“HƯƠNG RỪNG CÀ MAU” – MỘT
GÓC NHÌN VỀ THIÊN NHIÊN HOANG DÃ NAM BỘ THỜI KHẨN HOANG
Nam bộ là vùng đất mới. Từ khoảng
thế kỷ 17, 18 những lưu dân người Việt đầu tiên đã đặt chân đến nơi đây và bắt
đầu công cuộc khai phá khẩn hoang, mở rộng thêm bờ cõi phía cực Nam tận cùng của
Tổ quốc. Trong quá trình khẩn hoang đó, những lớp người lưu dân vừa khai phá lập
làng lập ấp, vừa chinh phục tự nhiên khắc nghiệt nơi đây. Không biết bao nhiêu
câu chuyện kể về thiên nhiên Nam bộ vừa hào sảng và khắc nghiệt và hung dữ của
những người già, các bậc kỳ lão cao niên để lại, như chuyện Bác ba Phi, chuyện
về người dân thờ cọp thờ sấu. Và đáng tự hào nhất, với nhà văn Sơn Nam người
con ưu tú của Nam bộ đã dành hẳn một tập truyện ngắn với những sáng tác của
mình về thiên – con người nơi đây. Trong đó, có những câu chuyện về con người đối
mặt với loài cọp, loài cá sấu nguy hiểm. “Hương
rừng Cà Mau”, tập truyện ngắn viết về chân dung con người, thiên nhiên, những
câu chuyện phản ánh chân thực công cuộc chinh phục tự nhiên của các bậc tiền
nhân, có công lao khai phá vùng đất hào sảng Nam bộ cho đến ngày hôm nay.
1.
Thiên nhiên hoang dã chứa
đựng mối nguy hiểm khôn lường
Nếu như nói Nam bộ là vùng đất “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”
thì thật quả đúng như vậy. Vào giai đoạn mà vùng đất này mới có những dấu chân
đầu tiên của con người khai phá, tự nhiên nơi đây ẩn chứa vô vàn những điều bí
hiểm mà lớp người lưu dân chưa thể biết và đối phó. Nào là chuyện cọp rình bắt
người đi rừng ăn thịt, cá sấu cản mũi ghe thuyền đi dưới kênh rạch “Nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhứt”,
chưa kể đến những tai họa mà loài thú dữ cá sấu này gây ra thật thảm khốc cho
con người. Trong truyện “Con sấu cuối
cùng”, nhà văn có trần thuật lại chuyện đám cưới rước dâu bằng ghe và thật
xúi quẩy, thuyền bị sấu cản mũi và đập đuôi lật thuyền, cướp mất cô dâu ăn thịt
: “Hôm ngày cưới vợ của đứa con trai út,
đoàn ghe rước dâu bị sấu cản mũi, bà con hai họ kêu la ỏm tỏi, sấu lặn xuống rồi
trồi lên đập đuôi ngay chiếc ghe chở cô dâu, chú rể ... Nàng mất dạng sau khi
quơ đôi chân ngược lên trời, lần cuối cùng, đầu và mình đều khuất dạng dưới mặt
nước xao động, trong miệng sấu.” (trang 307). Trong những câu chuyện mang đề
tài về thú dữ như thế này, Sơn Nam đặc biệt chú ý miêu tả tường tận đặc điểm tự
nhiên nơi đây trong mối quan hệ giữa ba nhân tố : con người – tự nhiên – nỗi
kinh sợ. Thiên nhiên làm nền và chất xúc tác cho các câu chuyện về cá sấu, về cọp
thêm ly kì, hấp dẫn. Đồng thời, tác giả cũng chú ý nhấn mạnh đến đặc điểm sinh
thái vùng khí hậu nhiệt đới này là nơi có điều kiện tự nhiên hấp dẫn loài thú dữ
ăn thịt sinh sôi và phát triển khiến con người khó có thể bằng những biện pháp
cơ học thông thường mà bẫy bắt. Tính phức tạp và tập tính tự nhiên của loài sấu
khiến người dân ở làng Khánh Lâm phải “thủ
thế” nhìn nhau và “ra lệnh rút lui”:
“Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín
rụng! ... Cái ao lớn, ước một công đất, trên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy,
dây cóc kèn. Sấu nổi lên, chen vào bức tranh màu xanh ấy những vệt đen chi
chít; con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch
sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác ... Duy có con sấu
già trợn mắt về lũ người rồi bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế.”
(trang 86). Có lẽ qua bức tranh kinh dị toàn cá sấu ấy, cho thấy rằng tự nhiên ở
vùng đất U Minh Hạ này quá màu mỡ, dung dưỡng và cung cấp cho con người với nhiều
sản vật như tôm tép, cá cua, ong mật,... mà ngay loài thú không mấy thân thiện
với con người này cũng phát triển nhanh chóng theo mật độ tự nhiên quá dày đặc.
Như thế, thiên nhiên hoang dã Nam bộ quá hào sảng, giàu có sẵn sàng dung nạp
nuôi dưỡng đầy đủ con người đến đây lập nghiệp. Họ được ưu đãi món quà tự nhiên
ban tặng, vùng đất theo tiến trình địa chất hóa sẽ còn vươn dài ra biển, mở rộng
thêm đất đai cho lớp con dân người Việt sau này. Đúng như nhà văn Nguyễn Tuân
đã từng nói, mũi Cà Mau là “ngón chân cái
chưa khôn bùn vạn dặm” của Tổ quốc.
Tính chất nguy hiểm của tự nhiên
được nhà văn cụ thể hóa qua loài thú dữ. Đặc biệt là với cá sấu – loài thú mà
có sức sinh sản dày đặc như “trái mù u
chín rụng” khiến con người khó kiểm soát sự nguy hiểm mà chúng gây nên
trong tự nhiên đối với sinh hoạt và di chuyển trên sông nước bằng thuyền. Bằng
thủ pháp điển hình hóa, Sơn Nam điển hình loài sấu sống lâu năm theo quan niệm
dân gian Nam bộ về loài vật này “sấu đội
đèn”, tức con cá sấu có tuổi thọ cao, sống lâu năm và từng ăn thịt nhiều
người. Chúng gieo nên nỗi khiếp sợ với những người từng chạm trán với chúng và
từ những người ấy, tin đồn về loài sấu “đội
đèn” lan rộng nhanh chóng dẫn đến sự kính sợ với chúng. Trong ao cá sấu
trên ngọn rạch Cái Tàu (Bắt sấu rừng U
Minh Hạ), nhà văn có viết : “Duy có
con sấu già trợn mắt về lũ người rồi bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế.
Dân làng nhìn nhau như ra lệnh rút lui. Nghi ngờ gì nữa!Con sấu nọ có đóm đỏ
ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa”, sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với
loài người.” (trang 86). Cụ thể về loài sấu thành tinh, con sấu thường đi một
cặp “một đực một cái” với nhau, theo kinh nghiệm dân gian của các bậc kỳ lão, hồn
người bị sấu ăn thịt không thể siêu thoát, mà quanh quẩn theo cá sấu, khi nào bắt
kỳ được một người thế chỗ thì mới siêu thoát. Vì thế mà vòng lẩn quẩn của oan hồn
cứ xoay vòng theo con sấu đến khi nó quá hung hăng và liều lĩnh : “Theo tục lệ hồi xửa hồi xưa, sấu là loài thú
bị đày, mỗi con muốn thành tinh để đầu thai kiếp khác cần phải nuốt... chín
mươi chín nhơn mạng, thêm một người nữa là đúng một trăm chẵn.”(Con sấu cuối cùng, trang 307-308); và
tuy ý thức được tính nguy hiểm của loài thú dữ, nhưng con người quyết chiến đấu
với chúng để vong linh những người đã mất được quay về hưởng nhan khói với gia
đình và siêu thoát “Khổ lắm. Họ biết rằng
kẻ bị hùm tha sấu ̉bắt chẳng bao giờ trở về nhà hưởng nhan khói nếu con sấu, con
cọp sát nhân kia còn sống.” (trang 308).
Không chỉ riêng với loài cá sấu
được nhà văn chú ý ghi chép lại sinh động trong truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, mà đối với các loài thú dữ khác, Sơn Nam miêu
tả một cách thực nét, cận cảnh thú rừng U Minh đa dạng về chủng loài và mỗi
loài còn chứa nhiều câu chuyện li kì, cuốn hút với người dân. Viết về loài heo
rừng U Minh, có đoạn: “Con heo khịt đứng
sững, hai chân trước cao nghêu, mình mẩy đen thui, hươi nanh. Tiếng đồn không
sai: nanh dài trên một tấc, con heo khịt như con bò nhỏ, mớ lông gáy dựng lên
vàng hực lấp lánh.” (Con heo khịt, trang
256), và loài heo rừng này không gây nên nỗi khiếp sợ về tính mạng con người
như cá sấu hay cọp. Mà heo rừng gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại mùa màng
nghiêm trọng của lớp người dân nơi đây: “Chú
vợ của tôi ở rạch Ruộng có nói lại: nội một đêm, nó phá ủi gần hai chục công rẫy
khoai mì. Củ lớn ăn đã đành, củ nhỏ cũng không chừa.” (trang 249). Nỗi khiếp
sợ ba giờ cũng có nguyên do của nó, khi mà áp lực tinh thần của con người không
tài nào có thắng nổi với loài thú dữ, bởi thú dữ chỉ có bản tính của loài và
chúng hành động theo tập tính. Biết bao phen kịch chiến với chúng, con người dần
tạo nên tâm lý sợ sệt, nhút nhát và e dè với chúng đến nỗi chúng càng ngày lộng
hành, khuấy động cuộc sống sinh hoạt của người dân. Về loài cọp: “Tụi nó xúm nhau bơi xuồng về. Hỡi ơi! Hai ba
ông cọp chạy dài theo bờ rạch. Thôi thì đành trở vô vòng hàng rào nọ mà chờ đợi
tới sáng”; về cá sấu : “cũng chuyến nọ,
con tỳ bà tinh đang hát bỗng nhiên mặt mày xanh lét, tay run run chỉ xuống sông
rồi chạy trở vào buồng. Rõ ràng là Tỳ Bà Tinh thấy hai con sấu đang ngỏng mỏ vô
hàng rào. Ông kỳ lão ra lệnh gióng phèn la. Sấu lặn mất” (Hát bội giữa rừng, trang 507). Nếu nói
Sơn Nam là văn chuyên viết về đề tài Nam bộ và thiên nhiên Nam bộ chân thực và
đa dạng thì có lẽ ngoài Sơn Nam, còn có một số nhà văn cũng tham gia ngòi bút của
mình vào kho tàng đề tài rừng tràm này đạt được thành công không kém. Đoàn Giỏi
với tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam”
là một ví dụ. Đi sâu vào thực tế kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ những năm trước
và sau 1945, Đoàn Giỏi vừa viết đan xen hai mảng đề tài: yêu nước và thiên
nhiên – con người Nam bộ. Nhìn lại sáng tác của Sơn Nam, hai mảng đề tài nay
cũng khá khăn khít với nhau, làm nên thành công và là chất liệu chính cho hai
nhà văn viết về phương Nam này làm cảm hứng chủ đạo. Yêu nước đồng nghĩa gắn liền
với bảo vệ đất đai, lãnh thổ chủ quyền, bảo vệ lấy mảnh đất quê hương thân thiết.
Nhưng trong “Đất rừng phương Nam”,
Đoàn Giỏi đan xen khá hài hòa hai đề tài này với nhau làm tổng thể cho bố cục bức
tranh Nam bộ và con người trong kháng chiến chống Thực dân Pháp. Vừa miêu tả
thiên nhiên với những đặc trưng hấp dẫn người đọc (chẳng hạn như các chương
mang chủ đề: Đi câu rắn; Đi lấy mật; Chạm
trán với hổ; Phường săn cá sấu; Sân chim), nhưng ông thật chú ý đến yếu tố
chống giặc và đề phòng cảnh giác với Thực dân – kẻ thù chính mà ông cho rằng
nguy hiểm hơn bất kỳ loài thú dữ nào. Riêng Sơn Nam, trong tập “Hương rừng Cà Mau”, có những mẫu truyện
nhà văn dành riêng một không gian để miêu tả về từng loài thú, về cách di chuyễn,
tìm thức ăn và thói quen sinh hoạt của chúng (chẳng hạn: Bắt sấu rừng U Minh Hạ; Con heo khịt; Con sấu cuối cùng; Con trích ré;
Tháng chạp chim về; chi tiết bẫy chim cu trong Bốn cái ngu,...
Chất liệu miêu tả trong văn
chương của Sơn Nam gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người Nam bộ,
giọng điệu có lúc hài hước, có lúc bi thảm, buồn rầu – mặc dù là những mẫu chuyện
về thú dữ hại người kinh khủng. Chất văn chương thực tế và gần gũi với sinh hoạt
của người dân Nam bộ xưa cũng như nay làm cho khung cảnh tự nhiên của rừng tràm
U Minh, của từng bộ mặt con thú dữ đã cách thời đại của chúng ta hàng chục, thậm
chí có những mẫu chuyện lên đến trăm năm hiện lên sinh động như thể ta đang đối
diện với chúng. Đồng thời, giọng văn và cách dẫn truyện đi từ hồi hộp đến kịch
tính làm cho người đọc cảm nhận như đang thưởng thức câu chuyện bằng chính lời
người kể thật sự. Chính những yếu tố này mà tác phẩm văn chương viết về vùng đất
Nam bộ của Sơn Nam đậm đặc chất tự nhiên và mang nhiều đặc trưng riêng biệt của
vùng đất cực Nam thời khẩn hoang, nơi có những dấu chân đầu tiên của người Việt
đến đây và tạo dựng. Trong số các nhà văn viết về đề tài thiên nhiên Nam bộ,
nhà văn Sơn Nam đặc biệt thành công với loại truyện miêu tả thiên nhiên hoang
dã Nam bộ, về cách thức ứng phó với tự nhiên, vừa khai thác tự nhiên như một
nguồn lợi thiên phú. Đồng thời, thiên nhiên cũng là nhân tố bí hiểm chứa đựng
nhiều mối an nguy tiềm tàng, ghê sợ mà con người chưa thể khám phá hết.
2.
Hành trình chinh phục
thiên nhiên, nét văn minh miệt vườn độc đáo
Công cuộc chinh phục thiên nhiên
hoang dã ở Nam bộ thời kỳ khẩn hoang là một qui luật cần kíp. Đây là công việc
cần thiết, giải quyết ngay vấn đề chỗ ở, diện tích sản xuất, lương thực cho những
lớp người lưu dân người Việt ở Đàng Trong trong tiến trình mở đất, tạo dựng nên
vùng đất Nam bộ cũng như đồng bằng Sông Cửu Long trù phú như ngày hôm nay. Đối
mặt với điều kiện tự nhiên quá đỗi khắc nghiệt, khi mà ở vùng rừng thiêng nước
độc này ban ngày cũng như đêm “muỗi kêu
như sáo thổi, đĩa lền tựa bánh canh”, khiến con người dần phải tự thích ứng
và tìm ra những giải pháp kiên cố, mang tính thực tiễn lâu dài. Trong khi điều
kiện cơ sở vật chất còn khiêm tốn, người dân phải sản xuất và tự cung tự cấp
thì đối với công cuộc chinh phục thiên nhiên mang nhiều yếu tố của nhân dân, cộng
đồng. Trong đó, trí khôn dân gian được sử dụng nhiều hơn hết.
2.1.
Đối phó với thú dữ, bảo vệ
sự an nguy của cộng đồng
Thiên nhiên có hùng vĩ, có hoang
sơ nhưng chỉ là hình thức, con người có thể dần dần khai thác và biết cách hòa
hợp. Nhưng bên trong sự hùng vĩ ấy, chứa đựng những nhân tố mà con người khó
hòa hợp được: Thú dữ. Như đã trình bày trong phần (1), đây là những mối nguy hại
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, an sinh và tính mạng của cộng đồng người dân
Nam bộ thuở khai hoang. Nguyên nhân của mối ảnh hưởng này rất dễ dàng suy luận,
khi diện tích tự rừng nhiên của những loài thú, chim rừng,... đang bị xâm phạm
thì tất nhiên chúng sẽ có phản ứng tiêu cực với con người. Vì đây là môi trường
căn bản, là nhà của những “con dân rừng” cố cựu từ bao đời nay, khi trước con
người bắt đầu những nhát dao khai phá. Sự mâu thuẫn giữa con người và thú dữ được
những bậc tiền nhân, kỳ lão giải quyết nhanh chóng dựa trên cơ sở của trí khôn
dân gian.
Trí khôn dân gian là một dạng trí
khôn được hình thành trên cơ sở chiêm nghiệm, quan sát và kinh nghiệm thực tiễn
của một cộng đồng, dân tộc nào đó trên một lãnh thổ và được áp dụng trong lĩnh
vực để giải quyết các hiện tượng, sự việc nhân tạo hay tự nhiên. Trí khôn dân
gian ở Nam bộ có thể được hình thành trong mối quan hệ lao động, sản xuất của
con người khi đối diện với thách thức của tự nhiên. Khiến con người hình thành
nên dạng trí khôn đặc biệt này. Trong truyện ngắn của Sơn Nam, ông miêu tả dạng
trí khôn này khá sinh động, nhưng đặc biệt là ở tính khoa học, hoàn toàn tạo
nên ranh giới giữa khoa học và tín niệm dân gian hay võ đoán, cho thấy sự quan
sát thực tế và lòng tin của con người là hai khía cạnh khác nhau. Đôi khi nó tạo
nên sức lực hùng dũng của con người khi ứng phó với thú dữ, những sự việc mà
người bình thường khó có thể đảm nhiệm. Cọp và cá sấu là hai loài thú dữ chính
được nhà văn sử dụng làm chất liệu cho đề tài trong một số sáng tác của ông, bắt
và giết được cọp sấu là công việc hết sức nguy hiểm, kỳ vĩ, trong khi đó mật độ
rải rác tự nhiên của chúng quá dày đặc:
“U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường,
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp
tha.” (Hết thời oanh liệt, trang 519)
Nghiên cứu tập tính loài thú dữ
là một công việc hết sức cần thiết, con người Nam bộ chinh phục chúng và trong
miêu tả của nhà văn Sơn Nam, chúng ta tưởng chừng như họ là các nhà Sinh vật học
chuyên nghiệp. Về loài sấu: “Nơi sông rạch,
cá sấu là giống hung hăng nhứt. Có điều đáng chú ý là chúng không thích chốn
sông sâu nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật
hẹp. Vùng U Minh Hạ sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch cái Tàu vào giữa rừng
tràm”; “Đến mùa nắng hạn, sấu khỏi trở
về sông cái. Trong rừng có sẵn nhiều ao, nhiều lung, sấu cứ gom vào đó mà lập
căn cứ, sanh con đẻ cháu,...”(Bắt sấu
rừng U Minh Hạ, trang 85). Trên nền tảng tự nhiên ấy, đôi khi lại có những
biến dị thành quan niệm của sự tôn sùng quá mức: “Và trước mũi của chiếc xuồng quái dị nọ, hai tia sáng xanh ngời rọi tới
như hai cái đèn “bin”. Nghi ngờ gì nữa! Nó là con sấu lửa mà chú Tư thường nghe
mấy người đóng đáy nói lại... Bây giờ chú đã thấy tận mắt con sấu thần đó.
Thiên hạ nói sấu ấy thường đi có cặp, tu luyện hàng trăm năm rồi, nước mặn đóng
trên da nó một lớp dày, sáng chiếu lên như nước biển, đêm có trăng. Người cãi lại,
bảo rằng đó là ánh sáng của các cô hồn bị sấu ăn thịt.” (Sông Gành Hào, trang 804). Về loài cọp:
“Lông cọp, râu cọp đem về cắm trong măng
tre đang mọc. Vài hôm sau thì ô hô, mỗi
sợi là một con sâu. Tục truyền rằng loại sâu ấy lớn bằng cườm tay, mặt đỏ hói,
mình mẩy vằn vện, có đuôi dày ngoe nguẩy. Nhiều người nuôi nó trong cái hũ kím
mít để giữ nhà. Khi có khách đến sâu cọp nhảy dựng trong hũ nghe rổn rảng rồi
la hét.” (Hết thời oanh liệt,
trang 512),... Từ bước nghiên cứu tập tính, quan sát về các loài động vật mà người
dân Nam bộ dần dần tích lũy kinh nghiệm cho mình. Đến khi ứng phó đối mặt với
chúng, con người mang những kinh nghiệm ấy kết hợp với phương thức “lấy độc trị
độc” vừa linh hoạt, lại hiệu quả mà không thiệt hại : “... bị khói bay cay mắt, ngộp thở, phần vì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng
theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời ông Năm Hên chạy lạy. Sấu hả miệng
hung hăng đòi táp ổng. ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt
hai hàm răng ... Ông Năm xách cây mác, nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để
cắt gân đuôi. Đuôi sấu bị liệt.” (Bắt
sấu rừng U Minh Hạ, trang 90-91); dùng trí lực và sức mạnh để đánh bại con
thú gây nên nỗi bất an về mùa màng : “Nhanh
như chớp, ông Năm với cây lao cổ phụng – loại lao cong giống như cổ con phụng,
nó có ngạnh như cái mòng – Mũi lao ghim vào hông con khịt, đúng như sự tính
toán của ông.” (Con heo khịt, trang
257). Dựa vào yếu tố tự nhiên, tự tạo ra khoảng cách cách ly giữa con người và
thú dữ : “cất một cái nhà sàn ở giữa
sông, theo kiểu ba căn hai chái. Băn căn giữa dùng làm sân khấu, hai chái dùng
để đào kép ăn ở nấu cơm. (…) Chung quanh sân khấu nọ mình, vốc cừ tràm làm vòng
thành, gốc cừ này khít gốc cừ kia chừng một gang tay… Cọp phải bơ vơ ngồi trên
rạch, sấu thì đành ngóng mỏ, ngoài vòng. ” (Hát bội giữa rừng, trang 503). Nói như thế không phải trong công cuộc
chinh phục tự nhiên ấy, người dân Nam bộ không có thất bại và chùn bước. Nhưng
cái chùn bước đó là biểu hiện của tính dung hòa nhường nhịn với tự nhiên, đảm bảo
lợi ích hai bên đều sòng phẳng. Trong những câu chuyện đánh cọp, ông có viết :
“Ở xứ tôi có bố trí như vậy nhưng thất bại.
Gặp cọp, trống đánh lên, ai nấy xách tầm vong chạy tới. Cọp im lặng, trụ hình một
chỗ. Thinh không, ổng hét lên. Tức thì ai nấy chạy toán loạn. Có người thiếu điều
đổ ruột vì chạy càn đụng nhằm ngọn tầm vong của bạn mình.”. Đôi khi trí
khôn dân gian ấy thiếu hiệu quả, gây nên tràng cười hả hê : “Về sau, có người gày bẫy được một ông cọp. Họ
đút mũi tầm vong vô miệng cọp để đâm. Dè đâu cọp nhai nát như... mình ăn mía.”
(Hết thời oanh liệt, trang 515)
Hình dung về việc bắt sấu đả hổ ấy,
mỗi câu chuyện gần như một tiểu cảnh trong thước phim dài về đề tài chinh phục
thú dữ mà những con người Nam bộ thuở ấy là những diễn viên không chuyên nghiệp,
nhưng tinh thần nhiệt huyết luôn tràn trề. Trí khôn dân gian và kinh nghiệm làm
kịch bản để họ diễn xuất tốt trong thước phim sinh tử ấy. Với tấm lòng tha thiết
với cộng đồng, vì sự an nguy sống còn của làng xóm mà những con người anh hùng
vô danh ấy phải xã thân giết chết thú dữ đổi lại yên bình cho mọi người. Họ xứng
danh là anh hùng nhưng không cần “bia đồng
tượng đá” mà “người xưa đã đánh cọp để
tạo lập nên làng xóm. Họ không phải là thầy nghề võ, thầy bùa.” Tất cả xuất
phát từ thiện chí yêu hòa bình, chiến tranh dù với tự nhiên hay với đối tượng
nào khác chỉ là nhất thời bảo vệ tập thể, với lợi ích chung, chứ không vì cá
nhân, hiếu chiến.
2.2.
Sự hòa hợp giữa tự nhiên
với con người: nét văn minh miệt vườn độc đáo
Thiên nhiên Nam bộ vốn làm nền tảng
cho mọi điều kiện sinh hoạt con người nơi đây phát triển. Từ canh tác nông nghiệp
lúa nước, đốn tràm làm củi, dựng nhà, săn bắt các sản vật tự nhiên lấy từ rừng
(mật ong, cá, rắn, rùa,.. ),... Tất cả hầu như phải nhờ vào rừng – vào tự nhiên
sẵn có.
Trong một số sáng tác của nhà văn
Sơn Nam, cái tự nhiên mà ông miêu tả đó là quang cảnh trù phú của vùng đồng bằng
Sông Cửu Long của thế kỷ trước hiện ra trước mắt người đọc: “Trước mặt hiện ra một cảnh lạ mắt khiến thầy
bỡ ngỡ như hai chàng Lưu Nguyễn khi từ giã non cao để trở về gặp trần gian. Cảnh
rừng tràm dày bịt “cây chen vạn gốc” không còn nữa. Hàng trăm mái nhà cất san
sát thành một xóm lớn, trong bản đồ tự hồi nào đến giờ chưa có ghi vào.” (Chuyện rừng tràm, trang 226).Tự nhiên
ban tặng con người nơi ở, không gian sinh hoạt và điều kiện kinh tế độc đáo,
góp phần giải tỏa những bức bách mà lớp người lưu dân đang đối mặt với tự
nhiên. Trong lối sống sinh hoạt của người dân Nam bộ, quan niệm “an phận thủ
thường”, “an cư lạc nghiệp” được người dân hết sức xem trọng và lấy đó làm mục
đích. Yếu tố “an” (an toàn) làm cơ sở cho mọi điều kiện khác phát sinh theo. Đó
là ngôi nhà ở, cái trại heo chuồng vịt,... nơi lưu trú cho thành viên trong gia
đình và lưu trữ tài sản của họ. Mặc dù, đời sống của lớp người lưu dân khẩn
hoang chưa được giàu có, họ nghèo và phải đối mặt với tay sai và Thực dân – cái
chế độ đương thời gọi là “Chính phủ thuộc địa” – nhân tố gây cản trở sự phát
triển của đất Nam bộ xưa, nhưng con người Nam bộ luôn biết thức thời và chấp nhận,
vượt qua. Quan niệm “ăn theo thuở, ở theo thời” vẫn không bao giờ xa lạ lỗi thời,
họ biết tận dụng mọi thứ để xây đắp cuộc sống được tươm tất hơn, trọn vẹn hơn :
“Trăm sự cũng bởi đồng tiền ... Bác chỉ
cho ni tấc từng cây cột, cây kèo ... Cứ đốn sẵn nhận lấp dưới sình. Hôm nào thuận
lợi mình sẽ lưu đi. Mai kia mốt nọ, cuộc phá sơn lâm này mãn, chắc chắn thế nào
mình cũng lời được một cái sườn nhà.” (Nhứt
phá sơn lâm, trang 747-748). Đồng thời, điều kiện kinh tế lúc nào cũng chi
phối sinh hoạt, là nhân tố quyết định cho cuộc sống bớt căng thẳng hơn. Người
Nam bộ không chỉ canh tác nông nghiệp – chủ yếu là lúa nước và một số loại nông
sản chủ yếu của vùng, mà họ còn trồng các loại trái cây đặc trưng đậm chất miệt
vườn: “Vùng đất T.B từ lâu nổi danh về mận.
Ở đây, có hai loại mận to trái, ngọt như đường, không có hột. Nhiều người nhìn
nhận: ăn mận này ngon hơn ăn trái bom, trái xá lỵ. Màu tươi tắn hơn.” (Hai ông già, trang 473). Nhìn nhận về đặc
điểm tự nhiên, phương thức canh tác của người dân Nam bộ theo kiểu tự do, không
ràng buột bởi kỷ luật bởi đất đai ở đây vốn màu mỡ, có khả năng sinh sôi và
nuôi dưỡng những nông sản mà con người canh tác không ngừng nghỉ: “Bấy giờ, sau tháng Tết, dân trong xóm rẫy
thường đốt đất, đốt rừng. Lửa cháy ngày đêm, đất cháy hóa ra một loại phân tro
màu mỡ. Trên nền ấy, họ trồng nào bí rợ, dưa leo. Người nào lười biếng thì cứ để
đất “ở vậy”. Họ vẫn hưởng huê lợi lai rai vì mặt đất gọi là hoang vu, nghèo nàn
ấy dẫy đầy những bụi khóm (quả dứa).” (Ăn
to xài lớn, trang 26-27); một hình thức canh tác lúa nước độc đáo khác không
giống với bất kì nơi đâu mà nhà văn gọi là “Ruộng
lò bom, lúa Xom Mà Ca” : “Cỏ bị chặt đứt gốc trôi lều bều. Hai tháng nữa,
nước giựt xuống. Cỏ đã thúi, trở thành loại phân tốt, rải đầy trên mặt đất. Hai
tháng nữa, tức là tháng Hai tháng Ba âm lịch, trời nắng cháy. Vợ chồng Tư Cồ sẽ
trở lại đó, đốt cỏ. Rồi gieo lúa giống, loại lúa Xom Mà Ca từ lúc gieo đến lúc
trổ bông là bốn tháng.” (Ruộng Lò Bom,
trang 791).
Nói về sự hào sảng và phong phú của
động vật, thực vật nơi đây, có thể nói Sơn Nam là người thư ký ghi chép một
cách trung thực nhất. Về từng loài vật, loại cây rừng mang giá trị lợi ích cho
con người đều được hiện hữu dưới ngòi bút tả thực sinh động, hiện sinh của Sơn
Nam. Quan niệm “vật dưỡng nhân”, một quan niệm cố cựu của người Việt Nam ta bao
đời được tiếp tục phát sinh trong tư duy người dân phương Nam mang theo trong
quá trình khẩn hoang. Họ sử dụng sản vật của rừng như một đặc ân sẵn có mà tự
nhiên ban tặng, góp phần tạo nguồn sinh khí dinh dưỡng bền vững. Về món ăn ngon
từ các loài thủy sản: “Ở xứ này, người ta
ăn rùa độn cơm, thậm chí trong chén cơm thịt rùa còn nhiều hơn cả hột cơm.”(1); “Chúng
tôi đã ăn tuốt năm con cá lóc to – gọi là cá lóc nái. Mỗi con nướng chín thơm
phức nằm trên miếng lá chuối tươi. Sau khi dùng đũa xẻ một lằn dưới bụng cá,
chúng tôi trải con cá ra, gắp chừng ba bốn đũa là quăng bỏ cái xương sống cá, mặc
dù trong xương còn dính khá nhiều thịt.” (Cao khỉ U Minh, trang
158). Trên ý nghĩa thực tế về mặt dinh dưỡng, các món ăn ngon từ tự nhiên kia
phản ánh một vùng đất giàu có, trong sạch. Con người đã khai phá vùng đất mới
này và vô tình gặp được kho báu trời cho, đổi lại họ phải ứng phó với bao hiểm
nguy rình rập thì trong những giây phút nông nhàn nào đó, con người luôn biết tận
hưởng điều kiện sẵn có, thỏa mãn nhu cần bằng những phương tiện hết sức giản
đơn mà thanh cao. Bằng tư duy trực tiếp với bộ óc quan sát nhạy bén, người dân
giải thích những hiện tượng tự nhiên, sức khoẻ con người được đặt trong mối
quan hệ với con người và đời sống một cách khoa học, lô gích. Nói về sự tuần
hoàn giữa hai thực thể cá – muỗi và chuỗi thức ăn của chúng : “Bà con xứ này nhờ ăn cá mà khỏi chết vì bệnh
rét rừng. Muỗi cắn, sanh bệnh rét. Nhưng nhờ muỗi mà cá được mập mạp. Cá U Minh
lớn con nhờ ăn muỗi, ăn lăng quăng quá nhiều. Mình ăn cá tức là ăn thịt muỗi.
Tóm lại, vì muỗi mà mình mang bịnh, vì muỗi mà mình có đủ cá ăn để ngừa bịnh...”
(Cao khỉ U Minh, trang 159).
Không quá xem trọng nghi thức lễ
giáo, nhưng tâm thức tín ngưỡng con người Nam bộ về tự nhiên luôn được coi trọng.
Quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” là nhân tố được người dân xem trọng.
Đó là điều kiện tạo nên văn hóa tín ngưỡng độc đáo ở Nam bộ ngày xưa. Thờ cọp là một trong những đối tượng thờ
cúng chính trong các đình làng ở Nam bộ xưa mà đến ngày nay vẫn còn, cọp vừa là
thú dữ đe dọa tín mạng của người đi rừng, xóm làng cũng vừa là linh vật thờ phụng.
Sơn Nam từng nói về tín ngưỡng thờ cọp
trong tác phẩm của mình và ông có lý giải tại sao người dân phải thờ và kính trọng,
đến nỗi gọi tên cọp luôn đi liền với danh từ “ông”, chẳng hạn như “Ông Ba
Mươi”, còn cọp con thì được gọi bằng “cậu”. Qua cách xưng hô với loài cọp, ta
nhận thấy người dân xem trọng cọp ngang với hương chức địa chủ lúc bấy giờ.
Thái độ kính nể đó là tạo nên một văn hóa tín ngưỡng sùng bái tự nhiên độc đáo.
Truyện ngắn Hết thời oanh liệt, một
thiên truyện bao gồm các cuộc phỏng vấn bậc kỳ lão về ông cọp đặc sắc, về trí
khôn cũng như cách sáng tạo người dân chinh phục loài thú nguy hiểm này, tín
ngưỡng thờ cọp được ông gói gọn như sau : “Bố
trí một đạo binh đánh cọp không xong, dân xóm này mới bày đặt cất miễu thờ cọp.
Đó là ngụ ý: “Chúng tôi là người làm ăn, không dám đả động tới ông, xin ông cứ ở
trong rừng để chúng tôi được yên ổn!. Cất miếu xong, chạng vạng có người tới đốt
nhang. Mấy hôm đầu, ông cọp đi vòng quanh miếu, đứng nhìn nhang rồi về. Bữa sau
đem ra cúng một cái đầu heo rừng. Cọp mừng lắm. Từ đó xóm giềng được yên.”
(trang 515-516). Và cho đến ngày nay,
khi đặt chân đến các đình miếu thờ thành hoàng, các thần linh ở Nam bộ, dưới
bàn thờ vị Phúc đức chính thần là bàn thờ Ông Hổ, nhiều nơi thì đặt bàn thờ của
ông ngay gốc đa trước đình, sau lưng có tấm bình phong vẽ hình cọp oai vệ. Mỗi
dịp cúng lễ kỳ yên, hay rằm tháng giêng âm lịch bàn thờ Ông Hổ luôn được cúng
miếng thịt heo và con gà. Ý nghĩa của hình thức này thể hiện sự nhớ thương, biết
ơn của thế hệ mai sau đối với các bậc tiền nhân có công khai khẩn đất hoang,
khai sinh nên vùng đất Cửu Long trù phú này.
3. Con người Nam bộ luôn biết tận hiến và tận hưởng. Nét
văn minh miệt vườn độc đáo ở chỗ trên nền tảng tự nhiên, cách khai thác của người
Nam bộ hết sức tỉ mỉ. Họ vừa ý thức được nguồn lợi nào có hạn, phải bảo vệ và
duy, đối tượng nào là không thể xâm phạm và phải kính nể thờ cúng. Từ những mô
thức biểu hiện của văn hóa Nam bộ, văn minh miệt vườn như món ăn ngon từ cá đồng,
phương thức canh tác nông nghiệp thuận hòa với thiên nhiên, những đặc sản vùng,
cách thức tổ chức làng xã cộng đồng,... đã tạo nên diện mạo đầy sinh khí của đồng
bằng sông Cửu Long cũng như Nam bộ xưa.
Như thế, người nông dân nơi phía
cực Nam Tổ quốc này luôn nhạy bén trong cách quan sát tự nhiên, họ biết ứng xử
với tự nhiên một cách điều hòa trong canh tác, trong sinh hoạt. Họ vừa bảo vệ vừa
khai thác tự nhiên một cách hiệu quả nhất theo các đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng,
sông ngòi và các yếu tố tâm linh tín ngưỡng rất phù hợp với lề thói sinh hoạt
tích cực của con người. Làm nên thành công này, vẽ nên chân dung thiên nhiên
Nam bộ hào sảng, hùng vĩ và mĩ lệ như thế là nhờ vào công lao và tài năng của
nhà văn Sơn Nam – người được mệnh danh “Ông già Nam bộ”, người đã cống hiến cho
văn học Nam bộ phát triển nhanh chóng trong thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
Đối với đề tài về thiên nhiên Nam bộ hoang dã, tác phẩm “ Hương rừng Cà Mau” ông dành tất cả tình yêu quê hương của mình với
ngòi bút sáng tạo viết nên những trang văn đặc sắc. Đúng như lời nhận xét của
Phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Văn Nở đã từng viết: “Như một chú ong rừng hiền lành và cần mẫn, Sơn Nam đã âm thầm đi, lặng
lẽ ngắm nhìn và cặm cụi gom góp, chắt lọc những gì được gọi là tinh túy, là
vàng mười của cuộc sống, những mong để lại cho con cháu đời sau.”(2), nhà văn không chỉ làm công việc đơn
thuần là ghi chép lại những chuyện xưa tích cũ, mà còn là người đạo diễn phục dựng
và bảo lưu lại những gì được gọi là chân giá trị.
********
Chú thích
1. Sơn Nam, Biển cỏ miền tây – Hình bóng cũ, (truyện ngắn Cấm bắt rùa) nhà xuất
bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh năm 2015.
2.
Nguyễn
Văn Nở, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Lâm Điền (tuyển chọn), Những vấn đề Văn học Ngôn ngữ và giảng dạy Ngữ văn, (phần hai: Ngôn ngữ),
nhà xuất bản Giáo dục, Cần Thơ năm 2011, trang 132.
Tư liệu tham khảo
1.
Đoàn
Giỏi, Đất rừng phương Nam, nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội, 2010.
2.
Nguyễn
Văn Nở, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Lâm Điền (tuyển chọn), Những vấn đề Văn học Ngôn ngữ và giảng dạy Ngữ văn, (phần hai: Ngôn ngữ),
nhà xuất bản Giáo dục, Cần Thơ, 2011.
3.
Sơn
Nam, Biển cỏ miền tây – Hình bóng cũ
(truyện ngắn Cấm bắt rùa), nhà xuất
bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh 2015.
4.
Sơn
Nam, Hương rừng Cà Mau, tập truyện
tái bản lần thứ 7, nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2016.
---HẾT---

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét