Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

QUAN NIỆM TÀI MỆNH NHÂN SINH QUA THƠ CA CỔ ĐIỂN VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA (So sánh trường hợp Nguyễn Du – Việt Nam, Lý Thương Ẩn – Trung Hoa)



1.          Mở đầu
Trong các phát biểu về quan niệm nhân sinh và sau này được nâng thành quan niệm trong sáng tác văn chương nghệ thuật, khái niệm “tài – mệnh” như một cặp song sinh được hiển ngôn trong thơ ca cổ điển. Thơ ca biền văn, nhất là thể loại Đường luật có nguồn gốc xuất phát từ thời Đường Trung Hoa trong bối cảnh “xã hội hóa thơ ca” mà ở cả ba thời kỳ lịch sử của triều đại nhà Đường đều có những tác gia lớn, mang tầm vóc thi hào và có sức ảnh hưởng sâu rộng đến thơ ca thi phú sau này. Lịch sử văn học Trung Hoa cũng như các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa đồng văn ghi nhận một hiện tượng bất di bất dịch trong hệ thống lực lượng sáng tác của thời kỳ thi ca cổ điển, tuy lịch đại không cùng thời điểm, xã hội và chính trị cũng như tư tưởng nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ không đồng nhất nhưng âm hưởng của thơ ca luôn là tiếng đồng vọng ngân vang và có sức ảnh hưởng đồng cảm với các thế hệ nhà thơ cổ điển sáng tác bằng văn tự Hán sau này ở trường hợp sáng tác thơ ca của Nguyễn Du và Lý Thương Ẩn.
1.1.           Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong thuyết tài mệnh tương quan trong hai sáng tác của hai nhà thơ Nguyễn Du và Lí Thương Ẩn đó là mối quan hệ tương đồng về các điểm trọng yếu trong phương thức sáng tác thơ ca và đặc điểm thể loại về nội dung. Đối tương nghiên cứu trực tiếp của bài nghiên cứu đó là tác phẩm sáng thơ ca cổ điển viết bằng chữ Hán có chứa đựng tinh thần và mối quan hệ giữa thuyết tài và mệnh trong cách nhìn về cuộc đời và nghệ thuật thơ. Đối tượng nghiên cứu gián tiếp đó là các chi tiết tái hiện, các hình thức ẩn sau chi tiết chính, đề tài và chủ đề chính yếu của các sáng tác. Thơ ca và mối quan hệ hoàn cảnh sáng tác cũng là đặc điểm mà trong quá trình tiếp nhận, thưởng thức thơ độc giả có thể tìm hiểu và tri nhận.
Ngoài ra, điểm khác biệt trong cách thể hiện nội dung, tâm thức tình và cảnh trong thuyết tương quan về tài mệnh của Nguyễn Du và Lí Thương Ẩn cũng được khác biệt rất rõ. Sự khác biệt về tình (tâm); cảnh (ngoại vật) cũng được lấy là điển hình của sự khác biệt giữa hai tác giả sáng tác.
1.2.           Phương pháp nghiên cứu
Tài mệnh là hai ý niệm vừa có thể xem là giới thuyết trong triết học cổ điển Trung Hoa và cũng là tư tưởng của Phật giáo. Tài mệnh thể hiện trong sáng tác của hai tác giả Nguyễn Du và Lí Thương Ẩn được giao hòa trong ý niệm chung của nghệ thuật thơ ca và của tinh thần Tam giáo. Trong bài viết này, phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là:
-         Phương pháp tiểu sử: nghiên cứu lý thuyết bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh cuộc đời của nhà thơ Lý Thương Ẩn và Nguyễn Du đối với từng giai đoạn cuộc đời gắn với từng sáng tác và tác phẩm của ông như thế nào, từ đó nhìn nhận lại qua trình về thuyết tương quan tài mệnh của hai nhà thơ.
-         Phương pháp thực chứng: dẫn biện những chi tiết thực tế khách quan của thời điểm lịch sử mà hai nhà thơ đã từng sinh sống để miêu tả, đối sánh với giai đoạn cuộc đời và diễn biến chính với giai đoạn sáng tác sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp với phong cách nghệ thuật và nghệ thuật thể hiện tư tưởng tài và mệnh của nhà thơ đối với tác phẩm.
-         Phương pháp cấu trúc: sử dụng các lý thuyết về câu cú pháp, từ nguyên,.. để phân tích các đặc điểm về câu thơ thất ngôn của Lí thương Ẩn, Nguyễn Du trong cái nhìn so sánh.
-         Phương pháp tâm lý học: sử dụng phương pháp nghiên cứu tâm lý học tiếp nhận về “cơ chế cảm xúc thẩm mĩ của độc giả[1]” để khai thác quá trình tiếp nhận của độc giả, tâm lý sáng tác của tác giả trước một hiện tượng đề tài chủ để qua các bài thơ miêu tả về hình ảnh, số phận cuộc đời con người.
1.3.           Phạm vi và chủ đề nghiên cứu
-         Phạm vi nghiên cứu: thơ ca cổ điển bao gồm sáng tác thơ bằng chữ Hán của Lí Thương Ẩn nhà Đường Trung Quốc và Nguyễn Du Việt Nam bao gồm thơ ca chữ Hán và truyện Kiều. Các tiểu tiết phạm vi nhỏ hơn đó là phạm vi không gian. Không gian đó là không gian lịch sử, không gian địa lý thời Trung đại của hai tác giả. Trong đó, sáng tác thơ của hai tác gia tương đối rộng, cho nên chỉ hạn chế trong những bài thơ chứa đựng tinh thần khen chê, cân nhắc về ý niệm tài và mệnh, cái nhìn nhân sinh và sự chứng nghiệm của hai nhà thơ.
-         Chủ đề nghiên cứu: thuyết tài mệnh, thân phận và sự nghiệp sáng tác của hai nhà thơ, tình yêu trong tương quan nhân vật có tài nhưng bạc mệnh.
2.          Nội dung
2.1.               Quan niệm tài mệnh trong cái nhìn lý luận phê bình
Nhìn từ thể loại văn học cổ điển hay thể loại văn ngôn biền văn, các học giả cổ điển đã từng có cách nhìn rất khách quan đến khái niệm tài niệm trong tư tưởng lý luận, bình tán văn chương cá nhân. Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, thiên 14 Tạp văn, quan niệm tài và mệnh qua sự diễn giải bằng thể loại: Những người thông minh tài trí, uyên bác cao nhã đều có ngôn từ dồi dào văn thái. Lời văn của họ tràn đầy khí chất, tình cảm biểu đạt phong phú như hoa lá, như rừng cây, cho nên họ luôn có thành tựu mới lạ. Tống Ngọc nhiều tài, bị thế cục chê bai, mới viết bài Đối Vấn để bộc bạch cái chí, buông thả lòng mình vào chốn không khoáng mênh mông, đó là do khí chất khiến văn từ được như vậy[2][6; 180]. Lưu Hiệp đề cao tài trong sáng tác văn chương và tố chất thiên tư của những thức giả có khả năng trong sáng tác và giá trị nghệ thuật phong phú, bác nhã của yếu tố tài trong con người. Qua việc sáng tác văn chương tài năng con người càng được nâng cao nhờ các yếu tố “tâm” và “tài”. Trong thiên “Tình thái”, có đoạn: Vi tình giả yếu ước nhi tả chân; vi văn giả nhâm lệ nhi phiền lãm[3] [6; 276], có nghĩa là: người vì văn tình cảm mà viết nên văn chương thì đó là tình cảm chân thật, người vì hình thức của văn chương mà viết nên thì đó chỉ là phù phiếm, văn chương chỉ vì hình thức bề ngoài.
Trong quan niệm về văn chương và sáng tác này của Lưu Hiệp đối với trong các sáng tác của Nguyễn Du có sự ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng tài và tâm. Cái nhìn lý luận phê bình từ phong cách phê điểm của các học giả văn học trung đại về truyện Kiều, tác giả Phạm Quý Thích từng bình phẩm về truyện Kiều qua bài đề từ tác phẩm: Đoạn trường mộng tỉnh căn duyên liễu  / Bạc mệnh cầm chung oán hận trường / Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy / Tân thanh đáo để vị thùy thương?[4] [174; 7]. Tài và mệnh được hiện thực hóa qua nhân vật Thúy Kiều, cái nhìn nhân đạo của Nguyễn Du và những sự lý giải đa chiều của việc phê điểm văn chương cổ điển đã làm cho nhân vật mang triết thuyết tài mệnh thêm phong phú. Bài Tựa truyện Kiều của Mộng Liên Đường chủ nhân viết về tài và mệnh bạc của nhân vật qua cách nhìn rất chủ quan, có thể cũng không nhằm dẫn dắt hay định định hướng cho đối tượng tiếp nhận: Trong một tập thỉ - chung lấy bốn chữ “Tạo vật đố tài” tóm cả một đời Thúy Kiều: khi lai – láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi nỉ - non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm khúc tiêu dao [5] [176; 7].
Các nhà lý luận hiện đại Trung Quốc khi nhìn về thuyết tài mệnh trong thơ Đường và tự nhận, đối chiếu với cách nhìn cá nhân. Quách Trung Long (邓中龙) trong Lý Thương Ẩn thi dịch chú có viết về tương quan tài mệnh trong cách nhìn xuyên cổ kim: Từ sự đánh lừa độc giả, trong thơ Lý Thương Ẩn, e rằng các chuyên gia phải tự mình suy xét? Con đường trung lập theo chính bản thân tôi đến lớn đó là xưa nay tài mệnh là hai phương diện làm tổn hại cho nhau[6] [755; 8]. Tại sao trong thơ Lý Thương Ẩn quan niệm tài mệnh lại khiến cho nhận xét cảm quan của ý kiến trên mang tư tưởng “trung lập”, phải chăng đi qua các điển hình mâu thuẫn tài mệnh không bao giờ đi đôi với nhau từ cuộc đời các nhà thơ Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ,... và ngay cả chính bản thân Lý Thương Ẩn? Do đó cái nhìn lịch đại hầu như được “cảm thông” một cách có tiếp nối và bảo lưu hệ quả của quan niệm.  
2.2.               Đôi nét về sự ảnh hưởng “tài mệnh” trong sáng tác
Khái niệm tài mệnh đi đôi với nhau trong các sáng tác thơ ca cổ điển của hai trường hợp ở hai nền văn học mà đại diện khảo chứng là Lý Thương Ẩn (Trung Hoa), Nguyễn Du (Việt Nam) được các nhà thơ lần lượt trong các hoàn cảnh là giai đoạn cuộc đời mà phát biểu thành tuyên ngôn khác nhau. Qua các chất xúc tác thơ ca, thi liệu và tư duy nghệ thuật ở các nhà thơ, khái niệm tài mệnh lần lượt ẩn hiện dưới dạng các đề tài và cũng có khi đại diện cho thân phận của con người nhiều tầng lớp, giới tính và vượt qua không gian của trường văn trận bút hay giới văn chương khoa cử. Nhiều thể dạng của khái niệm tài mệnh được ảnh hưởng qua nhiều phương diện mà sau này các thiên hướng nghiên cứu về tác giả, tác phẩm hoặc phân tâm – xã hội học đều cho thấy biểu hiện “tài mệnh” xuất hiện trong con người thi ca cổ điển là rất đa dạng. Tại sao đến giai đoạn thơ ca cổ điển Việt Nam, Nguyễn Du lại có một phát biểu riêng về quan niệm này trong Truyện Kiều qua câu chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau; chữ tài chữ mạng dồi dào cả hai [1; 369]. Đó phải chăng trong yếu tố xét tính giai đoạn cuộc đời là sự chứng nghiệm tài mệnh từ lý thuyết trong cảm quan nhân sinh của nhà thơ qua nhân vật Thúy Kiều.
Riêng nói về trường hợp Lý Thương Ẩn là đại diện ưu tú cho thơ ca chữ Hán Đường luật mang dấu ấn trữ tình lãng mạn. Lý Thương Ẩn ở Trung Hoa với Nguyễn Du ở Việt Nam xét về cuộc đời có nhiều điểm giống nhau, nhưng nội dung miêu tả trong thơ ca của họ Lý đầy bất mãn và bi lụy. Nguyễn Du với nét phong cách nghệ thuật và quan niệm tài mệnh gắn với giai đoạn cuộc đời và từng tập thơ ông có cách thể hiện riêng quan phong cách nghệ thuật.
2.3.               Quan niệm “tài mệnh” và trải nghiệm nhân sinh
Dưới góc nhìn so sánh, đời sống của hai nhà thơ cùng chịu ảnh hưởng bởi tư duy Hán học, có thể nhận thấy tính chất tài hoa – tài tử và cảm hứng thế sự trong sáng tác. Người Trung Hoa trong các đúc kết về quan niệm triết học được diễn tiến thành quan niệm ngay cả trong văn chương “tài mệnh tương đố”. “Tài” có nghĩa là khả năng, nắng khiếu thiên tư về nghệ thuật trong quan niệm và qui chuẩn cách nhìn của con người thời trung đại. “Mệnh” xuất phát từ quan niệm trong Nho và Phật giáo, ở đây có thể khái quát yếu tố mệnh có nghĩa là sự sống, thân phận cuộc đời của con người được tính bằng đơn vị của Phật gia “kiếp”.
Trong trường hợp này, Nguyễn Du miêu tả hành trình nhân sinh rất rõ nét qua các bài thơ trong Bắc hành tạp lục mà ông ghi chép trên đất Trung Hoa. Trong cảm tưởng của nhà thơ về hành trình đi sứ nơi mà ông từ nhỏ đã được hàm thụ một nền giáo dục căn bản mang đậm tư tưởng Nho gia. Từ thơ ca từ phú bách gia chư tử, Nguyễn Du đến thăm và hồi tưởng, đồng cảm xót xa với các thân phận tài hoa bôn lưu trên hành trình ấy. Những đối tượng mang số kiếp tài hoa trong cảm tưởng của ông khá đa dạng về thành phần: người cầm ca, anh hùng, thi nhân bách gia thời Đường,… Đó là những con người tài hoa nhưng vắn số trong trải nghiệm cuộc đời của nhà thơ. Ông viết về Đỗ Phủ, nhà thơ hiện thực lớn của Trung Hoa thời Thịnh Đường – có ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của Nguyễn Du:
Cộng tiễn thi danh sư bách thế,
Độc bi dị vực ký cô phần.
(Lỗi Dương Đỗ thiếu lăng mộ, bài 2)
Dịch nghĩa:
Thi thánh trăm đời người ngưỡng mộ,
Mồ chôn đất khách chỉ ta thương. [3; 282]
Đồng cảm và mang cảm hứng sáng tác hoài cô về thân phận của các bậc kỳ tài nhưng số phận kém may, Lý Thương Ẩn đồng thanh tương ứng với nhân vật Lưu Tư Hộ về nhân cách lẫn tài năng:
Bồn phố ưng phân thái,
Kinh giang hữu hội nguyên.
Tịnh tương thiêm hận lệ,
Nhất sái vấn càn khôn.
Dịch nghĩa:
Sông Bồn phố chia dòng chín ngả,
Dòng Kinh giang nào há khác nguồn?
Tôi hoà lệ hận khóc thương,
Hỏi càn khôn thấu đoạn trường cho đây?[7]
Lưu Tư Hộ sống vào thế kỷ 7 đời Bảo Lịch năm thứ 2 (Đường – Trung Quốc) làm quan trong triều đình với học vị tiến sĩ. Do không có người ủng hộ trong việc bài trừ nạn hoạn quan nên bị những kẻ nhiễu loạn khép tội và đi đày, chết trong cô quạnh xa quê hương (1). Nhà thơ Lý Thương Ẩn cùng với lương tri của một vị thanh quan và nuối tiếc cho tài năng văn chương và tấm lòng cao khiết liêm chính.
Cảm hứng tương đồng trong hành trình nhân sinh khi các nhà thơ cổ điển chạm đến đề tài vịnh các nhân vật lịch sử và danh nhân. Tác giả Lê Quang Trường nhận xét về hiện tượng sáng tác tương đồng này: Với những nhà thơ cổ trung đại, thơ vịnh vật trữ tình hầu như ai cũng có. Có điều khác nhau ở chỗ, các nhà nho chính thống khi vịnh những nhân vật lịch sử hoặc vịnh vật trữ tình thường sẽ ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người quân tử để làm gương cho hậu bối [3; 282]. Đối với trường hợp nhà nho – tài tử và thân phận cuộc đời bạc bẽo, cả hai nhà thơ với khuynh hướng sáng tác hoài cổ và đồng cảm với quá khứ đã tạo nên lối đi cho hình thức ca hoài cổ quen thuộc. Cũng chính đề tài quen thuộc này, mà ít nhiều việc ảnh hưởng và kế thừa phong cách tập cổ và phỏng cổ của thơ cổ trung đại hiện hữu rất rõ nét lẫn trong đời sống nhà thơ.
2.4.               Tài mệnh và tình sầu
Những sáng tác thi ca về vấn đề tài mệnh mà chúng tôi thu nhặt từ thơ của hai nhà thơ Nguyễn Du và Lý Thương Ẩn thường là những hình ảnh về người thiếu phụ, ca kỹ, nhân vật tài nữ lưu lạc. Trong những kiếp tài mệnh này,  nhân vật chính tài mệnh thường đi liền với câu chuyện tình yêu bi đát và ít có hồi kết có hậu. Nguyễn Du với Vương Thúy Kiều, đồng cảm với Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh ký), nhân vật ca nữ trong Long Thành cầm giả ca. Lý Thương Ẩn miêu tả những mối tình sầu của người thiếu phụ dưới cách nhìn không gian sự vật qua các bài Thất luật như: Vô đề, lạc hoa, cẩm sắt,...
Tình yêu và tài mệnh trong sáng tác thơ của hai nhà thơ trong cùng hệ thống nhân sinh quan và ý niệm thế sự rất rõ. Nguyễn Du quan niệm về tài mệnh và tình yêu trong Truyện Kiều qua Thúy Kiều, Lý Thương Ẩn qua các hình tượng biểu trưng đặc sắc vốn có trong tư duy thơ Đường. Đó là sự tài hoa của tài tử giai nhân, thân phận lạc loài của hồng nhan và kiếp đoản mệnh của người quân tử anh hùng. Nguyễn Du từ điểm đồng cảm đến tiếc thương nhân vật tài nữ và từ thơ ẩn chứa phát biểu thành quan niệm nhân sinh:
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Trong truyện Kiều, ông viết câu thơ lục bát thành cả một quan niệm nhân sinh phổ biến:
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Tài mệnh trong những sáng tác về nhân vật tài nữ mà Nguyễn Du viết đều có một thời gian trải nghiệm tình yêu khác nhau. Phùng Tiểu Thanh sống trong thân phận vợ lẽ, chết trong cô độc và sở hữu tài năng văn chương thiên phú, cũng chỉ bởi tài của nàng chưa thắng nổi số mệnh. Nói riêng về nhân vật này, trong luận bàn về mối quan hệ tri âm giữa nhà thơ với Tiểu Thanh, tác giả Nguyễn Kim Châu dẫn giải: Vì sao Nguyễn Du phải xót xa đến như vậy đối với những người ông chưa từng gặp mặt, lại sống trước ông hơn ba trăm năm trên đất nước Trung Quốc xa xôi? Có nhiều lí do nhưng trong đó, nhất thiết phải có một lý do quan trọng: cuộc đời nàng Tiểu Thanh qua tập truyện còn lưu lại cho ta biết nỗi đau cùng cực mà một người tài nữ trong xã hội phong kiến có thể gặp phải. Nguyễn Du người viết khúc văn chương đoạn trường dành cho “phận đàn bà” chắc chắn phải thấm thía, thống khổ hơn ai hết khi tìm thấy từ cuộc đời nàng Tiểu Thanh chân dung số phận cho lý thuyết “tài mệnh tương đố [2; 34]. Ngoài ra, đứng ở góc độ tiểu sử nhân vật, có thể thấy nàng Tiểu Thanh chết ở tuổi 18 và để lại di cảo thơ nhưng lại bị vợ cả của chồng đốt đi một tập thơ và bức họa chân dung nàng. Từ đó, câu hỏi thay lời của Nguyễn Du viết cho Tiểu Thanh Văn chương vô mệnh lụy phần dư  đã làm cho xúc cảm tự thân của ông với mối oan khiên với một tiền nhân cùng nghiệp văn chương xấu số.
Đàm luận về thuyết duy mệnh trong tâm thức chấp nhận của người phụ nữ, tác giả Hồ Khánh Vân trong bài viết: Ý thức về những cơ chế văn hóa xác lập địa vị hạng hai của nữ giới trong văn xuôi Dạ Ngân và Thiết Ngưng – từ góc nhìn của nhân học văn hóa đã sơ lược đại ý: Tâm thức chấp nhận thân phận giới hạng hai của phụ nữ vừa xuất phát từ hoàn cảnh hiện thực phổ biến và lặp đi lặp lại của nữ giới, vừa bị chi phối bởi quan niệm định mệnh, thiên mệnh vốn có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của con người Việt Nam và Trung Quốc. Từ thời trung đại, Nguyễn Du cũng đúc kết thành một định luật in sâu vào tâm trí và ý niệm của người Việt:
Đau đớn thay phận đàn bà,
                Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung [4;186]
Khác với tâm thức đồng cảm của Nguyễn Du với hình tượng một nhân vật lịch sử văn học, Lý Thương Ẩn sống cách thời đại của Nguyễn Du gần non mười thế kỷ. Thân phận và mối tình sầu của ông được biểu đạt qua thơ mang phép “song quan”(Trần Đình Sử, tr.172) chỉ biểu đạt cái được biểu đạt và qua đó nói lên cái tài và số mệnh xa xôi, khó tìm:
Tương kiến thời nan biệt diệc nan,
Đông phong vô lực bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ti phương tận,
Lạp cự thành hôi thủy lệ can.
Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải,
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ,
Thanh điểu ân cần vị thám khan.
Khó gặp nhau mà cũng khó xa,
Gió xuân đành để rụng trăm hoa.
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.
Bồng Lai tới đó không xa mấy,
Tìm lối, chim xanh hỏi giúp mà. [5; 173]
                                                                                                               (Lý Thương Ẩn, Vô đề)
Cảm thức của Lý Thương Ẩn về số phận và tình cảm nhẹ nhàng không thống thiết bi ai. xét về mặt thể thơ, cả hai bài đều thuộc thất ngôn luật thi. Về cú pháp, đều mang yếu tố câu trần thuật, không có trường hợp xuất hiện cảm thán từ tạo nên câu đặc biệt hay câu dưới bậc. Nhưng về yếu tố hình thức trần thuật ở bài Vô đề của Lý Thương Ẩn xuất hiện nhiều hơn so với Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du, chủ yếu câu nghi vấn xuất hiện nhiều (3 câu). Còn trong Vô đề chủ yếu là câu trần thuật tái hiện lại không cảnh và tâm tình của nhân vật trữ tình. Xét về nội dung biểu hiện qua quan niệm tài mệnh và tình sầu, thì Vô đề của nhà thơ họ Lý đậm nét hơn Nguyễn Du. Độc Tiểu Thanh ký chỉ thể hiện phần cảm nhận bình tán của nhà thơ mang thiên hướng hoài cổ thương cảm, còn Vô đề tập trung lột tả tình cảnh ẩn ức về tình yêu, tài phận của chính nhân vật trữ tình trong bài thơ. Các hình ảnh biểu tượng thiên về ẩn dụ mà đến ngày nay, trong phong cách ngôn ngữ biểu trưng vẫn còn được sử dụng có thể đã phỏng đại ý từ thơ cổ điển để nói về tài năng và số phận của con người, hay người hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ. Chẳng hạn kiếp tằm nhả tơ tương đương với con tằm đến thác tơ còn vướng; lạp cự tức chỉ hình ảnh ngọn nến dần tàn theo thời gian, ẩn ý về sự hữu hạn của vật chất biểu trưng, còn thời gian biểu trưng thì dài vô tận; Bồng Lai ngọn núi tiên tích biểu tượng của thiên đường xanh tại nhân gian nhưng xa cách dịu vợi với nhiều con đường đi đến; Thanh điểu đại ý cho tia hy vọng yếu ớt, thoắt chốc lai vãng,… Phải chăng trong tâm thức của nhà thơ lãng mạn họ Lý đang than vãn về thân phận của chính mình. Tài năng và đức độ hiện hữu trong một con người với tư cách “sĩ đại phu” thời xưa như ông nhưng những viễn tưởng mơ hồ về các khát vọng đi đến nơi không còn tranh đua và danh vọng (Bồng Lai) và sự chán chường cho cái hy sinh mà tài năng nghệ thuật của ông đã sẵn có. Nhưng đồng thời, trong bài này, Lý Thương Ẩn cũng vô hình gửi gắm ý vị tình yêu trong đó trong hai câu thơ đầu.
Hai cách miêu tả tâm trạng và đồng điệu nghệ thuật để phát biểu thành quan niệm tài mệnh và tình sầu của hai nhà thơ tuy có khác xa về tư tưởng chủ đề, nhưng ngụ ý qui châm vẫn là sự tiếc thương mong mỏi về tương lai của thân phận con người vừa có tài, vừa phải chịu sự chi phối bởi yếu tố thời đại và thời gian.  Sự ý thức về thân phận và tài năng của bản thân nhưng hầu như các nhân vật trữ tình qua biểu hiện thơ không có sự kiêu kỳ và đánh thắng yếu tố thời cuộc. Từ chỗ ý thức được câu chuyện của bản thân, dần dần thay vào đó là tâm thức chấp nhận với số phận và xem như là một giai đoạn hoặc “thiên bạc mệnh” mà tạo hóa ban cho. 
3.          Kết luận
Thông qua cái nhìn hiện đại, tư duy thơ ca thời trung đại về tài và mệnh được coi như hai định mệnh cho những nhân vật có tài, nhưng kèm theo đó là mệnh bạc. Nguyễn Du và Lý Thương Ẩn tuy sống không cùng thời đại, trải nghiệm nhân sinh và xã hội đương thời hoàn toàn khác nhau. Qua cái nhìn về con người và tâm thức tài mệnh thể hiện qua sáng tác nghệ thuật đều nhận thức rõ về mối liên hệ này: con người có tài thường đoản mệnh hay gặp không may trong đời sống hay con đường quan lộ. Tuy nhiên, từ việc ý thức rõ về tài mệnh khó có thể song song trong một thực thể, việc thể hiện ý thức chấp nhận lại càng biểu lộ rõ hơn, nhằm cũng là thiên hướng “tự giải thoát ý niệm” khỏi quan niệm tài mệnh mà thế giới quan người xưa xem như vĩnh hằng và cũng là định chế. Đồng thời, qua các tác phẩm trích lọc từ hai nhà thơ cùng tư duy quan niệm, chúng ta tiếp nhận hình ảnh và câu chuyện về thân phận và tài năng của con người thời xưa một cách nhìn đầy thông cảm và sâu sắc. Đó là khoảng thời gian lịch sử - thời đại còn định kiến và ý thức giải phóng cá nhân trong sáng tác chưa thực sự lộ diện cho đến khi cái tôi cá nhân cho đến giai đoạn văn học hậu kỳ trung đại được khai mở.
_______________________
Tài liệu tham khảo
1.An Chi, Nguyễn Du – Truyện Kiều bản Duy Minh Thị 1872 phiên âm, chú giải và thảo luận (ký hiệu số 067), NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2020.
2.Nguyễn Kim Châu, Giảng dạy tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong trường trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam, Cần Thơ, 2013.
3.Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Văn học, Những cuộc hội ngộ của văn chương thế giới – Văn học So sánh: Nghiên cứu và dịch thuật, NXB Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2019
4.Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Văn học, Vượt qua những ranh giới của Văn chương – Văn học so sánh và hướng nghiên cứu liên ngành, NXB Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2019
5.Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008.
6. Lưu Hiệp劉勰, Trần Thanh Đạm – Phạm Thị Hảo dịch, Văn tâm điêu long文心雕龍, NXB Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, H.2007.
7. Đoàn Lê Giang, Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Việt Nam – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (tài liệu chuyên đề Cao học, đánh máy, chưa tìm thấy tài liệu xuất bản), thành phố Hồ Chí Minh 2004.
Tài liệu tiếng nước ngoài (Trung Quốc)
8. 邓中龙, 李商隐诗译注, 岳麓书社, 湖南2000 (Quách Trung Long, Lý Thương Ẩn thi dịch chú, Nhạ Lộc thư xã xuất bản, Hồ Nam, Trung Quốc 2000, 2028 trang, mã ISBN: 7805208174, 9787805208176).
Chú thích viết tắt
 “Sđd” – sách đã dẫn.



[1] Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, bài giảng Nguyên lý Văn học so sánh, chuyên đề Cao học, Khoa Sư phạm Trường Đại học Cần Thơ, 2020.
[2] Nguyên văn: 智術之子,博雅之人,藻溢於辭,辭盈乎氣。苑囿文情,故日新殊致。宋玉含才,頗亦負俗,始造《對問》,以申其志;放懷寥廓,氣實使之。(Sđd)
[3] Nguyên văn: 為情者要約而寫真, 為文者淫麗而煩濫. (Sđd)
[4] Phạm Quý Thích dịch: Nửa gối đoạn trường tan giấc điệp/ Một dây bạc mệnh đứt cầm loan/ cho hay những kẻ tài tình lắm/ trời bắt làm gương để thế gian [Sđd]
[5] Tiếng nguyệt: tức chỉ tiếng đàn nguyệt, nhạc cụ có hai dây, một dây nam và dây bắc, thùng đàn hình tròn, dùng trong chầu văn hoặc hát ả đào, đờn ca tài tử.
[6]  Người viết tự dịch từ sách đã dẫn, nguyên văn: 李商隐的诗,误导读者,恐怕专家们也得深自反省吧? 中路因循我所长,古来才命两相妨。
[7] Lý Thương Ẩn - Lan trong rừng vắng, Lê Quang Trường biên khảo, NXB Văn Nghệ, 2009.

Không có nhận xét nào: