Tản Đà là một trong những nhà thơ tên tuổi lớn của
thơ ca Việt Nam thời kỳ hiện đại. Ông được mệnh danh là dấu gạch nối giữa hai
thế kỷ, là thi sĩ đặt nền móng cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Sinh ra trong giai
đoạn mà nền văn chương cổ điển đi đến hồi kết, đời sống văn nghệ có nhiều thay
đổi, phong trào Thơ Mới lên ngôi và phát triển đẩy nhà thơ vào chỗ lãng quên với
đời sống văn chương đương thời.
Buồn bã và chán nản, Tản Đà với tài năng thi ca
thiên bẩm, ông tìm vào trong giấc mộng thơ ca và rượu. Tuy sống ở thời hiện đại,
nhưng tâm hồn và cốt cách con người thể hiện qua thơ ca của ông có sự qua lại
giữa cổ điển và hiện đại. Tâm hồn hiện đại đó chính là cái tôi mà ông đặt vào
thơ và cá tính ngông nghênh của một thi sĩ giữa hai thời đại. Trong đó, “rượu”
như một chất xúc tác để hồn thơ của Tản Đà bay bổng và làm cho những tâm sự của
ông càng hiện hữu. Nhiều sáng tác thơ của ông, rượu như một người bạn và là một
yếu tố nghệ thuật làm nên phong thái đặc biệt của thi sĩ. Bài thơ “Ngày xuân
thơ rượu” được Tản Đà gửi gắm niềm tâm sự về cuộc đời và quan niệm cá nhân về mối
quan hệ thơ ca và nhân thế.
Tản Đà đưa ra quan niệm rất đặc sắc của cá nhân
ông về thơ và rượu trong hai câu đầu đề: “Không thơ không rượu sống như thừa”.
Sáng tác thơ ca có thể được xem như tài năng thiên bẩm mà nhà thơ hình thành được
từ quá trình ý thức và trải nghiệm trong đời sống lẫn nghệ thuật ngôn từ, đối với
Tản Đà, thơ ca trong đời sống của ông là một phần vô cùng quan trọng. Cùng với
rượu, ông xem đó như là một quan niệm sống lẫn sáng tác:
Trời đất sinh ta rượu với
thơ
Không thơ không rượu sống
như thừa
Khác với thi tiên Lý Bạch thời Đường, Tản Đà có
thể xem là một “trích tiên” thời hiện đại. Trong thơ ca, chất xúc tác “tửu” làm
cho thi nhân thêm nồng nàn thi ý, trong ngữ cảnh bài thơ, thơ ca và rượu mà Tản
Đà thốt lên có thể được xem như một tuyên ngôn cá nhân ông về quan hệ thi tửu
được xuất phát từ câu cách ngôn “thi bằng tửu hữu” (詩朋酒友, thơ rượu cùng phải có
bạn đi chung).
Một trong những nguyên nhân mà số phận của thi
sĩ Tản Đà phải lui chân về quê tại Ba Vì sống thời gian an nhàn, xa lánh với những
thay đổi của dòng chảy xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX lẫn trong đời sống văn nghệ
bấy giờ. Ông chọn cho mình thơ rượu và sáng tác giải trí, đồng thời cũng là
dòng tâm sự của ông với sự nghiệp của mình.
Công danh hai chữ mùi
men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực
mờ.
Công danh và sự nghiệp của Tản Đà theo dòng chảy
thời gian và biến đổi xã hội khiến ông mấy lần lao đao. Không thành công ở kỳ
thi năm 1909 (Kỷ dậu), lần lượt làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh và sáng lập nên tờ
báo chuyên về văn học đầu tiên nước ta An Nam tạp chí (1926). Tính cách ngông
nghênh, phong cách làm báo làm tài tử nên tờ An Nam tạo chí xem như gắn liền với
văn nghiệp của ông cũng bị khai tử vì túng thiếu tài chính. Mượn rượu giải sầu,
Tản Đà tóm gọn chặng đường của đời mình qua hai câu thực mang chủ đề cốt yếu:
“công danh” như “mùi men nhạt” và “sự nghiệp” như “nét mực mờ”. Phải chăng đây
chính là sự tổng kết chặng đường mà ông nếm trải trong sự ngán ngẩm và bất
thành của một người mang tư tưởng thời đại.
Quê hương Tản Đà với núi Tản Viên và dòng sông
Đà, nơi gợi cho thi nhân với biết bao cảm hứng. Nhưng cũng chính không gian
hùng vĩ và gần gũi này lại là nơi trở về của ông sau những chìm nổi của số phận.
Trong cách nhìn của ông, dòng Đà giang và Tản lĩnh xuất hiện mờ ảo, như chính
cách nhìn của ông về số phận của mình viễn tưởng và xa xôi, vô định:
Mạch nước sông Đà tim
róc rách
Ngàn mây non Tản mắt lơ
mơ
Cũng dòng nước đó, sông Đà vẫn chảy theo qui luật
tự nhiên, nhưng chính dòng chảy đó tượng trưng cho sự thay đổi về thời gian và
bối cảnh, tương đồng với sự nghiệp của Tản Đà cũng thay đổi nhanh chóng. Non Tản
hùng vĩ, xa xôi nên cách nhìn của nhà thơ đối với biểu tượng này cũng lơ mơ và
bất định. Cấu thức hình ảnh thơ này của Tản Đà gần giống với cấu thức trong thơ
Trần Nhân Tông qua câu “vân sơn tương viễn cận” (mây và núi như gần với nhau).
Xét trong mối quan hệ giữa hai mối liên hệ: nhà thơ và hoàn cảnh hiện tại của
ông, thì ý nghĩa của hình ảnh mây núi xa xôi, biểu trưng cho ước mơ muốn thay đổi
của ông. Chẳng đâu khác hơn đó là ước mơ muốn làm thay đổi ý thức dân tộc và
hoàn cảnh đất nước. Một ước mơ cao cả mà một thi nhân lãng mạn và ngôn nghênh
như ông vẫn ấp ủ.
Khép lại sự nghiệp buồn bã của mình, trở về với
quê hương thanh bình, mượn thơ mượn rượu bầu bạn tiêu sầu. Phong cách và quan
niệm nghệ thuật của Tản Đà vô cùng độc đáo và mang dáng dấp của một thi tửu thật
thụ:
Còn thơ còn rượu còn
xuân mãi
Còn mãi xuân còn rượu với
thơ.
Tản Đà tận hưởng mùa xuân qua thơ và rượu. Đó
cũng chính là hành trình trải nghiệm của nhà thơ với cuộc đời nghệ thuật của
mình. Thơ - rượu và mùa xuân như hòa quyện vào trong tâm hồn thi sĩ: mùa xuân gợi
tứ cho cảm thức thi nhân, rượu làm chất xúc tác cho thơ ca thêm nồng nàn ý vị.
Khép lại bài thơ, một lần nữa Tản Đà khẳng định giá trị và bản chất của mối
quan hệ thi tửu với thời gian: mùa xuân sẽ tiếp nối và còn mãi nếu còn thơ và
rượu, đó cũng phải chăng chính là mùa xuân trong tâm hồn người nghệ sĩ yêu thơ
và yêu sự nghiệp mà chính bản thân ông theo đuổi, xem thơ ca như là cuộc đời
chính mình.
Tản Đà qua đời và để lại sự nghiệp văn chương đồ
sộ và giá trị. Chính ông là một trong những nhà thơ đặt nền móng cho thơ ca hiện
đại Việt Nam thời kỳ đầu. Pha lẫn cổ điển và hiện đại, chất xúc tác nghệ thuật
trong thơ Tản Đà làm cho phong cách sáng tác của ông độc đáo và mang dấu ấn thời
đại rất lớn.Và chính cá tính ngông nghênh và lãng mạn làm nên diện mạo chính
ông và chính diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại thời kỳ 1900 – 1930 rất lớn: vừa
lãng mạn vừa hiện thực và vừa đổi mới.
Canh tý niên, thu nguyệt, Cần Thơ, Ninh Kiều, Trịnh Ngõa nhị thập tứ tuế.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét