Tam tạng kinh điển của Phật giáo, Tứ thư – Ngũ kinh của Nho gia, Đạo đức kinh của Lão Tử là những căn bản nền tảng của hệ thống triết học và tư tưởng văn hóa Phương Đông. Nhất là trong hệ thống văn hóa các nước chịu ảnh hưởng từ văn hóa đồng văn Trung Hoa: Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tất cả những bộ kinh điển này đều toàn sử dụng chữ Hán cổ, hay còn gọi là chữ Hán Chính thể, hoặc phồn thể, trong phong cách văn ngôn cổ ngữ với nhiều thể loại. Mà ngày nay, ở mẫu quốc của loại hình văn tự ngôn ngữ này người ta đã chuyển sang dạng Bạch thoại văn – tức lời nói trắng ra, không ngoa dụ, ẩn dụ mà toạt cả móng heo.
Bản thân tôi ảnh hưởng nặng
bởi tư tưởng văn hóa Hán học và tiếp thu chữ Hán từ lâu. Tuy nhiên nhìn đi nhìn
lại, xung quanh môi trường hiện tại của mình cũng chỉ có một mình tôi theo con
đường này, tuy chông gai và đầy hư ảo, nhưng bản thân và tâm thức tôi cảm thấy
thật vinh hạnh vì có thể gián tiếp “giao tiếp” với cổ nhân qua nhân việc đọc được
tư liệu Hán Nôm.
Nhiều người đặt ra vấn đề
thật đơn giản: làm sao có thể học nổi chữ Hán hay loại chữ tượng hình này! Một
câu hỏi thật tình mà các bạn này đã từng làm qua rồi nhưng tạm thời quên đi mất
cách thức học chữ rồi. Học chữ Hán giống như quen một cô người yêu: bề ngoài tuy
thật xinh xắn, đầy đủ các thức – giác, nhưng cũng đầy khó khăn, đầy ý tứ. có
lúc thì ở ngữ cảnh này, cô ta có nghĩa vậy, lúc khác có ý tứ khác. Thật phức tạp
và đôi co hoạnh họe. Thời gian đầu, khi học chữ Hán bạn sẽ cảm thức rất thích
và cực kỳ yêu thích. Bởi ban đầu khi tiếp xúc với hệ thống “lục thư六書” của chữ Hán chỉ thấy
được phương pháp “tượng hình象形” và “hội ý會意”. Đó là phẩn “văn tự文字” mà các lý thuyết tiếp
cận văn tự thường nhắc đến cho học giả. Nhưng
về sau, chữ phức bắt đầu xuất hiện, mọi phiền toái và rắc rối đã xuất hiện. Chữ
này là chú âm của chữ kia, bộ này là ghi âm chính cho bộ kia và bộ này là hình
bàng của một bộ phận chỉ ý nghĩa.... Thế là tất cả những mộng đẹp hợp hoan về vẻ
đẹp của người yêu ấy tan vỡ. Phong ba đã khởi, chán nản bắt đầu. Nếu giai đoạn
này không vượt qua được thì rất dễ gãy gánh, bỏ cuộc. Bởi không thể nào học chữ
Hán cổ trong một ngày, trong một đoạn thời gian ngắn. Mà là thời gian dài,
tương đối dài và cả tấm lòng chân thành để yêu thương và chấp nhận chữ Hán.
Ngày nay, việc người ta
sử dụng từ Hán Việt và những thành phẩn ngôn ngữ có liên quan đến hệ thống từ
Hán Việt một cách chưa thật sự đúng và xác nghĩa. Cũng có việc người ta tránh
né, đi đường vòng, giải thích hay diễn đạt một cách long đong để khỏi phải việc
xài từ Hán Việt. Thuần Việt hết! Đồng ý việc bảo vệ và giữ gìn tiếng Việt và những
nguồn gốc về từ nguyên trong nhữn trường hợp thật sự nên dùng. Còn sử dụng quá
nhiều từ Hán Việt thì lại bị qui chụp là ảnh hưởng bởi văn Tàu, bởi tiếng Tàu
và lệ thuộc,... Những tự ti lại khởi phát, mà họ chả biết chăng đó là tư duy
ban đầu, là phương tiện mà cha ông ta thời kỳ đầu chưa có chữ viết đã sử dụng,
và nhờ nó mới lưu giữ được những tư liệu, thư tịch lịch sử, văn hiến đến ngày
hôm nay. Thế là phút chốc, lại quên mất đi quá khứ và công lao chất xám của cha
ông. Điều này, tôi nghĩ khi học tiếng Việt cũng cần nên suy nghĩ lại tâm thức
chấp nhận ngôn ngữ và trạng huống của ngôn ngữ.
Không còn cách nào khác
ngoài việc phải dạy Hán Nôm cho người học: là ai? Là học sinh Trung học, là
Sinh viên đại học chuyên ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa. Nhưng tôi thấy việc
dư luận bàn phím lại dậy khởi tự tôn bàn phím thái quá khi có những đề xuất
này. Ví dụ: các bạn sử dụng từ “nhược điểm弱點” lại thay bằng “yếu điểm要點”, trong khi hai từ này
hoàn toàn nghĩa khác nhau. Từ “biên giới邊界” và “giới thiệu介紹”, đều có chung “giới”
nhưng hỏi ra chả hiểu “giới” bên nào là nghĩa gì, có khác nhau không? “dịch bệnh疫病” và “chiến dịch戰役” vậy yếu tố “dịch” là
gì vậy? Thế việc tra từ nguyên phải bắt đầu từ đâu, phải từ chữ Hán không? Mà
chữ Hán cổ mới đích là gãi đúng chỗ ngứa.
Nghĩ lại, một xã hội kim
tiền, những câu văn tiếng Việt chỉ còn là câu văn định sẵn, của máy móc, của
hành chánh của công vụ. Là mệnh lệnh, là điều bất cải! Chả còn mấy ai hứng thú
và giữ gìn lại vốn cổ ngữ này, việc làm tưởng chừng đơn giản, nhưng đầy chông
gai. Nhưng chính đó là việc làm để con cháu mai sau còn cái để tự hào, để hiểu
rõ những khảo cổ cứ liệu mà cha ông đề lại, phải chăng đó cũng là một cách yêu
nước: Nhân văn, tốt đẹp và không ồn ào!
Canh tý, thu, Cần Thơ,
Trịnh Ngõa nhị thập tứ tuế.
2020, 08, 15

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét