập nhiều đến yếu tố nguồn gốc,
cũng có thể do niềm tin duy tâm đó là mẫu gốc và là hình tượng không thể thay
thế hoặc phá vỡ, chỉ có nguồn gốc của vũ trụ hay “cõi hỗn mang” ban đầu (dẫn
theo Trần Liên Sơn, Trung Quốc 2012): Thần
thoại kể về việc dùng đất sét nặn người rất phổ biến ở các dân tộc trên thế giới.
Trong thần thoại Hy Lạp, thần Prometheus cũng dùng đất sét bên bờ sông để nặn
người, ông dựa theo hình ảnh phản chiếu trên mặt nước để nặn ra loài người, cho
nên thần linh và loài người có vẻ ngoài giống nhau. Người Trung Quốc thiêng hướng
cho rằng nữ thần tạo ra loài người, bởi nó phù hợp hơn với kinh nghiệm thực tế,
người nữ sinh con [3; 15]. Công năng của các vị thần tạo nên thế giới muôn
loài chỉ là “sáng tạo loài người” “vá trời” và dạy dân chúng trồng trọt, khai
sinh nên các phương thức sinh hoạt đầu tiên. Ngược lại, thần thoại truyện kể
sáng thế các dân tộc Việt Nam, sau khi vượt qua ranh giới “thần” thì các thế hệ
được tạo ra từ các cặp vợ chồng đầu tiên chính là con người hoặc dân tộc trên
lãnh thổ.
Như vậy, căn cứ theo cách tiếp cận về thể loại
thần thoại trong văn học dân gian mang yếu tố huyền thoại sáng thế, đây là công
cuộc khởi đầu cho các thể loại văn học dân gian khác. Bởi tính chất di truyền
thể loại có điểm tương đồng về nội dung, sáng tạo và hình thành nên thế giới
muôn loài và sau đó là sự ra đời của các truyện kể dân gian như: truyện cổ
tích, truyền thuyết và các giai thoại,...
2. Dấu ấn của huyền thoại
sáng thế trong truyện Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân Âu Cơ và sử thi Đẻ đất, đẻ nước
qua nhân vật mang dáng dấp cổ mẫu và
motif
2.1. Nhân vật mang dáng dấp cổ mẫu về cặp vợ chồng đầu
tiên
Cổ mẫu theo từ điển văn học được định nghĩa
[Anh; Archetype] – mô hình, hình ảnh đầu tiên], trong thuật ngữ hiện hành “cổ mẫu”
theo từ nguyên học không xuất phát từ cách gọi Hán Việt mà đó là cách dịch của
các nhà Việt ngữ học hiện đại trong việc tiếp nhận hệ tư tưởng và lý thuyết văn
học từ bên ngoài. Ở Trung Quốc, cổ mẫu được cố định bằng thuật ngữ “Đồ đằng” (圖騰 /tú téng/) được chuyển
dịch theo Hán ngữ hiện đại có nghĩa là “vật tổ” hay totem giáo. Vật tổ hay cổ mẫu
hoặc đồ đằng theo cách gọi của nghiên cứu tại Trung Quốc đều có nghĩa chức năng
như nhau, nhưng thường mỗi một vật tổ phải đi kèm với sự lý giải một chỉnh thể
văn hóa như: rồng, chim phụng hoàng, núi Côn Lôn, hồ lô,...
Trong bộ ba tác phẩm mang dấu ấn sáng thế nêu
trên đều có sự xuất hiện của cặp vợ chồng đầu tiên tạo tác nên thế giới muôn
loài. Xét về yếu tố nhân vật chức năng, trong các huyền thoại của các nền văn học
khác cặp vợ chồng đầu tiên mang dáng dấp cổ mẫu, là vật mẫu hình tượng biểu
trưng và cũng là thần linh được dân gian tôn thờ. Trong bài viết Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam, tác
giả Nguyễn Thị Thanh Xuân khái quát tiến trình hình thành cổ mẫu trong văn học
dân gian đến sự thoát thai trong văn học viết: Tuy nhiên, trong khi đọc tác phẩm, người viết nhận thấy dù cổ mẫu Trời
đã xuất hiện rất sớm trong huyền thoại (Thần Trụ trời, Bánh chưng bánh dầy..)
và tiếp tục lưu dấu trong văn chương (Tản Đà, Hầu trời, Tiễn Ông Công lên Trời…),
nhưng trong tương tranh với Nước để được sánh đôi cùng Đất, cổ mẫu Trời
đã có phần lép vế, dấu ấn của nó nhoè đi, và cặp cổ mẫu văn chương Đất Nước trội
lên, khi xoắn xuýt, khi tạm rời, làm nên ám ảnh: Con Rồng cháu Tiên, Chử Đồng Tử,
Trương Chi, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Thiếu phụ Nam Xương, Thơ Hồ
Xuân Hương, Thơ Tản Đà, Thơ Bùi Giáng, Truyện Nguyễn Huy Thiệp… [5]. Sự dẫn
giải khái niệm này tuy được trích lọc ở đây có thể thấy sự tiến triển của cổ mẫu
thành biểu tượng văn chương phổ biến ở giai đoạn cổ điển và hiện đại. Lập luận
về lý thuyết cổ mẫu trong cách lý giải của nhà phân tâm học Jung, tác giả Chu
Xuân Diên chỉ ra được khái niệm cổ mẫu có sự liên đới kết nối với huyền thoại: Cổ mẫu không phải là khái niệm, thuật ngữ do
Jung sáng tạo ra. Nó đã được sử dụng từ rất lâu và ý nghĩa là những hình thức
nguyên thủy mà từ đó những bản sao được thực hiện. ông viết “cổ mẫu là đúng và
hữu ích bởi vì nó cho chúng ta biết rằng những nội dung vô thức tập thể có liên
quan khi chúng ta xem xét những hình ảnh cổ xưa, hoặc đúng hơn hình thức nguyên
thủy, tức là những hình ảnh chung tồn tại từ những thời đại xa xưa nhất” [1; 30]. Dấu ấn cổ mẫu nào trong thể loại tự sự thần thoại dân gian Việt
Nam và cả sử thi đang khảo sát trong bài viết này có đặc trưng lớn mạnh và có ảnh
hưởng nhiều nhất? Đó còn là đường dẫn dài về các góc độ nghiên cứu theo các tác
phẩm chịu ảnh hưởng bởi tư duy huyền thoại và vô thức. Nhưng đi tìm cổ mẫu về cặp
vợ chồng đầu tiên trong bộ ba tác phẩm, có thể dễ dàng nhận thấy rằng đều xuất
hiện cặp vợ chồng đầu tiên và tiến trình trung gian tạo nên thế giới mới. Chúng
tôi tạm thời thiết lập qua bảng biểu sau một cách tóm gọn:
Lạc Long Quân
|
Truyện Quả bầu
|
Đẻ dất đẻ nước
|
Lạc Long Quân và Âu Cơ
|
Cặp vợ chồng người đi
rừng
|
Ông Thu Tha bà Thu
Thiên
|
Đẻ trăm trứng sinh
trăm con
|
Con vật thiêng dự báo
biến cố
|
Sinh ra từ cây thiên
chọc trời
|
Cổ mẫu được tôn thờ
trong dân gian
|
Không rõ nguồn gốc, do
sự sáng tạo khách quan từ dân gian
|
Cổ mẫu được tôn thờ và
lưu giữ qua các bản của thầy Mo dân tộc Mường.
|
Bảng 2.1a – Nhân vật cổ
mẫu
Nhấn mạnh hình ảnh mang đậm nét nguyên thủy để
có thấy được các điển hình này được xê dịch gần với lý thuyết cổ mẫu và có sự
biến hóa theo không gian sắc màu huyền thoại. Lạc Long Quân được xem như thần
thoại lịch sử, nhưng xét trong ý nghĩa qui châm là huyền thoại sáng thế, là câu
chuyện như tiền đề lưu truyền về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Mẫu gốc về hình ảnh
vợ chồng Lạc Long Quân và Âu Cơ được giữ nguyên yếu tố “thần” cho nên việc cổ mẫu
này tạo tác nên thế giới và con người được tin tưởng là chân nguyên và bất biến.
Tương tự, đó là trường hợp của Đẻ đất đẻ nước, hình tượng mẫu gốc hai vợ chồng:
Cành chọc trời là con đầu
Tên gọi ông Thu Tha
Cành bung xung là con thứ
hai
Tên gọi bà Thu Thiên
Hai ông bà nên đôi lứa [4; 10,11]
Chức năng thần linh ở các cặp vợ chồng đầu tiên
hết sức quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng. Chi tiết nguồn gốc thần linh ở các
cặp vợ chồng đầu tiên trong bộ ba tác phẩm mà chúng tôi đề cập đến đó đều là những
hình tượng vĩnh cửu trong văn hóa cộng đồng. Duy chỉ có truyện Quả bầu do tính
chất sáng tạo từ câu chuyện dân gian nên yếu tố thần bị mất. Mặt khác, không
gian tồn tại của cặp vợ chồng người đi rừng cũng là không gian sinh hoạt và con
vật thiêng (con dúi, có dị khảo chép là con tê tê) nhằm tạo ra sự kiện chấm dứt
giai đoạn tiền sử và tạo nên cộng đồng dân tộc mới. Cho nên, trong thần thoại Lạc
Long Quân, cả hai đều có nguồn gốc là Tiên – Thần, cho nên nòi giống và dân tộc
được sinh ra cũng mang ảnh hưởng của huyền thoại sáng thế đến tâm thức về sau.
Khái niệm “con rồng cháu tiên” cũng xuất phát từ câu chuyện thần huyền sáng thế
xưa kia mà trong quá trình sáng tạo nên thần thoại, dân gian đã gán ghép cho hậu
thế cách hiểu tâm lý và niềm tin bất di bất dịch. Song song yếu tố thần, cặp vợ
chồng đầu tiên trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường (chương II và III)
cũng mang yếu tố thần linh rõ rệt, bằng việc khẳng định chức năng thần của
chính mình trong tư duy sáng tạo của dân gian. Nhân vật được gán ghép chức năng
thần sáng tạo nên muôn loài:
Hai ông bà nên đôi lứa
Truyền cho
Con gà có cựa
Dây dưa biết leo
Tre pheo có gai có ngọn
Con người biết nói
Khi đó dưới đất không
còn rời rạc
Dưới nước không còn bùng
nhùng
Trời không mông lung
Trông lên ngó xuống đã
có nơi, có chốn [4; 11]
Trong khía cạnh chức năng thần của cổ mẫu, chúng
tôi không chủ trương khai thác yếu tố kỳ ảo trong nội dung tác phẩm. Yếu tố kỳ ảo
xuất hiện song song với quá trình biến hóa và thay đổi của cốt truyện khi sự
chuyển biến để tạo tác nên thế giới, đó có thể là điều kiện cần để tác giả dân
gian thực hiện khả năng “sáng tạo” của mình trong sáng tác tập thể. Mặt khác
trong tư duy huyền thoại, yếu tố kỳ ảo xuất hiện cũng là minh chứng cho đời sống
cảm xúc thiêng về cảm tính của tư duy thượng cổ.
2.2. Motif
Motif hay còn được gọi là “mẫu đề” theo khái niệm
được chuyển dịch từ tiếng Pháp và tiếng Hán hiện đại (mẫu đề, thuật ngữ văn học
Trung Quốc). Theo cách hiểu phổ thông mà chúng tôi tiếp cận, motif có nghĩa là những
chi tiết và sự việt được hình tượng hóa và trở thành một mẫu số chung được sử dụng
trong các thể loại văn học, cụ thể ở đây là bộ ba tác phẩm mang dấu ấn huyền
thoại sáng thế. Motif sáng thế được phân hướng thành các mẫu đề gốc, là bộ công
thức chung trong tư duy huyền thoại để câu chuyện được kể mang màu sắc huyền ảo
và kỳ bí, không thể lý giải. Các motif quen thuộc trong bộ ba tác phẩm đó là:
“quả bầu mẹ”, bọc trăm trứng và sinh trưởng bất thường của các vị thần. Chúng
tôi tạm thiết lập một mô hình quan sát sau về các mẫu mô típ phổ biến trong tác
phẩm đang khảo sát:
Loại hình motif
|
motif bọc trăm trứng/
quả bầu mẹ
|
motif tái sinh
|
motif giấc mơ
|
motif con vật thiêng,
dự báo
|
Lạc Long Quân
|
x
|
|||
Quả bầu mẹ
|
x
|
x
|
||
Đẻ đất đẻ nước
|
Bảng 2.2b – motif loại hình (Ký hiệu “x” có sự xuất hiện của loại hình motif
trong tác phẩm)
2.2.2. Motif dự báo
Sự tiên liệu hay dự báo trong câu chuyện huyền
thoại sáng thế đó là cảnh quan để tạo tác nên một thế giới cảnh quan mới. Trong
bộ ba tác phẩm khảo sát, chúng tôi tiếp cận và tìm ra được motif dự báo và trận
hồng thủy trong Truyện quả bầu và Sử thi đẻ đất đẻ nước.
Thông qua hình tượng con vật thiêng trong Truyện
quả bầu, con vật có thể nghe và hiểu tiếng người và cầu xin tha mạng sống với
điều kiện dự báo tiên liệu về trận hồng thủy sắp diễn ra. Hai vợ chồng người đi
rừng nghe theo lời con vật và chuẩn bị, sau khi nước rút họ trở lại cuộc sống
và cuối cùng đi đến kết thúc truyện bằng motif quả bầu sinh ra các dân tộc với
đặc điểm khác nhau. Motif dự báo trong đẻ đất đẻ nước mờ nhạt và thiếu tính suy
nguyên về cổ mẫu “nước” hơn truyện quả bầu. Trong sử thi, chương II Đẻ nước có
mô tả về quan cảnh dự báo sắp diễn ra biến cố làm thay đổi và tái tạo, bổ khuyết
thêm các sự vật tự nhiên lẫn hình thái ý thức vật chất:
Con gà gáy trên rừng xao
xác,
Con ác gáy trên núi toang toang.
Mặt trời lên sáng rừng sáng bãi
Sáng cả chín đất mười phương
Làm mùa không ra rơm,
Lưới chài không ra cá
Nóng quá
Đất xác xơ […]
Ông Pồng Pêu ao ước,
Ước ơi là ước
Ước sao được một trận mưa […]
Mưa liền chin ngày,
Mưa gãy cành bẻ lá [4;
15]
Motif
dự báo trong cách kiến giải của sử thi chủ yếu dựa vào yếu tố thần, đó là Pồng
Pêu. Chức năng dự báo của motif theo hình thức không về đặc trưng chủ yếu kiến
sự hình thành cổ mẫu – nước. Nội dung của chương III (sđd) chủ yếu nói về sự
sáng tạo nên yếu tố vật chất nước trong sự bổ sung cho quá trình hình thành đất
(chương I) trật tự nguyên lý của sử thi. Motif dự báo theo sử thi Đẻ đất đẻ nước
cũng có thể được xem là tính năng làm nên một sự chuyển biến trong cách nhìn cổ
xưa với thế giới tự nhiên và việc lý giải nó, biến cách lý giải thành tác phẩm
lưu truyền trong dân gian nhưng màu sắc sử thi, hùng tráng.
3. Dấu ấn huyền thoại
sáng thế trong truyện Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân Âu Cơ và sử thi Đẻ đất đẻ nước
qua cốt truyện và tư tưởng chủ đề
3.1. Sự nhất quán trong cốt truyện
Cốt truyện là một trong những thành tố quan trọng
trong tác phẩm tự sự dân gian. Trong thần thoại và sử thi, hầu như yếu tố cốt
truyện đóng vai trò là bàn cân giữa các yếu tố tự sự khác như: đối thoại, nhân
vật và không gian thời gian trong tác phẩm huyền thoại.
Sơ bộ về cấu tạo cốt truyện của ba tác phẩm, về
sự diễn tiến cốt truyện đều bắt đầu từ một nhân vật người kể chuyện giấu tên. Giới
thiệu về từng chi tiết các nhân vật chính, sự kiện chính gắn với nhân vật, biến
cố chính và cuối cùng đi đến kết thúc và kèm theo lời qui châm nhằm định hướng
cách hiểu cho đối tượng tiếp nhận. Sự diễn tiến cốt truyện này phải chăng đặt
ra dấu chấm hỏi cho việc xây dựng của tác giả dân gian mang sự sắp đặt có chủ
đích hay là sự sáng tạo theo tâm thức duy tâm, huyền thoại? Đó cũng là vấn đề
mà chỉ có thể ẩn sâu trong các lý thuyết về đặc trưng truyện kể và văn học dân
gian, mà trong dấu ấn huyền thoại đã để lại cho những câu chuyện sáng thế cốt
truyện được qui nguyên và cố hữu.
Cốt truyện trong Lạc Long Quân và Đẻ đất đẻ nước
có sự nhất quán trong cách xây dựng nên việc hình thành cặp vợ chồng có yếu tố
cổ mẫu. Đó là yếu tố thần linh trong sự thoát thai từ tư duy duy lý khoa học từ
con người. Sự thần thánh hóa cổ mẫu giúp cho các câu chuyện huyền thoại mang
màu sắc thần bí và đi đến sự nhất quán trong cách kể và phương thức lưu truyền
và sáng tạo. Tác giả Nguyễn Hùng Vĩ chỉ ra phương thức kết hợp giữa các vị thần
linh sáng tạo nên muôn loài: Câu chuyện về
cuộc hôn phối giữa Lạc Long Quân (giống rồng) và Âu Cơ (giống tiên – chim) và
mô típ bọc trăm trứng nở ra trăm con trai mà chúng ta vẫn quen thuộc là kết quả
của một quá trình phát triển xã hội lâu dài, các lớp thần thoại cổ đã được truyền
thuyết hóa, đáp ứng nhu cầu nhận thức về dân tộc phong kiến. Trên văn bản của
nó, tinh thần thần thoại chỉ vang lên khá mờ ảo. Song cũng có thể từ đó, ngược
nguồn so sánh với thần thoại các dân tộc anh em để thấy được những giá trị thần
thoại đích thực, những tín ngưỡng tô tem, mô típ quả bầu mẹ hoặc trứng thiêng
sinh ra loài người hiện nay. [2; 41].
Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm có sự nhất quán về kiểu
truyện và yếu tố phụ thuộc nhân vật khác nhau vào điều kiện văn hóa và tư duy về
sự hình dung con người và vũ trụ. Ở truyện Quả bầu, cách hình thành nên cộng đồng
thông qua phương thức motif quả bầu, có thể được so sánh tương đồng với mô típ
bọc trăm trứng của Âu Cơ trong thần thoại Lạc Long Quân. Quả bầu và bọc trăm trứng
đều mang tư tưởng chủ đề về chỉnh thể “đồng bào” trong nguồn gốc dân tộc. Trong
thể loại sử thi, do đặc trưng thể loại viết bằng thơ và nội dung về cốt truyện
do chính cộng đồng dân tộc Mường sáng tạo và tư duy theo hình dung về thế giới
và các vị thần của dân tộc. Nhân vật Thu Thiên và Thu Tha mang dáng dấp cổ mẫu,
cùng gốc thần linh cho nên chỉ có thể đối sánh về nguồn gốc xuất thân. Ngược lại
trong truyện quả bầu và Lạc Long Quân chỉ có sự hình thành cộng đồng con người,
dân tộc anh em không có chức năng sáng tạo nên sự vật tự nhiên (mặc dù Lạc Long
và Âu Cơ về bản chất vẫn có chức năng sáng tạo).
Như vậy, sự nhất trong quán trong cách kể huyền
thoại của hai câu chuyện thần thoại đều có sự qui hợp về yếu tố nguồn gốc sản
sinh cộng đồng theo phương thức tư duy tâm lý. Không quá chú trọng đến hình thức
tư duy về cách kể duy lý khoa học của sự hình dung về thế giới con người và
phương thức sinh sản tự nhiên. Với yếu thần, sử thi Đẻ đất đẻ nước cũng chứng
minh cho điều kiện tạo tác thế giới muôn loài, đóng vai trò sáng thế. Quả bầu mẹ
với motif dự báo, bào thai chung là hình ảnh quả bầu chứa đựng các dân tộc anh
em đã góp phần với việc thống nhất cốt truyện chung cho câu chuyện huyền thoại
sáng thế điển hình.
3.2. Sự việc chính lí giải về sự hình thành thế giới
tự nhiên, nguồn gốc của tộc người
Sự việc chính trong bộ ba tác phẩm để truy
nguyên, lý giải về sự hình thành thế giới tự nhiên, nguồn gốc của tộc người
theo các hình dung cổ đại, nguyên thủy. Cách hiểu theo tư duy nguyên thủy đã có
sự ưu ái cho niềm tin tâm lý thiêng về cảm xúc và chắc chắn hơn tư duy khoa học
hiện nay.
Có thể nói, không có một
hoạt động văn hóa nào để chinh phục tự nhiên mà không được các dân tộc nhận thức
bằng thần thoại [2;44], thật sự trong cách quán chiếu với sự vật tự nhiên sẵn có trong tầm
mắt cổ xưa, các cộng đồng dân tộc với tư duy huyền thoại vào niềm tin tâm lý đã
giúp cho các sự kiện chính trong câu chuyện thần thoại và sử thi được quyền lý
giải về nguồn gốc tự nhiên và con người. Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra bọc
trăm trứng, trăm trứng nở thành trăm người con khỏe mạnh, năm mươi theo cha và
năm mươi theo mẹ, sự phân chia ấy và cách thức tạo tác nên con người có phần dựa
vào sự kết hợp tự nhiên, hoạt động tính giao thời kỳ đầu. Truyện quả bầu, với
chi tiết quả bầu là sản phẩm sáng tạo dựa trên yếu tố tự nhiên. Hình ảnh quả bầu
với ý nghĩa tròn đầy, chứa đầy các sinh thể hạt giống sinh sôi, phải chăng sự
tưởng tượng và hình thành sáng tạo từ quả bầu làm thành các dân tộc đó cũng là
chủ ý của tác giả dân gian để lý giải sự hình thành nguồn gốc của tộc người.
Truyện quả bầu có cách lý giải vể nguồn gốc hình thành tộc người theo trình tự
hơn. Những con người đi ra từ quả bầu lần lượt là các dân tộc ở Việt Nam, ngay
cả sự lý giải hình thái “màu da” cũng là ý thức gán ghép tự nhiên theo cách hiểu
của chủ thể sáng tạo. Sử thi Đẻ đất đẻ nước gợi nên không gian sử thi, nơi đó
là không gian tự nhiên nhưng tráng lệ. Tạo vật được hình thành dưới sự kêu bảo
của cặp vợ chồng cổ mẫu có chức năng ban hành thế giới tự nhiên được hình thành
theo đặc tính sẵn có.
Nhìn chung, cách lý giải về tự nhiên và nguồn gốc
con người và dân tộc đó là cách hiểu tư duy cổ sơ và một phần dựa vào các điều
kiện tự nhiên. Yếu tố quan trọng nhất vẫn là mẫu gốc cặp vợ chồng đầu tiên: Đa số các tộc người khác, với một số tư duy
có thể duy lý hơn, tưởng tượng sự ra đời của vũ trụ như kết quả sáng tạo hoặc
sinh đẻ của cặp vợ chồng thần linh. Đó chính là Ông Thu Tha, bà Thu Thiên của người Mường, ông Chày bà Chày của người
Hmông [2; 38]. Điều đáng lưu ý trong huyền thoại sáng thế ở Việt Nam đó là
không có sự xuất hiện của ý thức phân chia giai tầng xã hội, mà chỉ có sự mô phỏng
tái hiện lại của cộng đồng và thế giới. Thần thoại và truyền thuyết Trung Hoa
nói về cách thức sáng tạo nên thế giới loài người qua hình tượng nhân vật Nữ Oa
nặn bùn thành người: Nữ Oa lấy đất vàng từ
mặt đất, trộn với nước, nhồi thành đất sét. Bà dùng đôi tay khéo léo nặn đất
sét thành hình người, rồi ban cho chúng sinh mệnh. Vì số người nặn ra quá nhiều
nên Nữ Oa rất mệt mỏi, thế là bà khuấy đất sét thành bùn nhão, rồi ngâm dây thừng
vào trong đó. Sau đó bà rút dây thừng lên, giơ lên cao vẩy xuống. Bùn rơi xuống đất lập tức biến thành người. Ai
được nặn từ đất sét trở thành người giàu sang, phú quý, ai được làm từ bùn nhão
thì trở thành người nghèo khó, hèn mọn [3; 14, 15]. Giải thích ở đặc điểm hy hữu này,
có thể hiểu theo chiều dài lịch sử và không gian văn chính trị chi phối thần
thoại sáng tạo trong văn chương ở hai nền văn học. Đất nước Trung Hoa với chiều
dài lịch sử và cục diện chính trị phức tạp, quá trình sáng tác và lưu truyền
tác phẩm dân gian do các học giả theo tư tưởng Nho học biên tập và có thể chính
học giả thời kỳ biên tập thần thoại chịu chi phối chính từ tư tưởng và giáo dục
lẫn chính trị. Trong khi đó điều kiện lịch sử ở Việt Nam dễ chịu hơn, sinh khí
hỗn mang thời kỳ dựng nước và lập quốc mang dấu ấn thị tộc cộng đồng. Thể chế
chính trị và hệ tư tưởng triết học chưa hình thành và chịu sự ảnh hưởng cũng
như chi phối từ các yếu tố văn hóa đồng văn,… Cho nên huyền thoại sáng thế Việt
Nam dù ít nhiều vẫn mang yếu tố nguồn gốc của thần linh và sự kết hợp hài hòa với
tự nhiên rõ nét.
4. Kết luận
Sáng tạo thế giới và công năng của huyền thoại
sáng thế trong văn học dân gian đó là một trong những phương thức phản ánh tư
duy thượng cổ về thế giới quan, hình thái ý thức xã hội hỗn mang. Tư duy nguyên
thủy với niềm tin tâm lý đã cộng hưởng với nhau trong việc tạo tác nên câu chuyện
huyền thoại đặc sắc của dân tộc. Thần thoại Lạc Long Quân, truyện Quả bầu và sử
thi Đẻ đất đẻ nước tuy khác nhau về thể loại nhưng hình dung chung đó là bước
đi đầu trong câu chuyện nguồn gốc dân tộc được hình thành như thế nào qua cách
hình dung cổ xưa. Đó là hệ thống về tự sự, motif, sự việc, nhân vật và tư tưởng
chủ đề đã góp phần hình thành nên những câu chuyện lưu truyền trong dân gian lẫn
hình thức văn bản hiện nay. Do đó, dấu ấn huyền thoại sáng thế trong văn học
dân gian Việt Nam tuy không đậm nét khai sinh thế giới và giữ vai trò đồng vọng
nhiều như trong thần thoại Hy lạp, Ấn Độ, Trung Quốc,.. Nhưng huyền thoại sáng
thế Việt Nam là dấu mốc cho thời kỳ mà dân tộc được định hình, sống chung và giữ
vai trò là hình thức đầu tiên trong thể loại văn học dân gian.
Tài liệu tham khảo
1
Chu Xuân Diên, Huyền thoại và văn học – chuyên đề cao học,
tài liệu đánh máy, Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM
2
Lê Chí Quế chủ biên,
Văn học dân gian Việt Nam in lần thứ IV,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H.1999
3
Trần Liên Sơn, Truyền thuyết thần thoại Trung Quốc,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM, 2012.
4
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Tổng
tập Văn học Việt Nam trọn bộ 42 tập – tập 41, NXB Khoa học Xã hội,
H.2000
5
Nguyễn Thị Thanh Xuân, bài viết Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt
Nam, nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-va-phe-binh-van-hoc/122-i-tim-c-mu-trong-vn-hc-vit-nam.html, truy cập ngày
18/5/2020; 23h17’
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét