Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

CÁI ĐẸP CỔ ĐIỂN QUA HỘI HỌA Khảo sát ba tác phẩm The Swing (Jean-Honoré Fragonard), Thanh minh thượng hà đồ (Trương Trạch Đoan) và Ngoại (Nguyễn Huy Thông)




1.      Mở đầu

Hội họa thế giới đi từ nét vẽ sơ khai từ trong các hang động, vết tích đầu tiên hay các di chỉ vẫn còn lưu giữ lại được. Hội họa được xem như những hình dung ban đầu của loài người về tự nhiên, vạn vật xung quanh thông qua mô phỏng đường nét và tạo hình bắt chước. Nghệ thuật hội họa đông tây trải qua cuộc biến hình đầy sóng gió khi phương tây xem trọng cái cổ điển là mẫu mực ở thời kỳ phục hưng, ở Trung Hoa – một đại biểu lớn của nền văn học nghệ thuật phương đông chú trọng nhiều đến nghệ thuật mô phỏng từ bách gia và phương thức sáng tác lấy kỹ pháp từ quan niệm triết học cổ điển Lão Trang. Hội họa cổ điển Việt Nam với dấu ấn đặc trưng là tái hiện và hội họa chức năng phục vụ cho triều đình phong kiến là chủ yếu, hội họa dân gian vẫn là hình thức gắn với đời sống tâm linh, tranh mang nội hàm tư tưởng khuyến động trong dân gian. Hiện nay, mỹ thuật và hội họa hòa nhập với cái nhìn cải tân, đôi khi cũng có sự phân hóa sâu sắc giữa các trường phải khác nhau. Tuy nhiên, hội họa cổ điển vẫn giữ được cái tâm và tính đặc sắc của phương thức sáng tác mẫu mực, bất di bất dịch. Bộ ba tác phẩm hội họa mà chúng tôi khảo sát và phân tích các cách nhìn mỹ học từ cái nhìn Đông sang Tây, và nhìn lại tác phẩm Việt Nam để chứng nghiệm hành trình tiếp nhận của tinh thần hội họa Việt Nam. Đồng thời, chứng nghiệm được sức sống của hội họa Trung Hoa, hội họa phương tây dưới cái nhìn so sánh không chuyên.
2.      Nội dung
2.1.           Tác phẩm The Swing của Jean-Honoré Fragonard (Pháp, 1766)
Jean-Honoré Fragonard (1732 – 1806) là họa sĩ người Pháp, ông danh dự từng đoạt giải thưởng La Mã do chính người thầy của mình là Boucher (1703-1770). Tác phẩm của ông chủ đề thường hướng đến mô tả đời sống tự nhiên, tình yêu đôi lứa, sinh hoạt thường nhật của con người. Tác phẩm The Swing ra đời năm 1766 (có tài liệu ghi 1767) khi nhà họa sĩ nhận được đơn đặt hàng từ Baron Louis-Guillaume Baillet de Saint-Julien vẽ chính người tình của mình. Nội dung của bức tranh xoay quanh việc mô tả hình ảnh một người phụ nữ tring chiếc váy hồng trên cái xích đu được kéo bởi một người đàn ông lớn tuổi phía sau, dưới chân nàng là chàng trai trẻ đang thích thú ngắm nhìn cử động cua chiếc đu. Đồng thời, trong bức tranh cũng mô tả chiếc giày của người phụ nữ bị chính nàng hất văng về phía bức tượng thần Cupid – vị thần của tình yêu và dục vọng. Ở bối cảnh sau lưng nàng là hai bức tượng của hai vị thiên sứ gần như ánh mắt và điểm nhìn về thần Cupid phản đối. Sự hô ứng của các sự vật trong họa phẩm làm nên cái nhìn xéo về không gian và điểm nhìn ánh sáng của các nhân vật.
2.1.1.     Phương thức thể hiện động tĩnh
Họa sĩ lấy hướng chuyển động của chiếc xích đu làm điểm nhìn chính tuyến của tác phẩm, phụ tuyến là cảnh vật xung quanh và các tĩnh vật nền bối cảnh nền cho tác phẩm. Sự chuyển động của bức tranh nhìn từ điểm nhìn của nhân vật hạ tuyến (người ngồi dưới ngắm cô gái) và phụ họa của chiếc giày cô gái hất tung, vị thần tình yêu và dục vọng qua bức tượng với hướng nhìn về cô gái và chiếc xích đu chuyển động như thể đồng vọng. Sự tương hợp trong điểm nhìn giữa vật thể trong tranh tạo cảm giác cho người thưởng thức tranh cũng đồng cảm được sự hô ứng giữa các tĩnh vật, chủ thể trong tầm nhìn bằng mắt thường mà chưa cần phải liên hội với các hình thái ý thức khác.
Chủ thể và cố cục chính trong tranh đó là hình ảnh cô gái trên xích đu và chàng trai bên dưới nền cỏ xanh đang hướng mắt nhìn với nhau. Sự hô ứng này tạo nên cảm giác đồng vọng về thẩm mỹ. Đó là sự hô ứng về người trao truyền tín hiệu tình yêu với đối tượng tiếp nhận trong tranh. Kỹ pháp vẽ trực diện nhân vật chính của hội họa cổ điển phương tây đã có sức tác động làm cho chủ thể chính yếu của tranh luôn nổi bật và điểm nhìn từ người tiếp nhận luôn hướng vào chính nó để có thể cảm nhận được nội dung chính trước, sau đó mới là hậu cảnh.
2.1.2.     Nội dung bối cảnh
Bối cảnh của bức tranh là dải màu xanh lam, lục kéo dài, dần về phía các góc là xanh dương đen, tối màu. Chính giữa tranh là màu sáng của ánh nắng ban mai chiếu từ trên không xuống theo hướng của cô gái cùng với sự chuyển động của chiếc xích đu. Quyển A World History of Art (Hugh Honour, John Fleming, 2005) từng mô tả: Trong sáng tác The Swing năm năm trước của ông đã đạt được sự minh xác ý niệm biểu đạt nghệ thuật Rococo của Pháp giai đoạn cổ điển. tác phẩm The Swing, người phụ nữ Pháp như được lấy làm chủ đề khái niệm của nghệ thuật, sự nổi bật trong họa tác của fètesgalantes, đó là một vài bài thơ thông thường đối với sự chúc tụng sự giải trí nhàn hạ, ca ngợi cuộc sống sinh hoạt giới quý tộc. sự xuất hiện của các đứa trẻ biểu hiện ý niệm thụ hưởng tiêu khiển, mà người nam thì rất hiếm khi có. Phụ nữ và trẻ em trong tranh như sự chiếm hữu độc quyền của chính bản thân nghệ thuật, The Swing đã rât nhanh chóng đạt được sự tiến triển trong nội hàm về việc mô phỏng, bắt chướt sự hưởng lạc trong chế độ cổ xưa. Đó là sự thu nhỏ của cách nhìn tinh thần yêu thương, nổi bật là sự biến hóa bất ổn định của nữ tính, đặc biệt là trong xã hội bậc cao, những người phụ nữ luôn lấy những trò chơi tiêu khiển để tự làm vui bản thân, nếu như không chính là xuất phát từ trong nội tâm. Chiếc xích đu cũng chính là vẻ đẹp cho điệu tình chân thực mà tiêu khiển nhẹ nhàng[1] [1; 614]. Ý niệm phê bình tác phẩm của Hugh Honour hầu như đã tóm tắt được nội dung cơ bản của câu chuyện ẩn ý sau bức tranh và tinh thần phục cổ, quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật và nhân sinh rất cao xa.
Vấn đề bối cảnh và màu sắc trong tác phẩm cũng là yếu thẩm mỹ quan trọng. Nhờ bối cảnh sau nhân vật, chủ thể chính trong bức tranh mà toàn diện tác phẩm cho người thưởng lãm một cảm giác mơ mộng bay bổng. Màu xanh biến chuyển của bối cảnh đem lại cảm giác thanh thản, thư giãn, nhưng chất chứa sự huyền ảo của không gian sơ khai. Tán cây, vật – tượng bằng đá phía sau như sự đổ nát của những sự cố định bất biến của một biến cố đã thành tan hoang. Cây cỏ màu xanh tươi mới đã thay thế những di tích đó bằng tình yêu, sự đong đưa của xích đu và tình cảm nam nữ tươi mới hòa phối với bối cảnh được phục sinh. Trên nền thiên nhiên hình như mới được thiết lập, vẻ đẹp của tình yêu và con người hầu như được tư nhiên giao phó, chủ đề tình yêu của bức tranh hài hoà với các chủ thể chính, cái đẹp tự nhiên, sự khoái lạc, sự chuyển động trên nền thiên nhiên cây cỏ tươi sắc màu, ánh sáng chiếu từ trên xuốn đất như hưởng ứng ủng hộ tình yêu và sự giải trí tiêu khiển của con người.
2.2.           Thanh minh thượng hà đồ của Trương Trạch Đoan (清明上河图, 张择端), Trung Quốc, Bắc Tống
2.2.1.     Mô tả tác phẩm



Thanh minh thượng hà đồ là tác phẩm được xem như quốc bảo của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và của Đài Loan. Chính vì sự nổi tiếng và giá trị thẩm mỹ của hội họa cổ điển mà chính tự thân tác phẩm hoặc các nhà sưu tầm đã tự sao chép ra các phiên bản khác nhau. Phiên bản gốc của bức tranh do chính danh họa Trương Trạch Đoan (1085-1145) vẽ và được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh – Trung Quốc. Các phiên bản khác được phỏng tác vào đời nhà Thanh (bản vẽ năm 1736) để hiến cống cho hoàng đế Đại Thanh Càng Long nay được giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc (Đài Loan, Trung Hoa dân quốc).
Tên của tác phẩm được dịch có nghĩa là “bức họa về tiết thanh minh trên sông”, mô tả cảnh sinh hoạt của thường dân và giới thượng lưu xã hội Trung Quốc vào dịp tiết thanh minh. Bức tranh có tỷ lệ 24,8×528,7 cm, thể hiện trên chất liệu giấy Tuyên thành[2], kỹ pháp công bút của hội họa thủy mặc trường phái chức năng, được bồi lụa dạng trục biểu cuốn lại. Nhờ cách bảo quản này mà họa tác đã lưu giữ được qua nhiều biến cố lịch sử, qua các nhà trung gian sưu tầm và còn nguyên vẹn đến ngày hôm nay với hơn một nghìn năm tuổi. Chính đề tài thẩm mỹ trong lễ tiết truyền thống của xã hội Trung Quốc xưa, Thanh Minh thượng hà đồ còn là nguồn cảm hứng bất tận cho những sáng tác của các loại hình nghệ thuật khác. Nhiều bài hát, từ khúc, thi ca của các văn nhân thi sĩ, kịch tác gia, nhạc sĩ đã phóng tác từ yếu tố nghệ thuật của tác phẩm hội họa này.
2.2.2.     Nội dung thẩm mỹ
(1)  Nghệ thuật sắp đặt bố cục
Hình thức cơ bản nhất của Thanh minh thượng hà đồ đó là cách sắp đặt qui ước theo tỷ lệ. Nếu nhìn theo chiều dài của tranh, từ phải sang trái (tả - hữu) rõ ràng họa tác được thiết kế theo điểm nhìn từ bờ vực nông thôn, khung cảnh người chăn dắt gia súc. Trên lưng gia súc đang thồ hàng theo con đường đất nhỏ để có thể đi đến phố thị ở phần trung tâm của tranh. Dần dần theo hướng chuyển động sang cánh trái, quang cảnh làng mạc nhà thường dân lộ diện, tiệm cận là phố thị và khung cảnh như “chợ nổi” vào tiết thanh minh nhộn nhịp. Bố cục theo hình thức từ sơ – phức – hợp – kết của tranh thủy mặc truyền thống, tuân thủ theo không gian của phép “thấu thị tẩu mã”[3].
Bố cục sắp đặt hài hòa trái phải cũng được tuân thủ rất nghiêm ngặt. Tính thẩm mỹ của việc sắp đặt bố cục trong Thanh minh thượng hà đồ rất được chăm chút một cách qui cũ. Không gian tầng bậc cho thấy bố cục tranh sắp xếp theo hình chữ “thiên”[4], hàm ý chứa đựng tư tưởng mỹ học về vũ trụ và sự cân đối: thiên nhân hợp nhất theo tu tưởng của Đạo, hoặc “đạo pháp tự nhiên”[5], tức chỉ trời đất và sự hợp nhất giữa con người. Trong bối cảnh một tiết thanh minh trên sông, cảnh hợp chợ, từng tiểu tiết bố cục của quanh cảnh trên sông cũng được Trương Trạch Đoan chú ý rất vi tế. Con thuyền, lão chài tay nâng giỏ cá và hình ảnh thuyền buôn của các đại thương nhân cuối thời Bắc Tống neo đậu trên bờ ngạn. Ý và cảnh nên thơ, nhịp sống của thường dân dưới chế độ phong kiến thịnh suy dần dần lộ rõ.
Xét về yếu tố cảnh, Thanh minh thượng hà đồ có giá trị hài hòa vẻ đẹp giữa con người và cảnh vật, thiên nhiên được miêu tả. Số người và số vật trong tranh như quan sát thì tỷ lệ cân bằng với nhau, không thiêng lệch. Không giống như trong tranh thủy mặc chủ đề hoa điểu[6], tranh sơn thủy phong cảnh chù yếu đề cao tính cao nhã của vẻ đẹp không cảnh và các đối tượng miêu tả trực tiếp như: núi (sơn), nước (thủy), mây (vân),cây cỏ (thảo mộc). Tất cả hòa quyện theo trục ngang của điểm nhìn, ngoài ra cũng có các điểm nhìn ngoại tuyến như, đối nghịch xen lẫn tromg tranh như: hướng di chuyển của người vật trên các hà kiều, hàng quán hoạt dộng trên bờ sông, thương nhân tiểu thương cùng hoạt náo trên cùng một khách điếm,...
(2)  Bút pháp tuân thủ theo triết học âm – dương tương đối
Cái đẹp của Thanh minh thượng hà đồ nhìn tử triết học âm dương thể hiện ở hai vật thể đối nghịch nhau, nhưng không hoàn toàn phản biện mà hỗ tương một cách đầy đủ, không đơn điệu.
Sự hô ứng của cảnh vật trong quanh cảnh lẫn các cử chỉ con người, nhân vật trong họa tác phản ánh rõ nét điểm này. Chẳng hạn, người trên thuyền hô, người trên bờ ngạn đáp. Thậm chí cử chỉ tay chân, hoạt đông thao tác cũng rất nhịp nhàng và sinh động... đó chính là những tái hiện theo qui tắc vận động của qui luật âm dương, chủ khách, gần xa,... của các nguyên tắc cơ bản của thủy mặc cổ điển nào cũng phải tuân thủ.
Kiến trúc của các ngôi nhà, chòi tháp canh của quan quân trong bức họa là một kiểu đề tài thuộc về nguyên tắc sáng tác hội họa âm – hương hợp nhất. Tháp canh, hoặc các kỷ viện thanh lâu, các tòa nhà có lầu cao trong họa tác đều tương đối với chiều cao của cây cối, không hơn kém. Mặt chính diện của các tòa nhà đều được thể hiện nhìn ở hai mặt, tả - hữu và tiền – hậu. Sự đối ngẫu này chính là yếu tố, phương thức sáng tác nghệ thuật cơ bản của nền nghệ thuật cổ điển Trung Hoa. Tác giả Dư Huy (Trung Quốc) từng mô tả trong nghiên cứu về kiến trúc trong Thanh minh thượng hà đồ: Nhìn vào các họa quyển kiến trúc đời Thanh, trong đó các loại hình kiến trúc đồng dạng với kiểu nhà dân cư tứ hợp viện, khoảng sân khá rộng và thoáng, mái nhà loang lổ khác nhau, đặc biệt là các kiểu thức tổ hợp nhà dân không cùng sự đối xứng, như loại hình nhà chữ “thập” (), chữ “công” (), chữ “ao” () với hình thức kiến trúc của một con dấu (triện ấn), còn thêm góc lầu chuyển điểm nhìn, cửa lầu trong cách nhìn kiến trúc của thời nhà Tống điển hình là kiểu thức chữ “công” ()[7][2; 128].
Như vậy, vẻ đẹp trong họa tác Thanh minh thượng hà đồ còn thể hiện kỹ pháp tái hiện và mô phỏng kiến trúc, đúng với tinh thần của mỹ học và thực dụng kiến trúc. Nhìn vào cách tái hiện của Trương Trạch Đoan, các tòa nhà và kiến trúc xây dựng của Trung Hoa tuân thủ nghiêm ngặt theo hình thức cấu tứ của chữ Hán và phong thủy. Từ đó cái đẹp cổ điển của tranh được nhìn nhận từ góc độ ứng dụng và mô phỏng một cách mẫu mực.
(3)  Tái hiện đa diện quang cảnh và con người
Thế giới nhân vật trong Thanh minh thượng hà đồ đa dạng và phức tạp. Từ nông dân, thương nhân, quan lại,bộ tứ “sĩ nông công thương” và tầng lớp quan lại tăng lữ, kỹ nữ... đều được tái hiện chân xác và sống động. Mỗi một nhân vật được vẽ với một sắc mặt, thái độ khác nhau, thể hiện bề sâu tâm lý và sự hoạt náo vui vẻ bề ngoài. Thậm chí, động vật trong quanh cảnh thanh minh trên sông ấy đều có sắc thái biểu cảm với hoàn cảnh, không cảnh và thời gian tồn tại. Thậm chí, còn có các tài liệu ngoại biên không chính thống còn cho rằng trong Thanh minh thượng hà đồ tồn tại 824 người, mỗi người đều mang một danh tính nhất định, hàng quán, khách điếm trong quang cảnh theo chiều dài ấy đều mang một bản hiệu kinh thương cố định. Các bữa ăn trong của khách vãng lai đều được miêu tả chi tiết...
2.3.     Tác phẩm Ngoại của Nguyễn Huy Thông
Tác phẩm Ngoại của họa sĩ Việt Nam hiện đại Nguyễn Huy Thông hiện được lưu giữ tại bào tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, được vẽ trên chất liệu lụa và màu nước.
Bức tranh mô tả nhân vật một bà cụ già đang ngồi với ánh mắt nhìn xa xăm, khắc khổ trông ngóng. Hai phông màu chủ đạo trrong bức tranh đó là trắng và đen, bối cảnh nâu ngả vàng.
Tác phẩm Ngoại của họa sị Nguyễn Huy thông với vẻ đẹp đường nét, miêu tả chi tiết của các cơ hình thể của người phụ nữ lớn tuổi. Kỹ thuật miêu tả ánh sáng và đường nét, cái nhìn của chủ thể đối với người tiếp nhận. Ngoại trong tâm thức người dân Việt Nam, là người phụ nữ tảo tần, sớm hôm nuôi dưỡng con cháu vì gia đình và tình yêu bao dung vô bờ bến. Hình ảnh người bà với cái nhìn khắc khoải, thương cảm và mong chờ làm rung cảm và sống lại các hồi ức về hình ảnh người bà trong tâm thức người con, cháu xa quê. Tuy chỉ với phác họa màu nước, tác phẩm Ngoại vừa mang yếu tố thẩm mỹ về hình khối, vừa mang giá trị tinh thần đậm nét về người bà tình cảm gia đình khó có thể quên. Ngoài ra, trong cách nhìn sáng tác mỹ thuật hiện đại, tác phẩm Ngoại là sự độc sáng về chủ đề nhân vật của các họa sĩ, sự kết hợp yếu tố ánh sáng, màu và hình nét làm nên sự sáng tạo nghệ thuật riêng biệt của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
3.      Kết luận
Cái đẹp trong các tác phẩm hội họa cổ điển và hiện đại phản ánh sự lưu giữ hình ảnh con người, thiên nhiên vũ trụ. Đồng thời cái nhìn mỹ học trong tranh cũng là cách nhìn tôn thờ tự nhiên qua các hình thái ý thức nghệ thuật và đời sống xã hội. Tranh lưu giữ giá trị nhất thời của thời đại mà họa sĩ sáng tác, nhưng những tiếng đồng vọng của nó còn mãi ngân vang với hậu thế. Trường hợp tác phẩm hội họa cổ điển The Swing và Thanh minh thượng hà đồ là cái đẹp cổ điển, kỹ pháp sáng tác cổ điển mẫu mực đã làm giá trị bất biến của tác phẩm. Tác phẩm Ngoại trong cái nhìn hiện đại là tác phẩm điểm tô, gợi nhớ về cái đẹp của hình ảnh người bà, tình cảm thân thương với những con người đã và đang còn “ngoại” theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Giá trị  thẩm mỹ trong tranh và giá trị nghệ trong bộ ba tác phẩm hội họa trên đã minh chứng sức sống của nghệ thuật với thời gian, với công chúng và những người tiếp nhận cái đẹp.
Tài liệu tham khảo

Tiếng Anh:
1
Hugh Honour, John Fleming, A World History of Art, Laurence King Publishing, 2005.

Tiếng Trung Quốc:
2
, 张择端《清明上河图》卷新探, 故宮博物院院刊 2012年第5期・ 163.

           Tranh sử dụng trong bài viết (quét mã QR để xem tranh)
The swing
Thanh minh thượng hà đồ
Ngoại




[1] Nguyên văn tiếng anh: Had been given much more explicit expression five years earlier in The Swing (14.7). A woman on a swing was an established motif in French Rococo art, especially in paintings of fètes galantes, those poetic celebrations of the aristocratic life of leisure, Children were occasion- ally shown enjoying the pastime, very infrequently men. Women and girls monopolized it and the swing soon acquired further connotations. It seemed to epitomize the pleasure- loving, licentious spirit of the ancien régime and in particular the fickleness and inconstancy ascribed to women, especially in hiigh society, their teasing changes of mind if not of heart in the perpetual to-and-fro game of light- hearted, feet-off-the-ground flirtation [p.614]. Đoạn văn trên, chúng tôi chủ yếu chuyển dịch từ nguyên văn phiên bản tiếng Trung Quốc, sách cùng loại.
[2] 宣城纸Giấy Tuyên thành hay giấy Tuyên, một loại giấy truyền thống của Trung Quốc dùng sử dụng trong viết chữ vẽ tranh và in ấn.
[3] Thấu thị tẩu mã (透视走马) điểm nhìn hình dung từ lưng ngựa chạy, tức phép chuyển  dịch nhìn theo chiều ngang (hoành thị).
[4] Chữ thiên, bao gồm ba hình bàng gáp lại: hình bàng nhân và bộ nhị, gồm thiên địa và nhân, chỉ cõi vũ trụ.
[5] Lão Tử, Đạo đức kinh, chương 32.
[6] Hoa điểu: tranh thủy mặc miêu tả các loài hoa, cây cối và chim muông và cả động vật. Gọi chung là hoa điểu.
[7] Dịch từ nguyên văn tiếng Trung Quốc: 俯瞰《清》卷中的建筑,其中类同四合院式的民居、庭院颇为别致,屋顶错落有致,特别是各种不同类型的对称式民房的组合群,如字形、字形、字形和一颗印形等建筑,还有转角楼、门楼和宋代典型的工字殿等. Sđd, trang 128.

DẤU ẤN HUYỀN THOẠI SÁNG THẾ TRONG MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM (Khảo sát các truyện Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân và Âu Cơ và sử thi Đẻ đất đẻ nước)


b    

  1.  Những vấn đề chung
Khảo sát tác phẩm văn học huyền thoại mang nội dung sáng thế dưới dạng văn bản từ thể loại văn học dân gian mang tính chất truyền khẩu và có dị bản. Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu đi tìm các phương diện đặc thù trong nội dung mà tác phẩm thể hiện, không quá đi sâu khai thác yếu tố nghệ thuật kể chuyện và giọng điệu. Bởi một trong yếu tố tiên quyết của tác phẩm huyền thoại đó là tư duy cảm tính, câu chuyện thần huyền trong truyện kể chủ yếu mô tả lại quá trình hình thành nên thế giới, cộng đồng mang qui mô khai mở một thời kỳ đầu tiên trong lịch sử.
1.1.           Đôi nét về khái niệm huyền thoại học
Khái niệm “huyền thoại học” được hiểu là môn khoa học nghiên cứu về huyền thoại, mà đó là môn khoa học tìm ra những đặc trưng lớn và những ảnh hưởng của huyền thoại từ những thể loại trong văn hóa dân gian hay trong thể loại văn học mang khuynh hướng huyền thoại.
Trong nghiên cứu huyền thoại học rất đa dạng và bao hàm nhiều mô típ được thu nhặt từ yếu tố văn hóa và văn học. Huyền thoại học trong khoa nghiên cứu văn chương ở một số nền học thuật văn chương được gọi theo tiến trình lịch sử khác nhau. Giới nghiên cứu văn học ở Trung Quốc, khái niệm huyền thoại được các học giả Trung Hoa gọi bằng “thần thoại”. Từ những sáng tác ban đầu, văn học Trung Hoa không chủ trương định danh khái niệm, mà chỉ tập trung vào yếu tố tên tác phẩm được các học giả tri thức đương thời biên tập và chú giải. Từ yếu tố tên tác phẩm huyền thoại, người Trung Hoa ấn tượng với tên gọi và in hằng vào niềm tin trong vô thức được truyền từ đời này sang đời khác, từ triều đại này sang triều đại khác trong một tập thể, một dân tộc. và những vô thức này, trong huyền thoại được liên kết mạnh với yếu tố truyện kể và những mạch ngầm của văn hóa dân gian mang tính chất và hình thức của cổ mẫu.
Khác với Trung Hoa, huyền thoại trong lịch sử văn học phương tây mang đậm nét lịch sử và dấu ấn tôn giáo. Những cuộc chiến tranh được hóa thân thành lịch sử và trở thành dấu mốc đầu tiên tạo nên những tiền lệ về hình ảnh người anh hùng, thần nữ và các vị tiên thánh. Hoặc giả như trong nhiều tác phẩm mang yếu tố sử thi, thần thoại trong văn học phương Tây, khái niệm “huyền thoại” được gọi chung theo ngôn ngữ có quan hệ anh em: Myth (danh từ: thần thoại, chuyện hoang đường,...); tiếng Hy Lạp là Mythos, tiếng Pháp Mythe,... đều có chung mẫu gốc “Myth” để chỉ chung mối huyết mạch giữa các câu chuyện thần huyền. Ngược lại trong cách gọi huyền thoại học ở Trung Hoa được ảnh hưởng bởi cách gọi cận – hiện đại từ sự chuyển dịch khái niệm ở nước ngoài sang Trung Hoa. Tuy nhiên, xét về bản chất và nội hàm nghiên cứu không nằm ở cách gọi thuật ngữ, thuật ngữ xuất hiện chỉ để nhằm đánh dấu một giai đoạn tiến triển và có hệ thống của một ngành khoa học. Huyền thoại hay thần thoại dù sao ở mỗi cách nghiên cứu và tiếp đều có thể phục vụ cho mục đích chung của môn khoa học huyền thoại. Duy chỉ có cách gọi khác nhau do phụ thuộc vào đặc trưng ngôn ngữ và cách dịch thuật ở thời kỳ đó mà thôi.
Từ sau thế kỷ XX đến năm 1949 khi Cách mạng Trung Hoa thành công, công cuộc đổi mới nền văn nghệ ở Đại Lục có nhiều chuyển biến khai mở. Giới nghiên cứu văn học Trung Hoa bắt đầu cuộc hành trình đi tìm khái niệm với thế hệ nghiên cứu với liên mạch nước ngoài và trong cách nhìn từ những trào lưu, trường phướng phê bình văn học phương Tây. Do đó, khái niệm huyền thoại cũng như huyền thoại học được chỉ dẫn và nghiên cứu nội dung tác phẩm. Kho tác phẩm huyền thoại đồ sộ của văn học Trung Hoa đồ sộ và phức tạp. Tác phẩm cổ xưa nhất đó là “Sơn hải kinh” được cho là xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, sáng tác mang tính tập thể mô tả và lưu truyền về hình tượng nhân vật, vật linh, cổ mẫu của dân tộc Hán thời kỳ đầu.
Nghiên cứu huyền thoại ở Việt Nam, khái niệm huyền thoại được giới nghiên cứu sử dụng làm nền tên gọi chính định danh môn nghiên cứu trong phân ngành nghiên cứu văn học. Huyền thoại trong văn học Việt Nam chủ yếu từ các thể loại văn học dân gian và yếu tố sinh hoạt dân gian mang tính chất tập thể, cổ xưa. Đó là những câu chuyện diễn giải về nguồn gốc của một dân tộc, cộng đồng, những cuộc chiến và câu chuyện tình yêu, sức mạnh chiến đấu của loài người với công cuộc chinh phục tự nhiên.
1.2.           Huyền thoại sáng thế
Huyền thoại trong truyện kể dân gian chứa đựng tư tưởng sự việc và con người trong tâm thức cổ xưa. Huyền thoại sáng thế là chuỗi liên mạch truyện kể khai sáng thời kỳ đầu tiên mà con người trong thuở hồng hoang bắt đầu tư duy và suy nghĩ về quá trình và nguồn gốc hình thành của cộng đồng thị tộc. Việc tái hiện không cảnh huyền thoại tạo nên cộng đồng thời kỳ đầu mang tư duy hỗn mang, ở đó con người và tư tưởng luôn tin vào niềm tin tâm lý, niềm tin duy “huyền thoại”. Trong truyện kể thần thoại sáng thế các dân tộc trên thế giới và Việt Nam đều mang mô típ và ý nghĩa giải thích nguồn gốc của cặp đôi đầu tiên sinh tạo nên các dân cư trên lãnh thổ, không gian văn hóa. Cụ thể trong các thể loại mà chúng tôi khảo sát và tìm ra những đặc trưng sáng thế của nó, không chỉ riêng truyện kể mà trong cả thể loại sử thi cũng hàm chứa yếu tố ý thức tách biệt các mẫu gốc và hình tượng nhân sinh trong tác phẩm. Tuy là sáng tác tập thể, các tác phẩm này một mặt tái hiện quá trình sản sinh thế giới trong tư duy cá biệt của cộng đồng, một mặt các tác phẩm cũng đã có ý thức gán ghép tính phân nguồn các dân tộc cùng chung sống theo không gian đặc tính địa lý. Chung qui là sự ảnh hưởng của giai đoạn phân chia ranh giới nhân loại thời kỳ đầu và ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác truyền miệng. Dưới góc nhìn tư duy cổ sơ, huyền thoại sáng thế trong văn học dân gian nhiều màu sắc và góc độ phản ánh sự lý giải vũ trụ một cách khôn ngoan.
1.3.           Khái quát về huyền thoại (Thần thoại Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân; sử thi Đẻ đất đẻ nước)
Bộ ba huyền thoại mang dấu ấn khai sáng trong văn học dân gian Việt Nam mà chúng tôi khảo sát nội dung tác phẩm trong bài viết đều là những câu chuyện mở màn nên màu sắc nguồn dân tộc trong văn học dân gian. Tuy nhiên, thần thoại Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân và sử thi Đẻ đất đẻ nước có sự khác biệt về các yếu tố cổ mẫu và thời gian và sự việc huyền thoại được diễn ra. Bước đầu phác thảo chân dung ba tác phẩm có phần khác nhau về thể loại lẫn hình thức kể chuyện dân gian để tìm ra nội dung sáng thế của trong thể loại văn học dân gian và định hình tính chất đặc thù của huyền thoại sáng thế trong các tác phẩm văn học dân gian quen thuộc.
1.3.1.     Thần thoại Quả bầu mẹ
Thần thoại Quả bầu mẹ mô tả lại nguồn gốc và quá trình ra đời của năm mươi bốn dân tộc anh em Việt Nam thời kỳ đầu qua cách kể chuyện giải thích. Câu chuyện tái hiện lại không gian của một cặp vợ chồng đi rừng và bắt được một con vật kỳ quái, biết nói tiếng người. Con vật xin tha và sẽ đền ơn hai vợ chồng bằng cách dự báo sắp có một trận đại hồng thủy diễn ra cuốn trôi tất cả mọi thứ, thiết lập nên trật tự thế giới. Con vật dự báo và khuyên đôi vợ chồng nên chuẩn bị trước những vật dụng nhu yếu và nơi cư trú để vượt qua trận hồng thủy. Sau đó, hai vợ chồng nghe theo lời của con vật thiêng và sau khi trải qua cơn hồng thủy, mặt đất vắng tanh. Một thời gian sau, người vợ hạ sinh một quả bầu, người chồng mang quả bầu cất vào giàn bếp. Một hôm, từ trong quả bầu đã cho ra những con người mang dáng dấp và ngoại hình tiếng nói khác nhau. Đó là sự ra đời của các dân tộc anh em Việt Nam ngày nay. Qua cách kể chuyện theo trật tự và các chi tiết tuần tự có mạch logic nhất quán đã làm cho truyện Quả bầu mẹ mang dáng dấp của thần thoại sáng thế theo cách tư duy của con người thời cổ sơ. Trong đó các sự kiện và con người được sáng tạo nên tầm vóc và xu hướng để dẫn giải nguyên nhân nguồn gốc của một cộng đồng và thị tộc.
1.3.2.     Thần thoại Lạc Long Quân
Thần thoại Lạc Long Quân có nhiều thuyết kể về nguồn gốc của nhân vật Lạc Long Quân, nhưng đối chiếu với phạm vi giới hạn về vùng văn hóa và yếu tố truyện kể dân gian gần với thiên hướng giải thích ý nghĩa giáo dục phông cho nên chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu thần thoại về nguồn gốc nhân vật Lạc Long Quân trong sách giáo khoa Ngữ văn Trung học Cơ sở hiện hành. Điều này cũng nhằm dẫn đến nguồn tư liệu chính thống và một phần khơi gợi nên ý nghĩa về huyền thoại trong giáo dục trung học phổ thông.
Lạc Long Quân vốn xuất thân là giống rồng, con trai thần Long Nữ ở dưới nước, sinh trưởng nơi vùng biển. Âu Cơ thuộc giống chim Hồng sinh trưởng nơi vùng núi, con gái Thần Nông. Cả hai kết duyên với nhau và xoay quanh câu chuyện sinh nở của Âu Cơ đó là hình ảnh cái bọc trăm trứng sinh ra trăm người con khỏe mạnh. Câu chuyện chia tay giữa họ và các người con diễn ra mang tính chất lý giải cách phân bố vùng và lãnh thổ cộng đồng dân cư Việt Nam thời kỳ đầu. Từ đó, cho thấy câu chuyện thần thoại Lạc Long Quân mang màu sắc lý giải huyền thoại thủy tổ dân tộc Việt Nam. Đó là mô típ cặp vợ chồng đầu tiên tạo nên cộng đồng dân tộc.
1.3.3.     Sử thi Đẻ đất đẻ nước
Đẻ đất đẻ nước là bộ sử thi đồ sộ bằng thơ của dân tộc Mường, kể về quá trình hình thành và tạo tác trời đất, vũ trụ và các yếu tố tự nhiên theo tư duy cảm tính của con người trong việc tri nhận và quan sát thế giới tự nhiên một cách trực quan. Nhưng tất cả cách lý giải được huyền thoại hóa theo cách kể cổ xưa và trực tiếp.
Nội dung chủ yếu của Đẻ đất đẻ nước chủ yếu diễn tả thời kỳ hỗn mang, sau một cơn “mưa dầm mưa dãi” đến tận năm mươi ngày đêm mới rút nước. Trên mặt đất mọc lên một cây xanh, từ các cành có cành cao chọc trời biến thành ông Thu Tha và bà Thu Thiên. Từ đó hai ông bà lấy nhau và truyền lệnh tạo ra sự vật cũng như sự kết nối, sinh giao giữa muôn loài. Trong bộ sử thi đồ sộ này, bao gồm nhiều chương kể về sự tích ra đời của các vật tượng thời kỳ đầu. Do giới hạn về phạm vi tư liệu và phục vụ cho việc đối sánh nội huyền thoại trong thể loại văn học dân gian, nên chúng tôi chỉ trích lọc nghiên cứu hai chương của sử thi này, bao gồm Chương II và Chương III (Đẻ đất và đẻ nước, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, H. 2000)
Trong việc nghiên cứu thể loại thần thoại và sử thi trong lý thuyết đối với huyền thoại sáng thế, cả ba tác phẩm nêu trên có cùng đặc điểm về nội dung lẫn hình thức truyện kể. Nội dung cốt yếu đó là tiến trình hình thành nên thị tộc và cộng đồng thời kỳ đầu tiên, duy chỉ có truyện Quả bầu mang tính chất nội dung truyện kể cổ tích. Sinh khí huyền thoại được hiển thị rõ ràng qua các yếu tố về không gian sự việc, các yếu tố kể thời gian tâm tưởng và bất phân định mốc thời gian,... Ngoài ra, trong bài viết này chúng tôi chỉ ra những mô típ tương đồng với nhau giữa bộ ba tác phẩm về nguồn gốc các mẫu nhân vật, sự kiện tương đồng và ý nghĩa quy châm trong cách diễn giải của câu chuyện huyền thoại.
1.4.           Huyền thoại sáng thế - thể loại khởi đầu của văn học dân gian
Huyền thoại sáng thế trong thể loại văn học dân gian là một chỉnh thể thể nghệ thuật mang tính cộng đồng và niềm tin tâm lý. Huyền thoại sáng thế có thể là bước đi ban đầu của tư duy tiền sử, là cách lý giải bằng ngôn từ thô sơ tinh lọc qua quá trình quan sát tự nhiên và sáng tạo.
Tìm hiểu thể loại tự sự dân gian Thần thoại trong khuynh hướng sáng thế đầu tiên đó là tìm ra qui luật chung của thể loại. Theo tác giả Nguyễn Hùng Vĩ trong Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế cb, H.1999) đã viết về định nghĩa thể thần thoại: Thần thoại là tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng thần linh, các nhân vật sáng tạo văn hóa thần linh, phản ánh quan niệm của con người cổ về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội con người [2; 25]. Trong cách kiến giải tổng quan này, tác giả đã khái quát nên nguyên hình trạng của thần thoại mang tính khai sáng của huyền thoại sáng thế. Đó là những mô hình đầu tiên mang dáng vóc của thần hoặc bán thần, con người anh hùng sáng tạo nên thế giới và cộng đồng nào đó. Đồng thời, trong định nghĩa về thể loại tự sự dân gian này, tác giả đã bảo chứng cho thể loại là khởi đầu, đặt tiền đề cho văn học dân gian (mảng tự sự dân gian) và ảnh hưởng của nó: Bởi vậy, trước khi tồn tại một cách lâu dài trong trạng thái nguyên hợp điển hình; nói cách khác, trước khi là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, thần thoại là một tổng thể nguyên hợp, ở đó quan hệ thực tiễn và quan hệ tinh thần, các hình thái ý thức, các loại hình nghệ thuật, các loại hình văn học dân gian đang hòa nhập nhuần nhuyễn dưới dạng những yếu tố [2; 25].
 Trong việc định hình thể loại, thời kỳ đầu của lịch sử con người chủ yếu dựa vào các cảm quan của tự nhiên với các hình thái ý thức sơ khai cộng với tư duy nguyên thủy hoặc tâm thức nguyên thủy thiêng về trải nghiệm cảm xúc và tôn sùng tự nhiên. Do đó trong bộ ba tác phẩm mà chúng tôi khảo sát tiến hành đi đến khái niệm huyền thoại sáng thế là một thể loại tiền đề cho văn học dân gian sau này đó là việc thể loại thần thoại và sử thi đã có sự chuyển biến từ huyền thoại sáng thế sang các thể loại tương đồng. Ví dụ, các thể loại tự sự dân gian thì chuyển tiến sang các đồng dạng như thần thoại truyền thuyết, thần thoại truyền thuyết, thần thoại lịch sử, thần thoại anh hùng,... Từ đó, huyền thoại sáng thế như một mẫu số chung chi phối và ảnh hưởng các thể loại và dung của các tác phẩm trong hệ thống thể loại văn học dân gian.
Đối sánh với các câu chuyện thần thoại khác trên các vùng văn hóa trên thế giới, thần thoại sáng thế ở Trung Quốc cũng là một điển hình cho thấy từ huyền thoại sáng thế, hoặc một nhân vật trong câu chuyện mô tả lại quá trình tạo tác nên thế giới loài người đã có sự ảnh hưởng và tiếp biến đến các tác phẩm trong văn học dân gian. Hình tượng Phục Hy và Nữ Oa tương đồng với cặp nhân vật Lạc Long Quân và Âu Cơ, hoặc vợ chồng trong chuyện Quả Bầu,... Duy chỉ có khác nhau ở điểm nguồn gốc của nhân vật khai sinh nên tạo vật. Nữ oa và Phục Hy trong thần thoại Trung Hoa không được đề cập nhiều đến yếu tố nguồn gốc, cũng có thể do niềm tin duy tâm đó là mẫu gốc và là hình tượng không thể thay thế hoặc phá vỡ, chỉ có nguồn gốc của vũ trụ hay “cõi hỗn mang” ban đầu (dẫn theo Trần Liên Sơn, Trung Quốc 2012): Thần thoại kể về việc dùng đất sét nặn người rất phổ biến ở các dân tộc trên thế giới. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Prometheus cũng dùng đất sét bên bờ sông để nặn người, ông dựa theo hình ảnh phản chiếu trên mặt nước để nặn ra loài người, cho nên thần linh và loài người có vẻ ngoài giống nhau. Người Trung Quốc thiêng hướng cho rằng nữ thần tạo ra loài người, bởi nó phù hợp hơn với kinh nghiệm thực tế, người nữ sinh con [3; 15]. Công năng của các vị thần tạo nên thế giới muôn loài chỉ là “sáng tạo loài người” “vá trời” và dạy dân chúng trồng trọt, khai sinh nên các phương thức sinh hoạt đầu tiên. Ngược lại, thần thoại truyện kể sáng thế các dân tộc Việt Nam, sau khi vượt qua ranh giới “thần” thì các thế hệ được tạo ra từ các cặp vợ chồng đầu tiên chính là con người hoặc dân tộc trên lãnh thổ.
Như vậy, căn cứ theo cách tiếp cận về thể loại thần thoại trong văn học dân gian mang yếu tố huyền thoại sáng thế, đây là công cuộc khởi đầu cho các thể loại văn học dân gian khác. Bởi tính chất di truyền thể loại có điểm tương đồng về nội dung, sáng tạo và hình thành nên thế giới muôn loài và sau đó là sự ra đời của các truyện kể dân gian như: truyện cổ tích, truyền thuyết và các giai thoại,...
2. Dấu ấn của huyền thoại sáng thế trong truyện Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân Âu Cơ và sử thi Đẻ đất, đẻ nước qua  nhân vật mang dáng dấp cổ mẫu và motif
2.1. Nhân vật mang dáng dấp cổ mẫu về cặp vợ chồng đầu tiên
Cổ mẫu theo từ điển văn học được định nghĩa [Anh; Archetype] – mô hình, hình ảnh đầu tiên], trong thuật ngữ hiện hành “cổ mẫu” theo từ nguyên học không xuất phát từ cách gọi Hán Việt mà đó là cách dịch của các nhà Việt ngữ học hiện đại trong việc tiếp nhận hệ tư tưởng và lý thuyết văn học từ bên ngoài. Ở Trung Quốc, cổ mẫu được cố định bằng thuật ngữ “Đồ đằng” (圖騰 /tú téng/) được chuyển dịch theo Hán ngữ hiện đại có nghĩa là “vật tổ” hay totem giáo. Vật tổ hay cổ mẫu hoặc đồ đằng theo cách gọi của nghiên cứu tại Trung Quốc đều có nghĩa chức năng như nhau, nhưng thường mỗi một vật tổ phải đi kèm với sự lý giải một chỉnh thể văn hóa như: rồng, chim phụng hoàng, núi Côn Lôn, hồ lô,... 
Trong bộ ba tác phẩm mang dấu ấn sáng thế nêu trên đều có sự xuất hiện của cặp vợ chồng đầu tiên tạo tác nên thế giới muôn loài. Xét về yếu tố nhân vật chức năng, trong các huyền thoại của các nền văn học khác cặp vợ chồng đầu tiên mang dáng dấp cổ mẫu, là vật mẫu hình tượng biểu trưng và cũng là thần linh được dân gian tôn thờ. Trong bài viết Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân khái quát tiến trình hình thành cổ mẫu trong văn học dân gian đến sự thoát thai trong văn học viết: Tuy nhiên, trong khi đọc tác phẩm, người viết nhận thấy dù cổ mẫu Trời đã xuất hiện rất sớm trong huyền thoại (Thần Trụ trời, Bánh chưng bánh dầy..) và tiếp tục lưu dấu trong văn chương (Tản Đà, Hầu trời, Tiễn Ông Công lên Trời…), nhưng trong tương tranh với Nước để được sánh đôi  cùng Đất, cổ mẫu Trời đã có phần lép vế, dấu ấn của nó nhoè đi, và cặp cổ mẫu văn chương Đất Nước trội lên, khi xoắn xuýt, khi tạm rời, làm nên ám ảnh: Con Rồng cháu Tiên, Chử Đồng Tử, Trương Chi, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Thiếu phụ Nam Xương, Thơ Hồ Xuân Hương, Thơ Tản Đà, Thơ Bùi Giáng, Truyện Nguyễn Huy Thiệp… [5]. Sự dẫn giải khái niệm này tuy được trích lọc ở đây có thể thấy sự tiến triển của cổ mẫu thành biểu tượng văn chương phổ biến ở giai đoạn cổ điển và hiện đại. Lập luận về lý thuyết cổ mẫu trong cách lý giải của nhà phân tâm học Jung, tác giả Chu Xuân Diên chỉ ra được khái niệm cổ mẫu có sự liên đới kết nối với huyền thoại: Cổ mẫu không phải là khái niệm, thuật ngữ do Jung sáng tạo ra. Nó đã được sử dụng từ rất lâu và ý nghĩa là những hình thức nguyên thủy mà từ đó những bản sao được thực hiện. ông viết “cổ mẫu là đúng và hữu ích bởi vì nó cho chúng ta biết rằng những nội dung vô thức tập thể có liên quan khi chúng ta xem xét những hình ảnh cổ xưa, hoặc đúng hơn hình thức nguyên thủy, tức là những hình ảnh chung tồn tại từ những thời đại  xa xưa nhất” [1; 30]. Dấu ấn cổ mẫu nào trong thể loại tự sự thần thoại dân gian Việt Nam và cả sử thi đang khảo sát trong bài viết này có đặc trưng lớn mạnh và có ảnh hưởng nhiều nhất? Đó còn là đường dẫn dài về các góc độ nghiên cứu theo các tác phẩm chịu ảnh hưởng bởi tư duy huyền thoại và vô thức. Nhưng đi tìm cổ mẫu về cặp vợ chồng đầu tiên trong bộ ba tác phẩm, có thể dễ dàng nhận thấy rằng đều xuất hiện cặp vợ chồng đầu tiên và tiến trình trung gian tạo nên thế giới mới. Chúng tôi tạm thời thiết lập qua bảng biểu sau một cách tóm gọn:
Lạc Long Quân
Truyện Quả bầu
Đẻ dất đẻ nước
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Cặp vợ chồng người đi rừng
Ông Thu Tha bà Thu Thiên
Đẻ trăm trứng sinh trăm con
Con vật thiêng dự báo biến cố
Sinh ra từ cây thiên chọc trời
Cổ mẫu được tôn thờ trong dân gian
Không rõ nguồn gốc, do sự sáng tạo khách quan từ dân gian
Cổ mẫu được tôn thờ và lưu giữ qua các bản của thầy Mo dân tộc Mường.
Bảng 2.1a – Nhân vật cổ mẫu
Nhấn mạnh hình ảnh mang đậm nét nguyên thủy để có thấy được các điển hình này được xê dịch gần với lý thuyết cổ mẫu và có sự biến hóa theo không gian sắc màu huyền thoại. Lạc Long Quân được xem như thần thoại lịch sử, nhưng xét trong ý nghĩa qui châm là huyền thoại sáng thế, là câu chuyện như tiền đề lưu truyền về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Mẫu gốc về hình ảnh vợ chồng Lạc Long Quân và Âu Cơ được giữ nguyên yếu tố “thần” cho nên việc cổ mẫu này tạo tác nên thế giới và con người được tin tưởng là chân nguyên và bất biến. Tương tự, đó là trường hợp của Đẻ đất đẻ nước, hình tượng mẫu gốc hai vợ chồng:
Cành chọc trời là con đầu
Tên gọi ông Thu Tha
Cành bung xung là con thứ hai
Tên gọi bà Thu Thiên
     Hai ông bà nên đôi lứa [4; 10,11]
Chức năng thần linh ở các cặp vợ chồng đầu tiên hết sức quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng. Chi tiết nguồn gốc thần linh ở các cặp vợ chồng đầu tiên trong bộ ba tác phẩm mà chúng tôi đề cập đến đó đều là những hình tượng vĩnh cửu trong văn hóa cộng đồng. Duy chỉ có truyện Quả bầu do tính chất sáng tạo từ câu chuyện dân gian nên yếu tố thần bị mất. Mặt khác, không gian tồn tại của cặp vợ chồng người đi rừng cũng là không gian sinh hoạt và con vật thiêng (con dúi, có dị khảo chép là con tê tê) nhằm tạo ra sự kiện chấm dứt giai đoạn tiền sử và tạo nên cộng đồng dân tộc mới. Cho nên, trong thần thoại Lạc Long Quân, cả hai đều có nguồn gốc là Tiên – Thần, cho nên nòi giống và dân tộc được sinh ra cũng mang ảnh hưởng của huyền thoại sáng thế đến tâm thức về sau. Khái niệm “con rồng cháu tiên” cũng xuất phát từ câu chuyện thần huyền sáng thế xưa kia mà trong quá trình sáng tạo nên thần thoại, dân gian đã gán ghép cho hậu thế cách hiểu tâm lý và niềm tin bất di bất dịch. Song song yếu tố thần, cặp vợ chồng đầu tiên trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường (chương II và III) cũng mang yếu tố thần linh rõ rệt, bằng việc khẳng định chức năng thần của chính mình trong tư duy sáng tạo của dân gian. Nhân vật được gán ghép chức năng thần sáng tạo nên muôn loài:
Hai ông bà nên đôi lứa
Truyền cho
Con gà có cựa
Dây dưa biết leo
Tre pheo có gai có ngọn
Con người biết nói
Khi đó dưới đất không còn rời rạc
Dưới nước không còn bùng nhùng
Trời không mông lung
Trông lên ngó xuống đã có nơi, có chốn [4; 11]
Trong khía cạnh chức năng thần của cổ mẫu, chúng tôi không chủ trương khai thác yếu tố kỳ ảo trong nội dung tác phẩm. Yếu tố kỳ ảo xuất hiện song song với quá trình biến hóa và thay đổi của cốt truyện khi sự chuyển biến để tạo tác nên thế giới, đó có thể là điều kiện cần để tác giả dân gian thực hiện khả năng “sáng tạo” của mình trong sáng tác tập thể. Mặt khác trong tư duy huyền thoại, yếu tố kỳ ảo xuất hiện cũng là minh chứng cho đời sống cảm xúc thiêng về cảm tính của tư duy thượng cổ.
2.2. Motif
Motif hay còn được gọi là “mẫu đề” theo khái niệm được chuyển dịch từ tiếng Pháp và tiếng Hán hiện đại (mẫu đề, thuật ngữ văn học Trung Quốc). Theo cách hiểu phổ thông mà chúng tôi tiếp cận, motif có nghĩa là những chi tiết và sự việt được hình tượng hóa và trở thành một mẫu số chung được sử dụng trong các thể loại văn học, cụ thể ở đây là bộ ba tác phẩm mang dấu ấn huyền thoại sáng thế. Motif sáng thế được phân hướng thành các mẫu đề gốc, là bộ công thức chung trong tư duy huyền thoại để câu chuyện được kể mang màu sắc huyền ảo và kỳ bí, không thể lý giải. Các motif quen thuộc trong bộ ba tác phẩm đó là: “quả bầu mẹ”, bọc trăm trứng và sinh trưởng bất thường của các vị thần. Chúng tôi tạm thiết lập một mô hình quan sát sau về các mẫu mô típ phổ biến trong tác phẩm đang khảo sát:
Loại hình motif
motif bọc trăm trứng/ quả bầu mẹ
motif tái sinh
motif giấc mơ
motif con vật thiêng, dự báo
Lạc Long Quân
x



Quả bầu mẹ
x


x
Đẻ đất đẻ nước




Bảng 2.2b – motif loại hình (Ký hiệu “x” có sự xuất hiện của loại hình motif trong tác phẩm)

2.2.2. Motif dự báo
Sự tiên liệu hay dự báo trong câu chuyện huyền thoại sáng thế đó là cảnh quan để tạo tác nên một thế giới cảnh quan mới. Trong bộ ba tác phẩm khảo sát, chúng tôi tiếp cận và tìm ra được motif dự báo và trận hồng thủy trong Truyện quả bầu và Sử thi đẻ đất đẻ nước.
Thông qua hình tượng con vật thiêng trong Truyện quả bầu, con vật có thể nghe và hiểu tiếng người và cầu xin tha mạng sống với điều kiện dự báo tiên liệu về trận hồng thủy sắp diễn ra. Hai vợ chồng người đi rừng nghe theo lời con vật và chuẩn bị, sau khi nước rút họ trở lại cuộc sống và cuối cùng đi đến kết thúc truyện bằng motif quả bầu sinh ra các dân tộc với đặc điểm khác nhau. Motif dự báo trong đẻ đất đẻ nước mờ nhạt và thiếu tính suy nguyên về cổ mẫu “nước” hơn truyện quả bầu. Trong sử thi, chương II Đẻ nước có mô tả về quan cảnh dự báo sắp diễn ra biến cố làm thay đổi và tái tạo, bổ khuyết thêm các sự vật tự nhiên lẫn hình thái ý thức vật chất:
Con gà gáy trên rừng xao xác,
Con ác gáy trên núi toang toang.
Mặt trời lên sáng rừng sáng bãi
Sáng cả chín đất mười phương
Làm mùa không ra rơm,
Lưới chài không ra cá
Nóng quá
Đất xác xơ […]
Ông Pồng Pêu ao ước,
Ước ơi là ước
Ước sao được một trận mưa […]
Mưa liền chin ngày,
Mưa gãy cành bẻ lá [4; 15]
Motif dự báo trong cách kiến giải của sử thi chủ yếu dựa vào yếu tố thần, đó là Pồng Pêu. Chức năng dự báo của motif theo hình thức không về đặc trưng chủ yếu kiến sự hình thành cổ mẫu – nước. Nội dung của chương III (sđd) chủ yếu nói về sự sáng tạo nên yếu tố vật chất nước trong sự bổ sung cho quá trình hình thành đất (chương I) trật tự nguyên lý của sử thi. Motif dự báo theo sử thi Đẻ đất đẻ nước cũng có thể được xem là tính năng làm nên một sự chuyển biến trong cách nhìn cổ xưa với thế giới tự nhiên và việc lý giải nó, biến cách lý giải thành tác phẩm lưu truyền trong dân gian nhưng màu sắc sử thi, hùng tráng.
3. Dấu ấn huyền thoại sáng thế trong truyện Quả bầu mẹ, Lạc Long Quân Âu Cơ và sử thi Đẻ đất đẻ nước qua cốt truyện và tư tưởng chủ đề
3.1.  Sự nhất quán trong cốt truyện
Cốt truyện là một trong những thành tố quan trọng trong tác phẩm tự sự dân gian. Trong thần thoại và sử thi, hầu như yếu tố cốt truyện đóng vai trò là bàn cân giữa các yếu tố tự sự khác như: đối thoại, nhân vật và không gian thời gian trong tác phẩm huyền thoại.
Sơ bộ về cấu tạo cốt truyện của ba tác phẩm, về sự diễn tiến cốt truyện đều bắt đầu từ một nhân vật người kể chuyện giấu tên. Giới thiệu về từng chi tiết các nhân vật chính, sự kiện chính gắn với nhân vật, biến cố chính và cuối cùng đi đến kết thúc và kèm theo lời qui châm nhằm định hướng cách hiểu cho đối tượng tiếp nhận. Sự diễn tiến cốt truyện này phải chăng đặt ra dấu chấm hỏi cho việc xây dựng của tác giả dân gian mang sự sắp đặt có chủ đích hay là sự sáng tạo theo tâm thức duy tâm, huyền thoại? Đó cũng là vấn đề mà chỉ có thể ẩn sâu trong các lý thuyết về đặc trưng truyện kể và văn học dân gian, mà trong dấu ấn huyền thoại đã để lại cho những câu chuyện sáng thế cốt truyện được qui nguyên và cố hữu.
Cốt truyện trong Lạc Long Quân và Đẻ đất đẻ nước có sự nhất quán trong cách xây dựng nên việc hình thành cặp vợ chồng có yếu tố cổ mẫu. Đó là yếu tố thần linh trong sự thoát thai từ tư duy duy lý khoa học từ con người. Sự thần thánh hóa cổ mẫu giúp cho các câu chuyện huyền thoại mang màu sắc thần bí và đi đến sự nhất quán trong cách kể và phương thức lưu truyền và sáng tạo. Tác giả Nguyễn Hùng Vĩ chỉ ra phương thức kết hợp giữa các vị thần linh sáng tạo nên muôn loài: Câu chuyện về cuộc hôn phối giữa Lạc Long Quân (giống rồng) và Âu Cơ (giống tiên – chim) và mô típ bọc trăm trứng nở ra trăm con trai mà chúng ta vẫn quen thuộc là kết quả của một quá trình phát triển xã hội lâu dài, các lớp thần thoại cổ đã được truyền thuyết hóa, đáp ứng nhu cầu nhận thức về dân tộc phong kiến. Trên văn bản của nó, tinh thần thần thoại chỉ vang lên khá mờ ảo. Song cũng có thể từ đó, ngược nguồn so sánh với thần thoại các dân tộc anh em để thấy được những giá trị thần thoại đích thực, những tín ngưỡng tô tem, mô típ quả bầu mẹ hoặc trứng thiêng sinh ra loài người hiện nay. [2; 41].
Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm có sự nhất quán về kiểu truyện và yếu tố phụ thuộc nhân vật khác nhau vào điều kiện văn hóa và tư duy về sự hình dung con người và vũ trụ. Ở truyện Quả bầu, cách hình thành nên cộng đồng thông qua phương thức motif quả bầu, có thể được so sánh tương đồng với mô típ bọc trăm trứng của Âu Cơ trong thần thoại Lạc Long Quân. Quả bầu và bọc trăm trứng đều mang tư tưởng chủ đề về chỉnh thể “đồng bào” trong nguồn gốc dân tộc. Trong thể loại sử thi, do đặc trưng thể loại viết bằng thơ và nội dung về cốt truyện do chính cộng đồng dân tộc Mường sáng tạo và tư duy theo hình dung về thế giới và các vị thần của dân tộc. Nhân vật Thu Thiên và Thu Tha mang dáng dấp cổ mẫu, cùng gốc thần linh cho nên chỉ có thể đối sánh về nguồn gốc xuất thân. Ngược lại trong truyện quả bầu và Lạc Long Quân chỉ có sự hình thành cộng đồng con người, dân tộc anh em không có chức năng sáng tạo nên sự vật tự nhiên (mặc dù Lạc Long và Âu Cơ về bản chất vẫn có chức năng sáng tạo).
Như vậy, sự nhất trong quán trong cách kể huyền thoại của hai câu chuyện thần thoại đều có sự qui hợp về yếu tố nguồn gốc sản sinh cộng đồng theo phương thức tư duy tâm lý. Không quá chú trọng đến hình thức tư duy về cách kể duy lý khoa học của sự hình dung về thế giới con người và phương thức sinh sản tự nhiên. Với yếu thần, sử thi Đẻ đất đẻ nước cũng chứng minh cho điều kiện tạo tác thế giới muôn loài, đóng vai trò sáng thế. Quả bầu mẹ với motif dự báo, bào thai chung là hình ảnh quả bầu chứa đựng các dân tộc anh em đã góp phần với việc thống nhất cốt truyện chung cho câu chuyện huyền thoại sáng thế điển hình.
3.2.  Sự việc chính lí giải về sự hình thành thế giới tự nhiên, nguồn gốc của tộc người
Sự việc chính trong bộ ba tác phẩm để truy nguyên, lý giải về sự hình thành thế giới tự nhiên, nguồn gốc của tộc người theo các hình dung cổ đại, nguyên thủy. Cách hiểu theo tư duy nguyên thủy đã có sự ưu ái cho niềm tin tâm lý thiêng về cảm xúc và chắc chắn hơn tư duy khoa học hiện nay.
Có thể nói, không có một hoạt động văn hóa nào để chinh phục tự nhiên mà không được các dân tộc nhận thức bằng thần thoại [2;44], thật sự trong cách quán chiếu với sự vật tự nhiên sẵn có trong tầm mắt cổ xưa, các cộng đồng dân tộc với tư duy huyền thoại vào niềm tin tâm lý đã giúp cho các sự kiện chính trong câu chuyện thần thoại và sử thi được quyền lý giải về nguồn gốc tự nhiên và con người. Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, trăm trứng nở thành trăm người con khỏe mạnh, năm mươi theo cha và năm mươi theo mẹ, sự phân chia ấy và cách thức tạo tác nên con người có phần dựa vào sự kết hợp tự nhiên, hoạt động tính giao thời kỳ đầu. Truyện quả bầu, với chi tiết quả bầu là sản phẩm sáng tạo dựa trên yếu tố tự nhiên. Hình ảnh quả bầu với ý nghĩa tròn đầy, chứa đầy các sinh thể hạt giống sinh sôi, phải chăng sự tưởng tượng và hình thành sáng tạo từ quả bầu làm thành các dân tộc đó cũng là chủ ý của tác giả dân gian để lý giải sự hình thành nguồn gốc của tộc người. Truyện quả bầu có cách lý giải vể nguồn gốc hình thành tộc người theo trình tự hơn. Những con người đi ra từ quả bầu lần lượt là các dân tộc ở Việt Nam, ngay cả sự lý giải hình thái “màu da” cũng là ý thức gán ghép tự nhiên theo cách hiểu của chủ thể sáng tạo. Sử thi Đẻ đất đẻ nước gợi nên không gian sử thi, nơi đó là không gian tự nhiên nhưng tráng lệ. Tạo vật được hình thành dưới sự kêu bảo của cặp vợ chồng cổ mẫu có chức năng ban hành thế giới tự nhiên được hình thành theo đặc tính sẵn có.
Nhìn chung, cách lý giải về tự nhiên và nguồn gốc con người và dân tộc đó là cách hiểu tư duy cổ sơ và một phần dựa vào các điều kiện tự nhiên. Yếu tố quan trọng nhất vẫn là mẫu gốc cặp vợ chồng đầu tiên: Đa số các tộc người khác, với một số tư duy có thể duy lý hơn, tưởng tượng sự ra đời của vũ trụ như kết quả sáng tạo hoặc sinh đẻ của cặp vợ chồng thần linh. Đó chính là Ông Thu Tha, bà Thu Thiên  của người Mường, ông Chày bà Chày của người Hmông [2; 38]. Điều đáng lưu ý trong huyền thoại sáng thế ở Việt Nam đó là không có sự xuất hiện của ý thức phân chia giai tầng xã hội, mà chỉ có sự mô phỏng tái hiện lại của cộng đồng và thế giới. Thần thoại và truyền thuyết Trung Hoa nói về cách thức sáng tạo nên thế giới loài người qua hình tượng nhân vật Nữ Oa nặn bùn thành người: Nữ Oa lấy đất vàng từ mặt đất, trộn với nước, nhồi thành đất sét. Bà dùng đôi tay khéo léo nặn đất sét thành hình người, rồi ban cho chúng sinh mệnh. Vì số người nặn ra quá nhiều nên Nữ Oa rất mệt mỏi, thế là bà khuấy đất sét thành bùn nhão, rồi ngâm dây thừng vào trong đó. Sau đó bà rút dây thừng lên, giơ lên cao vẩy xuống. Bùn rơi xuống đất lập tức biến thành người. Ai được nặn từ đất sét trở thành người giàu sang, phú quý, ai được làm từ bùn nhão thì trở thành người nghèo khó, hèn mọn [3; 14, 15]. Giải thích ở đặc điểm hy hữu này, có thể hiểu theo chiều dài lịch sử và không gian văn chính trị chi phối thần thoại sáng tạo trong văn chương ở hai nền văn học. Đất nước Trung Hoa với chiều dài lịch sử và cục diện chính trị phức tạp, quá trình sáng tác và lưu truyền tác phẩm dân gian do các học giả theo tư tưởng Nho học biên tập và có thể chính học giả thời kỳ biên tập thần thoại chịu chi phối chính từ tư tưởng và giáo dục lẫn chính trị. Trong khi đó điều kiện lịch sử ở Việt Nam dễ chịu hơn, sinh khí hỗn mang thời kỳ dựng nước và lập quốc mang dấu ấn thị tộc cộng đồng. Thể chế chính trị và hệ tư tưởng triết học chưa hình thành và chịu sự ảnh hưởng cũng như chi phối từ các yếu tố văn hóa đồng văn,… Cho nên huyền thoại sáng thế Việt Nam dù ít nhiều vẫn mang yếu tố nguồn gốc của thần linh và sự kết hợp hài hòa với tự nhiên rõ nét.
4. Kết luận
Sáng tạo thế giới và công năng của huyền thoại sáng thế trong văn học dân gian đó là một trong những phương thức phản ánh tư duy thượng cổ về thế giới quan, hình thái ý thức xã hội hỗn mang. Tư duy nguyên thủy với niềm tin tâm lý đã cộng hưởng với nhau trong việc tạo tác nên câu chuyện huyền thoại đặc sắc của dân tộc. Thần thoại Lạc Long Quân, truyện Quả bầu và sử thi Đẻ đất đẻ nước tuy khác nhau về thể loại nhưng hình dung chung đó là bước đi đầu trong câu chuyện nguồn gốc dân tộc được hình thành như thế nào qua cách hình dung cổ xưa. Đó là hệ thống về tự sự, motif, sự việc, nhân vật và tư tưởng chủ đề đã góp phần hình thành nên những câu chuyện lưu truyền trong dân gian lẫn hình thức văn bản hiện nay. Do đó, dấu ấn huyền thoại sáng thế trong văn học dân gian Việt Nam tuy không đậm nét khai sinh thế giới và giữ vai trò đồng vọng nhiều như trong thần thoại Hy lạp, Ấn Độ, Trung Quốc,.. Nhưng huyền thoại sáng thế Việt Nam là dấu mốc cho thời kỳ mà dân tộc được định hình, sống chung và giữ vai trò là hình thức đầu tiên trong thể loại văn học dân gian.
Tài liệu tham khảo
1                    Chu Xuân Diên, Huyền thoại và văn học – chuyên đề cao học, tài liệu đánh máy, Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM
2                    Lê Chí Quế chủ biên, Văn học dân gian Việt Nam in lần thứ IV, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H.1999
3                    Trần Liên Sơn, Truyền thuyết thần thoại Trung Quốc, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM, 2012.
4                    Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Tổng tập Văn học Việt Nam trọn bộ 42 tập – tập 41, NXB Khoa học Xã hội, H.2000
5                    Nguyễn Thị Thanh Xuân, bài viết Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam, nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-va-phe-binh-van-hoc/122-i-tim-c-mu-trong-vn-hc-vit-nam.html, truy cập ngày 18/5/2020; 23h17’