ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI DÂN NAM BỘ QUA TẬP TRUYỆN NGẮN HƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM
Trịnh Ngõa Nguyễn Khánh Duy
1. Đặt vấn đề
Trong số các sáng tác của nhà văn Sơn Nam, tập truyện “Hương rừng Cà Mau” nổi bật lên với những hình ảnh miêu tả về con người và vùng đất phương Nam. Những sinh hoạt thường kỳ là nghi thức lễ hội và phương thức sinh hoạt, canh tác nông nghiệp trong sự tái hiện của nhà văn hết sức sinh động và giàu cá tính Nam bộ. Các giá trị về phương diện đời sống tinh thần của người dân Nam bộ từ thuở khai hoang cho đến hiện tại vẫn còn được bảo lưu qua ngòi bút sắc xảo của Sơn Nam.
Nam bộ nói chung và đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng là vùng đất trù phú với hệ sinh thái tự nhiên giàu sản vật, thiên nhiên ban tặng cho vùng đồng bằng này với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu làm hai chi lưu chính tạo nên nét văn minh miệt vườn độc đáo. Chính bởi yếu tố tự nhiên này làm cơ sở cho hệ thống địa vật nơi đây giàu có và đa dạng phong phú, những con kênh rạch và ghe xuồng làm phương tiện di chuyển chính trong sinh hoạt của người đồng bằng sông Cửu Long xưa và nay; những giồng đất cát do phù sa bồi tạo ven các nhánh sông lớn làm nơi định cư cho lưu dân từ những ngày đi mở đất và lập làng khai phá thiên nhiên hoang dã nhiệt đới đầy gian nguy. Được thành quả như ngày hôm nay, Nam bộ như một công cuộc chinh phục tự nhiên đáng tự hào của người Việt ngày xưa.
Trong quá trình khẩn hoang lập làng ấy, những người dân đồng bằng xưa hầu như thiếu thốn mọi cơ sở sinh hoạt giải trí, đời sống tâm hồn và sinh hoạt nghệ thuật bị hạn chế bởi nhiều nguyên nhân như thời cuộc, hoàn cảnh kinh tế và tự nhiên quá khắc nghiệt. Chính bởi những thiếu thốn cần phần bù đắp này, người dân đồng bằng sông Cửu Long đã tự tạo cho mình đời sống tâm hồn riêng biệt, dần dần thành tính cộng đồng. Họ sáng tác nên những điệu hò làm tín hiệu giao tiếp để đối đáp với nhau khi chèo xuồng trên kênh rạch, những câu hát đối vừa để trao duyên, vừa thúc giục cùng nhau lao động sản xuất, câu ca dao, tục ngữ mang tính đúc kết kinh nghiệm trong quá trình khai phá thiên nhiên hoang sơ của vùng đồng bằng này,.. Tất cả tạo nên diện mạo đời sống tinh thần phong phú đa dạng của người dân đồng bằng xưa độc đáo. Được mệnh danh là Nhà Nam bộ học, nhà văn Sơn Nam (1926-2008) với tư cách là người con đồng bằng sông Cửu Long trong những năm kháng chiến chống Thực dân Pháp, ông đã dùng ngòi bút sáng tác và tình yêu dành cho mảnh đất cực nam Tổ quốc một cách tự nhiên và độc đáo qua khối lượng sáng tác chuyên biệt về vùng đất Nam bộ. Tập truyện ngắn đặc sắc Hương rừng Cà Mau của nhà văn đã chứng minh cho tình yêu ấy. Không chỉ dừng lại ở mảng đề tài yêu nước trong tác phẩm, tập truyện ngắn còn là cái nhìn đa phương diện về đời sống tự nhiên, kinh tế, văn hóa tinh thần của con người vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Bài viết này khảo sát một số truyện ngắn trong tác phẩm Hương rừng Cà Mau trên tinh thần khai thác những nội dung chứa đựng các đặc trưng và biểu hiện đời sống tinh thần, tình cảm của người dân đồng bằng Sông Cửu Long trong quá trình khai phá khẩn hoang.
2. Nội dung
Tác giả Huỳnh Thị Lan Phương đã từng viết Nam bộ được xem là nơi giàu của cải nhưng nghèo chữ nghĩa(1). Thật vậy, con người Nam bộ nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đều ít chịu ảnh hưởng bởi lễ giáo phong kiến như Bắc bộ và có phần thiên về tư tưởng “an phận thủ thường”. Đổi lại, con người Nam bộ xưa không mấy mặn mà với con đường cử nghiệp mà lại rất chí thú với công việc đồng án sản xuất nông nghiệp và khai thác các sản vật từ thiên nhiên. Họ xem cơm áo là mục tiêu trước mắt giúp gia đình ấm no, lấy việc săn bắt các sản vật tự nhiên làm công việc trong lúc nông nhàn và đích cũng là sinh kế tạm thời lấy ngắn nuôi dài. Tuy nhiên, người dân Nam bộ nói chung đều ham thích cái đẹp, đam mê văn nghệ và thơ ca đối đáp.
2.1. Sáng tác văn nghệ giải trí; tình yêu quê hương và yêu nước sâu sắc
2.1.2. Hát đối trao duyên, giải trí
Người Nam bộ đam mê văn nghệ, ca hát ngay từ khi lọt lòng mẹ, khi những câu hát ru của người mẹ dần dần theo bước trưởng thành của con người và tạo nên ký ức, dấu ấn đẹp đẽ:
Ầu ơ,.. Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại, chịu lời đắng cay..
Truyện ngắn “Con Bảy đưa đò”, tác giả miêu tả nhân vật cô Bảy là người con gái ở xứ Cần Thơ “gạo trắng nước trong”, cô bảy xuống Rạch Cái Mau gặt mướn và định cư, làm nghề đưa đò. Trời phú thay, cô có ngoại hình ưa nhìn và có giọng hát ngọt ngào, say đắm: Con Bảy có gương mặt chữ điền, có con mắt đen láy và vóc hình cao ráo; Giọng hát của người con gái đưa đò thì: Nó xa lạ nhưng quen thân, ấm áp. Khi cất lên thì nó cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh, giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, rung chuyển cả mặt nước dẫu khi thuyền đã xa khuất. (trang 236). Chính giọng hát cao hơn tầm bay bổng của cô Bảy là tín hiệu nghệ thuật hiếm hoi giữa vùng rừng sớm thì chim kêu, chiều thì vượn hú đã khiến cho bao thanh nhiên xao xuyến và một lòng muốn gặp mặt cho đặng cho được chỉ với quan niệm xưa cũ lãng mạn: Người hát hay thường là có nhan sắc. Theo qui luật, một khi đã có tín hiệu nghệ thuật phát ra tức phải có hồi đáp. Sau bao nhiêu tìm tòi và cố gắng của các thanh niên trong làng để hồi đáp lại tiếng hát mê mẫn kia, thì cuộc sinh hoạt nghệ thuật diễn ra vừa tự nhiên, vừa tình tứ. Màn hát đối trên sông nước của cô Bảy và cậu con của Hương ấp diễn ra như làm tâm điểm đánh thức háo hức nghệ thuật trong lòng mọi người. Cuộc hát đối đó vừa có chút hài hước đánh đố bạn hát, vừa mang hàm ý trêu ghẹo nhau và mục đích là muốn bộc lộ tình cảm của bản thân cho bạn hát được am tường.
+ Bộc lộ tấm chân tình: Hò ... ơ ... Anh muốn gá chữ lương duyên với em trăm năm tình chồng nghĩa vợ. Mai sau anh có vô phần từ trần, xấu phước chết trước thì em ơi! ...(trang 237);
+ Hài hước, đánh đố nhau: Hò... ơ... Hột châu nhỏ xuống khoang hầm, em ơi! Phận gái phải có chồng nay mai; Hộ hôn, điền thổ, đổ lửa mái nhà, đứa nào muốn bậu ông bà cháy tiêu...(trang 238); Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời, thuở tạo thiên lập địa ông trời do ai sanh?, Nghe em hỏi tức, anh trả lời phức cho rồi, thuở tạo thiên lập địa hai đứa mình chưa sanh (trang 228);
+ Mong ước chân thành muốn cùng nhau kết nghĩa tình chồng vợ: Hò...ơ... Thân anh như con phụng lạc bầy, thấy em lẻ bạn anh muốn vầy duyên loan (trang 239).
Hát đối là thể loại diễn xướng dân gian bắt nguồn từ nhu cầu sinh hoạt nghệ thuật mang tính cá nhân khi con người cần thổ lộ tình cảm, cảm xúc đối với một sự việc thuộc về đời sống nội tâm – tình cảm. Hát đối chủ yếu nảy sinh và phát triển nhiều ở Nam bộ và trong các tác phẩm của nhà văn Sơn Nam đều có thể do các đặc điểm tự nhiên của vùng: chằng chịt kênh rạch, ghe xuồng qua lại và thường gặp mặt tạo nên các mối quan hệ quen biết với nhau. Các cuộc hát đối, hát huê tình giữa các đối tượng thanh niên nam nữ với nhau. Mục đích chính của những cuộc hát là giao lưu, thể hiện sự hiểu biết phổ thông của mình về đời sống tự nhiên sông nước Nam bộ, qua những cuộc hát đối đó, mỗi cá nhân có thể tìm được cho mình một đối tượng làm người tình, ý trung nhân cho tương lai. Bởi trong nội hàm câu hát kiểu sáng tác tại chỗ như thế phần nhiều hợp tình, hợp cảnh làm cho bạn hát cảm nhận và đồng cảm với nhau qua ca từ, lời hát. Tương tự như trường hợp của cậu con Hương ấp trong truyện Con Bảy đưa đò là minh chứng: Cậu trai đành chịu thua không đáp được. Về nhà sanh bệnh tương tư (trang 238).
Chân dung của những cuộc hát hò đối đáp với nhau là vậy, cho thấy rằng ở đồng bằng Nam bộ mặc đây là vùng đất mới, nhưng ở đây loại hình hát đối cũng tương quan với dân ca Quan Họ ở đồng bằng Bắc bộ. Ở vùng đất nào thì chất liệu ca hát cũng diễn ra ngay trên nền của một không gian sinh thái yên bình, đậm chất dân gian – điều đặc trưng nhất ở Việt Nam ta.
2.1.3. Tình yêu quê hương sâu sắc
Khi còn trẻ, người dân Nam bộ hò hát trao duyên, tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Khi lớn tuổi, họ hồ hởi ca hát tạo niềm tin yêu lạc quan của mình giữa vùng châu thổ trù phú, nói lên tinh thần tự mãn tích cực. Song song đó, đời sống tinh thần của con người không chỉ xuất phát và kết thúc ngay trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn này, tình cảm quê hương trong tâm hồn mỗi người dân vùng đất cực nam Tổ quốc luôn sống nội sinh ngay trên cả xứ lạ quê người. Nhân vật ông Tư trong truyện ngắn Thơ núi Tà Lơn đã kể cho chính tác giả nghe về chuyện đời của gia đình ông một cách tự nhiên, súc tích chan chứa tình yêu quê hương: Cha mẹ tôi mất hết rồi, còn người anh hiện giờ trên năm mươi tuổi đã có cháu nội ở Tam Giang. Anh tôi là người lang bạt kỳ hồ. Năm đó anh bỏ nhà trốn nợ tận núi Tà Lơn bên Cao Miên,... Năm sau, ảnh trở về với cái quần xà lỏn dính da. Lúc uống rượu, ảnh đọc thuộc lòng bài vè gọi là vè Tà lơn (trang 851). Nội dung câu chuyện gia đình tưởng chừng như giản đơn của ông Tư này lại bao hàm biết bao ý tứ của một người con đất phù sa phải trôi nổi lang bạt kỳ hồ tìm kế sinh nhai. Bài vè mà tác giả đã xác định đúng tên thể loại là “thơ” ngay trong tiêu đề tên của truyện ngắn Thơ núi Tà Lơn, có lẽ đây là ngụ ý nghệ thuật của nhà văn để miêu tả câu chuyện của người anh của nhân vật Ông Tư.
Tà Lơn xứ rày con ở tạm,
Làm lưới chày ngày tháng náu nương.
Gởi thơ về cho cha mẹ tỏ tường,
Cùng huynh đệ đặng cho hãn ý (...)
Bài vè tương đối dài làm theo thể song thất lục bát biến thể, đôi khi có chỗ chen vào những câu thất ngôn và sử dụng yêu vận làm cho nhịp thơ lên xuống thất thường và giọng điệu như uất ức, nghẹn ngào khó tả. Nhìn chung tổng thể bài vè vần nhịp giống như các câu hát trong Cải lương, nội dung biểu hiện một thứ tình cảm đặc biệt, cao thâm hơn tình cảm trai gái, bạn bè. Đó là tình cảm gia đình – một dạng tình cảm phát sinh từ tâm niệm và tiềm thức con người sâu sắc. Ở đây, nhân vật trữ tình trong bài thơ đang ray rức về thứ tình cảm đó.
+ Nỗi nhớ nhung, tình cảm mẫu tử và huynh đệ thiêng liêng:
Kể từ thuở bôn trình vạn lý,
Đến bây giờ hơn bảy tháng dư.
Nghiêng mình nằm nhớ tới mẫu từ
Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt,
Nhớ huynh đệ lụy tuôn nước mắt,
Cam phận em ruột thắt từng hồi (...) (trang 851).
+ Bất lực trước hoàn cảnh, thời thế buột người phải xa xứ:
Vạn bất tề nên phải nổi trôi,
Thời bất đạt nên con xa xứ (trang 851).
Có thể nói, bài vè núi Tà Lơn lại không tập trung miêu tả cảnh sắc thiên nhiên của đối tượng chính được nói trong tiêu đề mà lại bày tỏ những ngổn ngang tâm sự quặn thắt của người con xa xứ. Nội dung bài thơ chứng minh cho tình cảm quê hương và gia đình ruột thịt trong đời sống nội tâm của con người đồng bằng Sông Cửu Long từ xưa và đến nay vẫn nồng nàn tha thiết. Mặc dù người khách trong bài thơ sống trên đất Tà Lơn – một danh từ chỉ địa danh với âm đọc nghe xa lạ bên Cao Miên nhưng trong lòng vẫn hướng về vùng quê cha đất tổ. Tình yêu nam nữ có thể phai nhòa theo thời gian, nhưng tình yêu quê hương vẫn mãi là hình ảnh khắc cốt ghi xương của con người – đây là biểu hiện ban đầu đặc biệt của lòng yêu nước.
2.1.4. Tính tình bộc trực thẳng thắn thích thơ Vân Tiên và thời sự
Trong chương trình giáo dục phổ thông trung học, sách giáo khoa Ngữ văn 12 (tập 2- nâng cao), bài đọc thêm Bắt sấu rừng U Minh Hạ có đoạn viết trong phần Tiểu dẫn như sau: Nổi bật lên trên cảnh thiên nhiên giàu có và dữ dội ấy là những người dân lao động tài trí, dũng cảm, hào phóng, trọng nghĩa khinh tài và mang đậm chất Nam bộ: hồn nhiên, cởi mở và yêu đời (mê vọng cổ, hát bội, kể Vân Tiên,...), cả tin, tính ngang tàn, bộc trực,... [1;110]. Nhận định trên của những nhà biên soạn sách giáo khoa làm hiện ra phong cách nghệ thuật của Sơn Nam : nhà văn chú ý đến từng tính cách của người dân, qua đó trong sáng tác của mình ông nghệ thuật hóa nó lên như một điển hình chung cho tính cách Nam bộ. Người Nam bộ vừa lao động sản xuất vừa giải trí trong không gian lao động ấy, truyện Nhứt phá sơn lâm kể về một lớp người thợ rìu chuyên đốn củi tràm ở làng Đông Thái, tỉnh Rạch Giá. Những tay thợ rìu với những cái tên chết danh gắn với địa danh nơi ở của từng người: Anh Tư Bình Thủy (địa danh Bình Thủy – Cần Thơ); Đó là giọng của anh Hai Cờ Đỏ. Gọi Cờ Đỏ vì không phải cầm cờ Cộng sản đi biểu tình, nhưng vì quê quán anh này ở Cờ Đỏ (địa danh Cờ Đỏ - Cần Thơ); có nhân vật tên được lấy từ nhân vật nổi tiếng trong truyện Tam Quốc : Ông Tư Châu Xương (Châu Xương, một tên hiệu của nhân vật Trương Phi truyện Tam Quốc). Qua lớp nhân vật này, có thể thấy nhà văn vận dụng tính cách bộc trực, thẳng thắn của con người Nam bộ trong cách đặt tên cho nhân vật: “Nhìn mặt đặt tên”, thích xem truyện Tam Quốc, có sau nói vậy – thật thà mà ngay thẳng.
Một khía cạnh khác, người dân Nam bộ luôn chú ý và ghi nhớ đến lịch sử, thích nói chữ Hán và tin vào tín niệm dân gian. Trong buổi chuyện với nhau của các tay thợ rìu, nhân vật Hai Cờ Đỏ nhắc lại tích Gia Long tẩu quốc bằng giọng kể dân dã, hóm hĩnh: Số là xưa kia .... Gia Long bị Tây Sơn rượt, ngài phải dùng ghe biển mà chạy từ Cà Mau ra Phú Quốc. (...) Ngài đứng trước mũi ghe, ngóng vào bờ mến tiếc lắm, vì ngài muốn làm vua ở đất liền chớ nào có mộng làm chúa ở cù lao...; Tôi nói ông Gia Long ngóng vô bờ, dòm dáo dác cái cụm rừng của tụi mình đương đứng bây giờ. Rồi ổng day qua nói với đình thần tả hữu: Sơn bất cao, thủy bất thâm, phù sa chi địa nhơn tác thành tu hú giả. Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá, cao phi viễn tẩu nan tàng... (trang 741). Ham thích và thuộc lòng truyện thơ Lục Vân Tiên như một di sản tinh thần: nhân vật Tư Bình Thủy đọc bài thơ Ông Tiều và lý giải về chuyện luân hồi như một tín niệm dân gian: Tay rìu đời nay là ông Tiều đời xưa đầu thai lại chứ gì. Câu nói bộc lộ sự cả tin vào những quan niệm sinh tử hết sức đơn giản, nhằm giải thích và cũng là lời tự an ủi về cái kiếp đốn củi nghèo nàn và nghề hạ bạc: Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá, Lưới trời lồng lộng không ai chạy khỏi: phá rừng, chài cá khiến con người phải nghèo mạt,... Nhưng những con người ấy lại có một Tấm lòng chẳng muốn của ai (truyện Lục Vân Tiên) – thật cao quí và đáng trân trọng. Qua hình ảnh các tay thợ rìu, họ là những người nông dân bị Thực dân và địa chủ tước đoạt ruộng đất, lâm vào tình cảnh phải trôi dạt đến rừng U Minh – nơi mà “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”, họ nghèo nàn và phải đối mặt với những hiểm nguy nơi rừng thiêng nước độc. Họ là những anh hùng vừa chinh phục tự nhiên, vừa khai phá những nơi hoang dã, mở rộng thêm bờ cõi cực Nam của Tổ quốc.
2.1.5. Hai loại kẻ thù nguy hiểm
Trong công cuộc khai phá và gìn giữ mảnh đất cực Nam Tổ quốc, người dân Nam bộ luôn phải đối mặt với hai loại kẻ thù: kẻ thù tự nhiên (thú dữ: cá sấu và hổ) và kẻ thù xâm lược (Thực dân Pháp và tay sai). Hai loại kẻ thù này giống nhau về bản chất đều hung dữ, khó đối phó, nhưng khác nhau về vị trí cư ngụ chính nghĩa. Kẻ thù tự nhiên xét cho cùng đó là các loài động vật tồn tại trên đất nước chúng ta, đó vừa là kẻ thù và là sản vật của thiên nhiên ban tặng. Con người do nhất thời phải định cư nên mới chống lại chúng, tìm cho mình sự yên bình, không vì vậy mà người ta không kính sợ chúng. Họ vẫn lập đền thờ thờ sấu, thờ cọp. Kẻ thù xâm lược là người mang dã tâm cướp nước, gây nên chiến tranh phi nghĩa tàn khốc cho một dân tộc và cướp đi chủ quyền, độc lập của họ. Trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, nhà văn Đoàn Giỏi từng nói về hai loại kẻ thù này qua tình tiết nhân vật An và bố nuôi khi chạm trán với hổ, An thúc dục bố nuôi nên dùng mũi tên tẩm độc của Võ Tòng bắn chết hổ. Người cha nuôi trả lời với An rằng Còn đề phòng thứ nguy hiểm hơn....cọp, đó là: Thằng Tây chứ con gì nữa... [5;197]. Trong tập Hương rừng Cà Mau, nhìn chung thái độ của người dân đối với Thực dân luôn dè chừng và cảnh giác cao độ. Mặc dầu khó có thể phản kháng lại loại kẻ thù nguy hiểm này nhưng người dân Nam bộ có một cách phản kháng gián tiếp và dí dỏm hơn. Đó là chế giễu chế độ Thực dân bằng nhiều hình thức khác nhau. Truyện Nhứt phá sơn lâm, nhân vật Ông Tư Châu Xương lý giải Tại sao lính Tây có mang mỏ neo ở bâu nói, tại sao trên đồng bạc trắng của Tây có chạm hình người đàn bà. Ông nói: Hai bên kịch chiến khá lâu. Lính Tây chết nhiều quá,... Thừa cơ, bên mình bắn súng như mưa bấc. Lính thủy Tây ráng sức kéo neo nhưng không xuể. Vì vậy, tàu chạy thối lui không được. Dè đâu, lúc đó trên tàu Tây một con đầm xuất hiện ra, tay cầm cờ phất tới. Đó là vợ của quan đề đốc đứng ra thay chồng để xua binh đổ bộ lần thứ hai. Nhờ vậy, Tây thắng, chiếm thành Long Hồ (trang 744). Nhân vật Tư Châu Xương vừa lý giải việc đồng bạc của Tây có in hình người phụ nữ, đồng thời ông cũng mượn chuyện này chế giễu chiến thắng của kẻ thù là nhờ vào phụ nữ, chế giễu người cầm quân của chính quyền Thực dân để vợ ra xua binh thay cho chồng. Đó là một chiến thắng đạt được trên tay của phái yếu, cho thấy một quân đội yếu thế và tính chất của cuộc chiến vừa phi nghĩa vừa lố bịch. Một hình thức phản kháng khác đầy ngạo nghễ của tầng lớp trí thức được nhắc đến trong đoạn đối thoại giữa nhân vật cô Bảy và người khách (truyện “Con Bảy đưa đò”:Hồi tháng sáu, Tây ăn lễ lộc gì đó, cụ Sử Hoành ở Sa Đéc không chịu treo cờ của nó trước nhà. Thiên hạ đồn, không biết hư thiệt ... rằng ngày lễ ấy cụ treo quần trước cửa để phản đối (trang 241). Tầng lớp trí thức ở Nam bộ xưa không nhiều, đa phần theo Tây học và một ít theo cựu học. Nhưng qua việc làm của cụ Sử Hoành cho chúng ta thấy tinh thần kháng Pháp của nhân dân quyết liệt đến mức độ họ khinh khi những lề lói, tập quán sinh hoạt của người Pháp đang diển ra trên đất nước chúng ta. Chẳng khác nào cụ Phan Bội Châu khi xưa ghét đến cả chiếc bánh mì của người Pháp:
Chiếc bánh não nùng mùi đất lạ,
Bát cơm đau đáu máu cha ông.
Thái độ khinh khi khi dùng văn chương để mắng đám Thực dân lại được cụ Tòng Hiên ở Bình Thủy không dùng miệng mà dùng chân để thực hiện: Ở Bình Thủy cụ Tòng Hiên làm bài thơ tự trào ... Lúc đề bài thơ ấy, cụ Tòng Hiên kẹp ngọn bút ở giữa hai ngón chân mà viết. Và vừa rồi ở Cái Răng có người bị tình nghi vì đã chép bài thơ “Vịnh chó chết trôi sông” của cụ cử Trị mà dán giữa nhà (trang 242). Nếu như nói không chỉ riêng con người kháng Pháp mà ở động vật cũng có thể kháng Pháp thì điều này duy nhất chỉ có trong sáng tác của nhà văn Sơn Nam mà thôi. Trong Chuyện tình một người thường dân (2) có đoạn: Ngoài ngã ba Hòn, cách đây đâu có xa, cất bót hổm rày. Cất nhà vừa xong, treo lên lá cờ tam sắc. Một con khỉ bắt của nhà thiên hạ, dọc đường lại thả ra, tụi nó nuôi cho vui. Con khỉ trèo lên cột, xé lá cờ. Có lẽ vì nó thấy màu lạ. Nhưng là điềm xui [5;27]. Qua chi tiết trên, người viết không phải đánh bóng sự việc tuy là tác giả có viết nhưng là điềm xui, nhưng nhìn chung cho thấy căng thẳng giữa nhân dân ta và Thực dân đã quá sâu sắc và căng thẳng.
Ở tầng lớp người dân nghèo như những tay thợ rìu trongNhứt phá sơn lâm tinh thần dân tộc cũng bừng sáng. Họ là đối tượng chính để bọn thực dân tay sai đàn áp, hà hiếp cướp hết ruộng đất do chính mồ hôi xương máu khai phá, đến mức phải bỏ quê hương tìm đường mưu sinh. Sống trong chế độ Thực dân, chính quyền thuộc địa nhưng những người dân đen ít học ấy không bao giờ khuất phục trước kẻ thù và luôn khẳng định chủ quyền đất nước. Tác giả miêu tả những suy nghĩ nhân vật khi họ chống lại bọn tay sai đê hèn: Xứ này xứ của Tây”. Mấy tiếng đó khiến cho ai nấy cười rộ lên, cười chua chát thiếu điều ra nước mắt.; Cho dù mình dốt nát không biết tích Gia Long tẩu quốc, tích Tây đánh thành Long Hồ, nhưng chắc chắn mình không bao giờ nói một câu quá trật như thằng cặp rằng đó (trang 747). Thái độ kháng pháp của tầng lớp trí thức được xem như ánh nắng bình minh soi vào đám rừng U Minh rậm rạp kia, một lần nữa đánh thức tinh thần dân tộc kêu gọi nhân dân bất hợp tác với chính quyền thuộc địa. Như vậy, qua hai loại kẻ thù mà nhân dân Nam bộ phải đối mặt, kẻ thù xâm lược đã gây nên không biết bao nhiêu uất ức đau thương và tổn thất cho nhân dân mảnh đất vốn phì nhiêu này. Trên mảnh đất giàu có đó, cộng với tinh thần cần mẫn siêng năng của lớp người lưu dân mở đất, họ hoàn toàn có thể xây dựng nên một cuộc sống giàu đẹp nhanh chóng nếu như không có tiếng súng của cuộc chiến tranh phi nghĩa.
2.2. Đam mê loại hình giải trí truyền thống, thú chơi tao nhã và tính cách hào sảng
2.2.1. Mê hát bội
Như đã dẫn, người Nam bộ hồn nhiên yêu đời, cởi mở, mê hát bội, ca vọng cổ,… Không chỉ riêng các loại hình diễn xướng dân gian như hát bội mà trong đời sống tinh thần của con người phương Nam còn đam mê những loại hình giải trí khác như: chơi đồ cổ, chơi chim chóc và thích nghe kể chuyện đời xưa. Những câu chuyện huyền bí về đời sống tâm linh: chuyện các ông thầy luyện bùa ngãi, chuyện kể về cuộc đấu giữa con người với thú dữ (cọp, rắn, cá sấu,…). Và nhà văn Sơn Nam – người ký giả tài tình của thiên nhiên Nam bộ đã ghi chép lại những mẫu chuyện trên như quyển tự điển sinh động.
Câu chuyện về người dân Nam bộ thích xem hát bội, hát cải lương đã không còn gì quá xa lạ khi các loại hình nghệ thuật này đã cắm rể và phát triển nhanh chóng ở Nam bộ hơn một trăm năm qua. Trong những ngày đầu của những người lưu dân khai phá vùng đất này, chuyện thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần là điều khó tránh, nhưng về mặt tự nhiên sản vật vùng đất này đã bù đắp hầu như trọn vẹn. Về mặt giải trí tinh thần là vấn đề khó khăn nhất. Hát bội giữa rừng nghe chừng như không có thật, nhưng trong câu chuyện của Sơn Nam về xóm “Khoen Tà Tưng khi dân xóm này hồi đó còn nghèo lắm, ruộng chưa hết phèn, đình chưa cất, hương chức làng chưa có, (trang 501) thì phải làm như thế nào để giải được ngay cơn khát nghệ thuật của những con người lam lũ? Và trong khi đó họ vừa phải đối mặt với tự nhiên khắc nghiệt dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Tục ngữ Việt Nam có câu “trong cái khó ló cái khôn”, người dân Nam bộ cũng như dân tộc Việt Nam trong mọi hoàn cảnh đều biết sáng tạo độc đáo nhằm ứng phó thích nghi nhanh chóng. Vấn đề xóm Khoen Tà Tưng xem được hát bội được các bậc kỳ lão đưa ra sáng kiến khi rước được gánh hát bội về: cất một cái nhà sàn ở giữa sông, theo kiểu ba căn hai chái. Băn căn giữa dùng làm sân khấu, hai chái dùng để đào kép ăn ở nấu cơm. (…) Chung quanh sân khấu nọ mình, vốc cừ tràm làm vòng thành, gốc cừ này khít gốc cừ kia chừng một gang tay… Cọp phải bơ vơ ngồi trên rạch, sấu thì đành ngóng mỏ, ngoài vòng (trang 503). Sáng kiến này của các bậc kỳ lão có thể xem là một dạng trí khôn dân gian để đổi lại niềm vui, không khí hào sảng, tạo nên động lực lao động sản xuất cho người dân chỉ biết bán lưng cho trời, bán mặt cho đất: Xóm Khoen Tà Tưng rộn rịp còn hơn tết, suốt ba bốn ngày liên tiếp họ dựng rạp, xóc nọc dưới sông,… (trang 505).
2.2.3. Thú chơi tao nhã
Nói về thú vui nhàn của những người cao niên, nhà văn còn nói đến thú chơi đồ cổ của các ông chức sắc trong làng: Ông hội đồng Tần khi trở về già sống quanh quẩn trong gian phòng thiếu cửa sổ. suốt ngày sờ mó mấy cái tô, cái chén đời Khang Hy, Càn Long … Ông nâng một viên ngọc trắng tuyệt tròn như chiếc nhẫn, … Trong kho tàng của ông chỉ món ấy là quý nhất (Hai viên ngọc, trang 485). Niềm đam mê chơi đồ cổ nếu có ai theo đuổi thì phải cần có hai yếu tố: có tiền và đam mê mãnh liệt. Trong trường hợp của nhân vật hội đồng Tần thì ông đáp ứng trọn vẹn hai yếu tố trên. Không những ông đam mê cổ vật, ông còn tin tưởng vào những điều kỳ dị nhất ở các món cổ vật đem lại cho ông như Vài năm nữa, trước khi mãn phần ông sẽ nuốt viên ngọc ấy vào bụng. Xác của ông nhờ vậy mà bền vững với thiên thu (trang 486). Một kiến thức uyên thâm về thú chơi cao quí: Hình dáng ngọc như ý giống như cây cù ngoéo để các vị vua chúa dùng gãi ngứa sau lưng. (…) Nào là ngọc lam quỳnh tròn cỗ ngón tay cái, trong ruột khoét bộng, chưa thuốc độc,... (trang 488). Sự cả tin vào lời đồn thổi các món đồ cổ làm cho ông mù quáng, phí thời gian và tinh thần ở độ tuổi sắp mãn phần: Rõ ràng hạt ngọc méo mó nọ có chất ngọt, uống vào thì mát mẻ bổ khỏe như nước dừa xiêm Bến Tre; Từ khi gặp viên ngọc chớp, gia đình người bạn tôi sanh thêm tật ăn cơm chiều hơi trễ nãi … Họ để cục ngọc đó ở mâm. Ánh sáng do viên ngọc đó chớp ra… nào kém ngọn đèn con cóc! (trang 494). Sự đam mê nghệ thuật của nhân vật Hội đồng Tần nói riêng và người dân mê cổ vật ở Nam bộ nói chung đều xuất phát từ cái tâm và thiện chí muốn bảo lưu lại những giá trị truyền thống, yếu tố lạ lẫm trong dân gian. Về mặt cá nhân, họ được thỏa mãn nhu cầu tinh thần cấp thiết nhất và tích lũy cho bản thân uy tín cũng như kiến thức về các lĩnh vực của đời sống, xứng đáng với tuổi già và danh phận kỳ lão trong cộng đồng.
2.2.4. “Bốn cái ngu” trong quan niệm dân gian
Đặc trưng trong lối các thú chơi ở Nam bộ là người có tiền “chơi” theo kiểu có tiền (đại loại như ông hội đồng Tần – Hai viên ngọc”), người thích các thú chơi dân dã gần gũi với tự nhiên, người lại thích làm hương chức hội tề để trong các dịp lễ kỳ yên, cúng đình họ được hưởng phần xôi thịt, “ăn trên ngồi trước thiên hạ”. Dân gian Nam bộ có câu ca dao truyền miệng:
Ở đời có bốn cái ngu,
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.
Trường hợp nhân vật ông Hai Kiểm trong truyện Bốn cái ngu, ông không là người ham mê đồ cổ hay làm hương chức với hội tề mà là người có chút ít thể diện hoặc điền sản sẵn sàng đãm nhận đủ bốn thứ ngu trên đời. Ông giải thích: Bác ở không suốt ngày, chỉ còn biết tiêu khiển bằng cách thăm viếng người chòm xóm, giúp đỡ lặt vặt rồi thì dưỡng nhàn. (trang 99). Như thế, ông Hai Kiểm là một người hoàn toàn khác với nhân vật ông hội đồng Tần (mê đồ cổ), khác với các ông kỳ lão (thích làm hương chức), ông là người dám lãnh đủ bốn cái ngu trên đời… không màng tiếng bấc, tiếng chì như là vị cứu tinh cho thế gian đầy trắc trở bác dám gánh trách nhiệm cho kẻ khác vui sướng (trang 107). Ở nhân vật Ông Hai Kiểm, ta nhận thấy nhà văn xây dựng nhân vật với đầy đủ các đức tính làm cảm phục lòng người, bằng chứng là ông nhận mình là người lĩnh đủ bốn thứ ngu trên đời.
+ Cái ngu thứ nhất và thứ nhì (Làm mai, lãnh nợ), Ông Hai Kiểm đứng ra làm mai mối cho vợ chồng anh Tư Hưng thành đôi, do Bên gái đòi một đôi bông búp, hai chiếc vòng đúng một lượng vàng, mà gia đình anh Tư Hưng thì không có khả năng đáp ứng. Cho nên, ông Hai Kiểm kiêm luôn công việc lãnh nợ cho anh Tư Hưng cưới vợ trọn vẹn Ông Hai Kiểm vẫn làm gan lãnh nợ, vay giùm cho gia đình Tư Hưng khá to (trang 96). Chẳng khác nào như một ân nhân, nhưng ông Hai Kiểm đối với hạnh phúc gia đình anh Tư Hưng hết sức quan tâm và vun bồi hạnh phúc cho đôi trẻ mà chính tay ông tiếp sức tạo dựng: Cháu hãy bình tĩnh. Vợ nó có lỗi thì hãy dạy dỗ bằng lời nói nhỏ nhẹ … Đàn ông ưa bạt tai vợ, táng ngay con mắt. Rủi đui con mắt thì sao? (trang 97). Hai cái ngu trên, có thấy nhận xét tính cách nhân vật Hai Kiểm vừa làm người trung gian thúc đẩy các mối quan hệ tốt đẹp, vừa làm người đứng sau chịu hậu quả trên việc làm tốt của mình. Ông còn nói rõ hơn về mục đích ông dám nhận từng cái ngu như thế nào. Ở cái ngu thứ nhất (làm mai), ông giải thích: Mình làm mai, giúp hai gia đình bên trai, bên gái kết tình thông gia … nhược bằng gặp thứ trai lỗ mãng, gái lười biếng hỗn hào thì thế nào bên trai hay bên gái cũng trách móc ông mai. Cái ngu nhì (lãnh nợ): Mình lãnh nợ giùm cho thiên hạ , nếu con trả nợ đủ thì chủ nợ vui sướng, hưởng tiền lời. Bằng không, họ lại mắng vốn…(trang 99).
+ Cái ngu thứ ba và thứ tư (gác cu, cầm chầu), “gác cu” là một thú chơi chim rừng ở vùng đồng bằng Nam bộ, loài chim cu có hình dạng tương tự như chim bồ câu nhưng tiếng kêu khác chim bồ câu. Người chơi chim cu chủ yếu muốn thưởng thức bề ngoài – tức màu lông của các con chim khác nhau, và nghe tiếng cu gáy cho vui nhà vui cửa. Ông Hai Kiểm là người có thú vui tao nhã này, ông am tường cặn kẽ về tập tính của loài chim cách thức dụ dỗ chim cu rừng vào lồng bằng cách đem con cu mồi ra ngoài ruộng, và thời gian gác chim cu không phải lúc nào cũng được, mà là khi gió chướng lao xao mang hơi lạnh từ phía tây bắc, báo hiệu ngày gần Tết. Nhưng cái thú chơi chim chóc này của ông Hai Kiểm quá ra mất thời giờ lao động và tiền của, nào là thời gian canh gác để dẫn dụ con chim cu rừng vào bẫy mất đến cả mấy ngày chờ đợi; tiền vốn để ông Hai Kiểm bỏ ra lại quá đắt con cu mồi mới mua ở Xẻo Bần với giá là mười giạ lúa. Hậu quả cho những ngày phơi mình ngoài đồng để bắt chim thật thảm hại cho ông: Tư Hưng phải cõng ông Hai Kiểm vào nhà, đốt lửa hơ, cạo gió, mua thuốc cảm mạo, nấu cháo thương hàn... Khẩu ngữ Nam bộ có câu “không có cái ngu nào giống cái ngu nào”, ở trường hợp ông Hai Kiểm, tuy là ông được đúc kết kinh nghiệm từ người đi trước về thú chơi nhàn rỗi mà ông gọi là cái thói phong lưu đó nguy hiểm lắm, nó chẳng sinh ích lợi gì, thậm chí có phải đánh đổi mạng sống: Hồi xưa nhiều người đi gác cu như tao, ngồi rình mò dè đâu phía sau lưng có con cọp đang chờ ăn thịt họ. (trang 106)
Cái ngu cuối cùng mà ông Hai Kiểm nhắc đến có lẽ thiêng về phần văn nghệ dân gian. “Cầm chầu” có nghĩa là cầm dùi đánh trống chầu (loại trống to và lớn được đặt trong đình làng xưa). Ngày xưa, ở Nam bộ thường có gánh hát bội về hát phục vụ cho dân chúng vào các dịp cúng đình làng, rằm tháng giêng khi đình làng và các chức sắc tổ chức lễ kỳ yên thỉnh sắc thần vua ban. Khi đó, các bậc kỳ lão cao niên trong làng sẽ chọn ra một người cao tuổi trong ban chức hội tề, hoặc người giàu có, có tầm ảnh hưởng lớn trong làng sẽ cầm dùi trống chầu mà đánh trước ban khán giả và dưới gánh hát đang biểu diễn. Nếu đào, kép hát hát đến câu hát mà người cầm chầu và khán giả cảm thấy hay, ngọt ngào thì người cầm chầu đánh vào trống một hồi – ngụ ý như tán thưởng cho diễn viên diễn và hát hay. Nhưng công việc tưởng chừng như vinh dự và cao quí này lại không dễ dàng chút nào khi mà vai trò của người cầm chầu vô cùng quan trọng đối với diễn viên trong tuồng hát: Hễ mình ít “chầu”, bọn đào kép cho mình là thằng già cầm chầu khó khăn, phách lối, khinh khi kẻ xướng ca vô loại. Nhưng nếu mình đánh chầu đúng điệu thì có kẻ gièm xiểm, cho rằng mình là thằng già dê, cứ đánh chấm khen ngợi mấy cô đào trẻ mà quên mấy cô đào già (trang 107). Cái ngu “cầm chầu” có lẽ được xem là “ý nghĩa” hơn ba cái ngu còn lại khi mà công việc cầm dùi trống và phải bám sát theo diễn biến và khả năng diễn xuất của diễn viên. Người cầm chầu có thể có tư cách tương đương với người có khả năng phán xét nghệ thuật, họ là người được quần chúng tin tưởng và được giao nhiệm vụ quan trọng nhưng kém may mắn thay, cái nhiệm vụ đó lại bị quan niệm dân gian liệt vào một trong tứ đại cái ngu!
3. Kết luận
Người Nam bộ khảng khái, bộc trực và hồn nhiên. Họ tinh tế trong việc thưởng thức các giá trị thuộc về đời sống tinh thần, mặc dù cuộc sống lao động còn vất vả và nghèo nàn. Sống trong hoàn cảnh chế độ chính trị ngột ngạt khi nhân dân cả nước phải cùng nhau kháng Pháp, giữ gìn nền độc lập vừa mới giành được. Nhưng với tính cách “thẳng như ruột ngựa”, cách sống hòa hợp và nhanh chóng thích nghi với tự nhiên và bắt thiên nhiên phải phục vụ cho đời sống con người, điều này càng làm cho nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần của người phương Nam phải được đáp ứng tại chỗ. Và họ đã làm được điều này bằng cách sáng tạo nên những loại hình văn nghệ dân gian đậm chất sinh thái và miệt vườn – như một cách tự phục vụ bản thân và dần dần trên cơ sở đó các loại hình văn nghệ độc đáo này đã thành di sản. Trong các truyện ngắn đã phân tích, đa số các câu chuyện được nhà văn tạo dựng một cách tự nhiên, thân mật. Giọng văn mang phong cách ngôn ngữ đời thường: là lời ăn tiếng nói của con người trong sinh hoạt lao động. Thành công nhất, Sơn Nam đã vẽ lên bức tranh về toàn cảnh đồng bằng Sông Cửu Long và điểm nổi bật hơn hết là mảng màu sắc đời sống tinh thần của người dân cực Nam tổ quốc. Trong mảng màu đó có đủ các loại hình sinh hoạt văn nghệ giải trí mà chúng ta đến ngày hôm nay vẫn còn bắt gặp: đờn ca tài tử, hát bội, cúng đình, hát đối giao duyên; những thú chơi tao nhã kỳ công: sưu tập cổ vật, chơi chim chóc, cây cảnh; những người luôn quan tâm đến cộng đồng, đời sống nhân dân (ông Hai Kiểm),... Do vậy, mảng đời sống tinh thần của người dân Nam bộ phong phú và vẹn nguyên giá trị đến tận hôm nay.
Vai trò của nhà văn Sơn Nam trong việc phục dựng những mảng màu sắc đậm chất Nam bộ trong tập Hương rừng Cà Mauhết sức to lớn. Đúng như lời nhận xét của tác giả Nguyễn Văn Nở đã từng viết: Như một chú ong rừng hiền lành và cần mẫn, Sơn Nam đã âm thầm đi, lặng lẽ ngắm nhìn và cặm cụi gom góp, chắt lọc những gì được gọi là tinh túy, là vàng mười của cuộc sống, những mong để lại cho con cháu đời sau(3) (trang 132), nhà văn không chỉ làm công việc đơn thuần là ghi chép lại những chuyện xưa tích cũ, mà còn là người đạo diễn phục dựng và bảo lưu lại những gì được gọi là chân giá trị. Ông đề cao những con người lao động cần mẫn đều là nghệ sĩ, mỗi cá nhân trong cuộc đời này đều là một hột cát tốt, ai cũng có thể góp sức mình làm cho cuộc sống này tươi đẹp vẹn nguyên.
Chú thích
(1) Huỳnh Thị Lan Phương, Đời sống văn hóa nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, số 7 (413), tháng 7/ 2006, trang 38.
(2) Sơn Nam, 4 truyện vừa (Chuyện tình một người thường dân), nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2014, trang 27.
(3) Nguyễn Văn Nở, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Lâm Điền (tuyển chọn), Những vấn đề Văn học Ngôn ngữ và giảng dạy Ngữ văn, (phần hai: Ngôn ngữ), nhà xuất bản Giáo dục, Cần Thơ, 2011, trang 132.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngữ văn 12 tập 2 nâng cao, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008.
2. Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2010.
3. Nguyễn Văn Nở, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Lâm Điền (tuyển chọn), Những vấn đề Văn học Ngôn ngữ và giảng dạy Ngữ văn, nhà xuất bản Giáo dục, Cần Thơ, 2011.
4. Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau, tập truyện tái bản lần thứ 7, nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2016.
5. Sơn Nam, 4 truyện vừa, nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2014.
(Bài in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Bộ môn Ngữ Văn, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ tháng 10 năm 2016)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét