著名书画家徐立业先生国画:春月气象万千
1. Đặt vấn đề
Biểu tượng nghệ thuật trong các loại hình nghệ
thuật là một đặc trưng mang tính hình thức và được đặt trong hệ thống của loại
hình đó. Trong văn nghệ, biểu tượng nghệ thuật thuộc một thể loại được mã hóa bằng
những ý nghĩa gắn liền với biểu và mang tính biểu trưng cho từng thuộc tính
trong tiến trình phát triển của thể loại. Văn học và hội họa là loại hình nghệ
thuật có tính chất tương quan rất lớn, sử dụng các chất liệu nghệ thuật tương đồng
về thể tài và có tính liên kết. Với vai trò là nghệ thuật ngôn từ, biểu tượng
nghệ thuật văn học thường chú ý các phương diện về nghĩa biểu đạt từ hình tượng.
Theo tác giả Nguyễn Đức Toàn, bàn luận về biểu tượng trong văn học: “Trong văn
học, nói đến biểu tượng, người ta thường chú ý đến hai dấu hiệu nhận biết: biểu
tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực; biểu tượng không chỉ mang nghĩa đen,
nghĩa biểu vật, nghĩa miêu tả mà biểu tượng còn là hiện tượng chuyển nghĩa. Biểu
tượng là phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn” [1;1]. Từ chức năng rất lớn của các biểu tượng
nghệ thuật trong văn học nói chung, hội họa – loại hình nghệ thuật thị giác
chuyển tải các hình tượng từ ngôn từ trong văn học thành hình khối và vật cụ thể
nhằm hướng đến người thưởng tranh cảm giác chân thật. Ngoài ra, biểu tượng nghệ
thuật trong hội họa được các họa gia mô phỏng và tái hiện lại rất chân xác so với
trong nghệ thuật ngôn từ. Điều này được thể hiện rõ nét trong dòng tranh thủy mặc,
một dòng tranh có nguồn gốc từ Trung Hoa và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học
cổ trung đại và dòng văn học viết bằng chữ Hán ở Việt Nam cũng như các nước chịu
ảnh hưởng văn hóa đồng văn trong khu vực.
Bàn về tranh thủy mặc, tức nói đến nền văn minh
giấy – bút – mực lâu đời của Trung Hoa. Giấy bút và mực là kết tinh văn minh từ
tứ đại phát minh của dân tộc Hán và được truyền bá - ảnh hưởng sâu rộng theo dấu
chân xâm lượt và tiến trình giao lưu kinh thương đến khu vực chịu ảnh hưởng văn
hóa đồng văn. Từ đó, dòng tranh thủy mặc và cách thức sáng tác và bảo lưu đặc
trưng của nghệ thuật bút mực được giữ lại theo sự phát triển của các hệ tư tưởng
phong kiến, nhất là tư tưởng Nho học. Tìm về nguồn gốc biểu tượng trong sáng
tác hội họa thủy mặc, các họa gia cổ điển Trung Hoa xưa thường lấy các biểu tượng
mang tính chất cổ mẫu và có tính cố định lâu dài, phù hợp với chính phong cách
sáng tác của chính mình. Mô hình tác giả văn học, nhà thư pháp và họa gia được
hình thành trên mối quan hệ hữu cơ giữa các chất xúc tác từ biểu tượng trong
văn học. Từ thời Đường, nền văn minh Trung Hoa phát triển rực rỡ, trong cả nghệ
thuật ngôn từ. Thơ ca Đường luật phát triển mạnh mẽ và số lượng nhà thơ – họa
gia có nhiều tên tuổi tiêu biểu như: Vương Duy, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên. Đến
giai đoạn Minh – Thanh hậu kỳ trung đại Trung Hoa, mô hình này vẫn được vẫn
nguyên trong phong cách sáng tác của nhiều người như: Trịnh Bản Kiều (vừa là
nhà thơ, nhà thư họa).
Thơ Đường mang yếu tố biểu tượng nghệ thuật đa dạng
và phong phú. Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Đường có ảnh hưởng đến thơ ca
Trung Hoa và thơ ca trung đại Việt Nam rất lớn. Đặc trưng thẩm mỹ trong thơ Đường
làm cho những biểu tượng nghệ thuật trở nên đẹp và hấp dẫn. Thi nhân xây dựng
cho biểu tượng trong thơ của mình được nổi bật với ánh sáng biểu tượng cho tri
thức, nhân cách và tư tưởng của người thức giả. Từ đó, biểu tượng nghệ thuật được
chuyển thành nghệ thuật thị giác qua kỹ pháp sáng tác thủy mặc.
2. Nội dung
2.1.
Biểu tượng mang cốt cách Nho sĩ
Tầng lớp Nho sĩ được xem là tầng lớp mang dấu ấn
của tri thức và cũng chính là công cụ để chính quyền phong kiến tập quyền sử dụng
trong việc thống trị thời xưa. Nhìn ở phương diện đời sống tri thức, Nho sĩ là
tựu trung của tinh hoa tri thức Hán học và cũng là một lực lượng sáng tác văn
chương – nhất trong thể loại thơ ca biền văn. Người Nho sĩ khi xưa khi sáng tác
thơ ca thường chuộng lấy một đề tài làm nền tảng và hình thành nên phong cách
chính yếu. Đời Thanh có Trịnh Bản Kiều lấy biểu tượng “trúc” làm đề tài sáng
tác hội họa lẫn thơ ca. Ngay chính trên tác phẩm hội họa của mình, ông đề những
bài thơ do chính mình sáng tác bằng cảm hứng từ biểu tượng “trúc thạch” (trúc
và đá) để ca ngợi khí tiết sạch trong ngay thẳng cứng cỏi của người Nho sĩ.
Biểu tượng trúc trong bài thơ “Trúc thạch” của
ông được hình dung như sau:
|
Nguyên văn chữ Hán
|
Phiên âm
|
Dịch nghĩa
|
|
竹石
咬定青山不放松,
立根原在破岩中。
千磨万击还坚劲,
任尔东西南北风
[5]
|
Trúc thạch
Giảo định thanh sơn bất
phóng tùng,
Lập căn nguyên tại phá
nham trung.
Thiên ma vạn kích hoàn
kiên kính,
Nhậm nhĩ đông tây nam
bắc phong.
|
Nhất định núi xanh chẳng
có tùng
Rễ kia vốn phá thạch
nham trong
Ngàn lay vạn chuyển
xương còn cứng
Bất kể gió tây nam bắc
đông.
|
Nói về biểu tượng trúc trong thơ ca cổ điển, đó
là hình ảnh của sự ngoan cường quật khởi. Xét về hình thức văn tự học, trúc là
âm đọc từ âm Hán Việt mà thành. Trong “Lục thư” (六書) sáu phép cấu thành chữ
Hán, chữ “trúc” (竹) thuộc phép “tượng hình” (象形); chi và lá của trúc bao gồm các đốt hợp thành
thành gọi là “tiết” (節) tương ứng với cách hình dung trong biểu tượng “khí tiết”
(節氣) của người quân tử và
Nho sĩ trong xã hội xưa làm chuẩn mực của phong cách con người, có phép tắc quy
củ. Trong đời sống và cách nhìn về nghệ thuật của văn nhân Nho sĩ, biểu tượng
trúc trở thành điểm tựa tâm hồn và điểm nhìn giải trí từ đời sống văn nghệ của
Nho gia. Nho sĩ Trung Hoa xưa lấy trúc làm việc tao nhã, giải phóng tâm hồn
trong lúc nhàn sự: “Kha Cửu Tư cho rằng tranh mặc trúc của ông là nhân văn nhã
sự (việc tao nhã của văn nhân)” [2;116].
Vượt ra ngoài biên giới văn nhân, nho sĩ, trong
giới hoàng cung các bậc đế vương cũng thường quan tâm đế biểu tượng cao khiết –
trúc thạch và những ảnh hưởng của biểu tượng này trong thi ca và hội họa. Ung
Chính đời nhà Thanh (Trung Quốc) vừa là vua nhưng đồng thời cũng là một thi sĩ,
nhà thư – họa nổi tiếng. Thơ của ông hướng đến tinh thần cao nhã của văn nhân,
xem trọng cốt cách thoát tục và đề cao sự trong sáng từ các vật – biểu tượng.
Trúc trong các thể loại sáng tác của ông cũng được hình tượng hóa và làm điểm tựa
thi nhãn cho câu thơ, vừa gợi tứ họa vừa gợi tứ thơ:
|
Nguyên văn chữ Hán
|
Phiên âm
|
Tạm dịch
|
|
竹影橫窗知月上
花香入戶覺春來
|
Trúc ảnh hoàng song
tri nguyệt thượng,
Hoa hương nhập hộ giác
xuân lai.
|
Bóng trúc ngoài song
biết ánh trăng trên đầu chiếu sáng,
Hương hoa vào cửa chợt
nhận ra tin xuân đã về.
|
Bức tranh nguyệt – trúc, hoa hương trong câu thơ
của Ung Chính gợi nên cảnh phong vị đầy thi vị hoàng gia. Đó cũng là lối tả ý của
văn chương cung đình: vừa cao nhã, sang trọng và mang phong cách thoát tục.
Trúc xuất hiện trong hai câu song thất vừa mang tiểu đối và liên tưởng đặc sắc
về không gian. Không gian thoát tục ấy còn có sự xuất hiện của ánh trăng (nguyệt)
và hoa làm nền cho bóng trúc gợi nên vẻ uyển chuyển và thơ mộng. Từ sự miêu tả
gợi hình đó, biểu tượng trúc có thể qui ra nhiều tầng ý nghĩa: vừa là biểu tượng
cho cốt cách nho sĩ, vừa là biểu tượng của tầng không gian hạn định trong cách
nhìn của văn nhân, trong mối quan hệ với thiên nhiên – vũ trụ.
2.2.
Biểu tượng tình duyên –
tương tư
Trong thơ Đường, tình yêu và những mối liên hệ với
tình yêu đa dạng và phức tạp. Đa phần, các mối liên hệ này thường được qui qua
biểu tượng nghệ thuật nhằm để cho chủ thể trong bài thơ gửi gắm tâm tình và ý
niệm. Điều này cũng được các họa gia thủy mặc ghi chép lại bằng đường cọ rất
tinh xảo, thông qua họa, các họa gia đề bài thơ được phỏng tác lên tranh vừa
làm phông nền vừa là sự gợi ý tế nhị cho người xem tranh.
Biểu tượng tình duyên trong thơ và trong tranh
đáng chú ý nhất đó là giai thoại: “hồng đậu tương tư” đi ra từ bài thơ “Tương
tư” của Thi Phật Vương Duy (Đường – Trung Quốc).
|
Nguyên văn chữ Hán
|
Phiên âm
|
Dịch thơ
|
|
紅豆生南國,
春來發幾枝.
願君多採擷,
此物最相思.
|
Hồng đậu sinh nam quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương tư.
|
Đậu hồng sinh ở miền
nam,
Đến xuân nay lại nở
thêm mấy cành.
Lượm về nhiều nữa hỡi
anh,
Giống này mới thật nặng
tình tương tư.
(Bản dịch
thơ Nguyễn Hữu Bổng)
|
Từ biểu tượng đi ra trong thơ ca, một số họa phẩm
thủy mặc của người tiếp nhận văn bản thơ ca và giới bình phẩm văn chương nhận
thấy cần “minh họa” và phục dựng lại tầng sâu ý nghĩa bài thơ bằng nghệ thuật
thị giác. Trong tranh thủy mặc, biểu tượng tình duyên “hồng đậu” được phổ quát
qua sắc màu đỏ thẩm (đại hồng), trĩu nặng và căng bóng trên nền tuyết trắng phủ
đầy và hình ảnh người thiếu phụ bên cạnh vin tay. Khung cảnh lãng mạn, trữ tình
và đầy tính gợi cho mối tình của người thiếu phụ giữ khoảng trời gió đông, cây
và quả hồng đậu màu đỏ huyết làm nổi bật nên mối tình son sắt, thủy chung của
người phụ nữ phong kiến. Phóng đại ý nghĩa biểu tượng này, có thể thấy đó là biểu
tượng tình yêu – phản chiến và nói lên khát vọng thực tế đầy đau thương của
tình yêu mỏng manh thời phong kiến.
Từ một biểu tượng đại diện cho tình yêu, trong
thơ Đường và trong mối liên hệ với sáng tác tranh thủy mặc, biểu tượng tình yêu
làm cho các họa sĩ có cảm xúc sáng tác nên tác phẩm rất là rất lớn. Một số biểu
tượng khác chỉ mang tính chất gợi, cũng là đề tài tình yêu và khát vọng yêu
thương nam nữ và gắn với chiến tranh phong kiến phi nghĩa như: tiếng đàn Tỳ bà,
biểu tượng bến sông, biểu tượng liên đới: phong hoa tuyết nguyệt,... đều làm
nên “phông nền” vô cùng độc đáo cho nhân vật chính trong bố cục bài thơ lẫn
chương pháp của tranh vẽ. Trong tính nhất quán của tổng thể biểu tượng vừa có sự
đăng đối, vừa có sự kết hợp nhịp nhàng của các chỉnh thể vừa bổ sung cho nhau
và hỗ trợ lẫn nhau của thơ ca và hội họa. Nhiều bài thơ Đường toát lên được đặc
điểm này rất cao độ, chẳng hạn tổng thể biểu tượng trong bài “Tòng quân hành” của
Vương Xương Linh:
|
Nguyên văn chữ Hán
|
Phiên âm
|
Tạm dịch
|
|
從軍行
琵琶起舞換新聲
總是關山別離情
撩亂邊愁聽不盡
高高秋月照長城
|
Tòng quân hành
Tỳ bà khởi vũ hoán tân
thanh
Tổng thị quan san biệt
ly tình
Liêu loạn biên sầu thính
bất tận
Cao cao thu nguyệt chiếu
trường thành
|
Đàn tỳ bà tấu hết bản
nhạc này lại đến bản nhạc khác,
Nhưng bản nhạc nào
cũng khiến cho lòng chinh nhân trổi dậy.
Không biết bao nhiêu nỗi
buồn, bi ai cứ dập dập theo tiếng đàn,
Ngước nhìn lên, vầng
trăng cao cao chiếu rọi Trường Thành.
[3; 49]
|
Trong bức tranh quan san nguyệt này, biểu tượng
“tỳ bà” vừa là biểu tượng hình ảnh, vừa là biểu tượng nền âm thanh xuyên suốt
cho toàn cảnh nỗi lòng của chinh nhân. Chức năng của tiếng đàn Tỳ bà vừa là nhạc
khúc du dương, gợi nhớ nên nỗi sầu chiến trận, ở đó bóng trăng cao cao chiếu
dãy Trường Thành vô tận. Người chinh nhân với ước vọng thoát khỏi chiến tranh
phi nghĩa về lại với quê hương. Bức tranh vừa có nền là phong cảnh quan san,
biên tái, có tâm tình của con người và nhạc khúc bay bổng. Trong hội họa thủy mặc,
họa sĩ căn cứ vào các yếu tố chính của nghệ thuật ngôn từ là các biểu tượng này
nhằm tái hiện lại khung cảnh quan san, chiến địa hoặc tái hiện lại một hoạt cảnh
nhỏ là người chinh nhân và người đàn tỳ bà. Chủ đạo của bức tranh này nói lên nỗi
khổ thống thiết của ly biệt của chinh nhân với quên hương. Theo tác giả Nguyễn
Đình Phức (2013) trong nhận xét về không gian tâm cảnh thơ biên tái và họa cảnh
này có đoạn: “Nhà thơ nói, đàn tỳ bà trong tay những người lính tấu hết nhạc
khúc này lại thay nhạc khúc khác, nhưng bất luận có thay bao nhiêu khúc nhạc,
chủ đề ly biệt vẫn luôn thấm đẫm, luôn làm cho nỗi buồn, nỗi bi ai trong lòng
chinh nhân trỗi dậy” [3; 49].
Mối quan hệ cơ bản giữa biểu tượng và căn cứ xây
dựng hình ảnh, bố cục trong hội họa thủy mặc đó chính là sự tiếp nhận và cảm
xúc toát lên từ ý nghĩa tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Nếu trong bài thơ Tòng
quân hành trên, Vương Xương Linh xây dựng nên biểu tượng chính là hình ảnh người
chinh nhân và tiếng đàn tỳ bà, có thể tranh thủy mặc mô phỏng lại hai chủ thể
chính yếu này để xây dựng bố cục tranh. Từ đó, tranh thủy mặc có thể tự do mô tả
khung cảnh chính yếu từ thơ ca, nhưng chỉ một phần hạn định, bởi nghệ thuật thị
giác đối với trường tranh thủy mặc luôn có giới hạn về kích thước và trình độ
nghệ thuật cũng như tầm tiếp nhận, phê bình của người tiếp nhận.
2.3.
Biểu tượng mang tính vũ
trụ
Thơ Đường mang tính thoát tục rất cao, nhất là đối
với trường hợp của Thi tiên Lý Bạch. Thơ của ông thường được các họa sĩ thủy mặc
đời sau vẽ lại minh họa rất nhiều. Thơ Lý Bạch chủ yếu ba nội dung: thoát tục
tu tiên học đạo, bằng hữu và tửu nguyệt (rượu và trăng). Về hình thức thể loại,
Lý Bạch được xem là nhà thơ chuộng thể loại ngũ ngôn tuyệt cú trường thiên với
đặc trưng ngôn từ câu thơ ngắn gọn và độ dài không hạn định nên ý thơ trong các
bài tuyệt cú của ông dài và diễn tả tư tưởng giải phóng cá nhân của ông rất lớn.
Chính các biểu tượng nghệ thuật gắn với thiên nhiên vũ trụ, mang tính “đăng
cao” (lên cao) mà tranh thủy mặc cũng có điểm tương đồng. Đó là loại vẽ hoạt cảnh
núi non hùng vĩ, một chiếc phàm chu nhỏ bé giữa dòng chở người đạo sĩ dưới ánh
trăng thu cầm bầu rượu. Những biểu tượng tương đồng này xuất hiện trong thơ ca
của Lý Bạch rất nhiều, chẳng hạn: phong (gió), hoa (hoa cỏ), tuyết, nguyệt
(trăng). Các thế hệ tiếp nhận văn bản thơ Đường sau này với cảm hứng được hấp
thụ từ tinh thần thơ ca và ám ảnh, ấn tượng
với các biểu tượng này nên nhiều họa sĩ vớ những tác phẩm hội họa thủy mặc
đã tái hiện lại con người thi tửu thoát tục chung với các biểu tượng đi kèm.
Bài thơ “Nguyệt hạ độc chước” của Lý Bạch diễn tả rất rõ các biểu tượng đi
chung này.
|
月下獨酌其一
花間一壺酒,
獨酌無相親。
舉杯要明月,
對影成三人。
月既不解歡,
影徒隨我身。
暫伴月將影,
行樂須及春。
我歌月徘徊,
我舞影零亂。
醒時同交歡,
醉後各分散。
永結無情遊,
相期邈雲漢。
|
Nguyệt hạ độc chước kỳ
I
Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương
thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam
nhân.
Nguyệt ký bất giải ẩm,
Ảnh đồ tùy ngã thân.
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân.
Ngã ca nguyệt bồi hồi,
Ngã vũ ảnh linh loạn.
Tỉnh thì đồng giao
hoan,
Tuý hậu các phân tán.
Vĩnh kết vô tình du,
Tương kỳ mạc Vân Hán.
|
Có rượu không có bạn,
Một mình chuốc dưới
hoa. Cất chén mời trăng sáng, Mình với bóng là ba.
Trăng đã không biết uống,
Bóng chỉ quấn theo ta.
Tạm cùng trăng với
bóng, Chơi xuân cho kịp mà!
Ta hát, trăng bồi hồi,
Ta múa, bóng rối loạn.
Lúc tỉnh cùng nhau
vui,
Say rồi đều phân tán.
Gắn bó cuộc vong tình,
Hẹn nhau tít Vân Hán.
Tương Như dịch
[4; 67]
|
Biểu tượng mang tính vũ trụ cao nhất trong thơ
Lý Bạch để làm trung tâm điểm cho thủy mặc đó là ánh trăng. Càng đặc sắc hơn nếu
đó là ánh trăng gắn với hình ảnh quê nhà, bởi trong cách tư duy liên hệ với
thiên nhiên vũ trụ, biểu tượng ánh trăng đối với các nhà thơ đó là hình ảnh của
thời niên thiếu tung hoành. Lý Bạch từng ngao du trên núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên
thời trẻ, nhìn ánh trăng thu cuồn cuộn vào dòng trường giang. Đỗ Phủ thì cho rằng
ánh trăng là ánh sáng từ quê nhà chiếu thăm (nguyệt thị cố hương minh, bài
“Nguyệt dạ ức xá đệ). Trong tranh thủy mặc, họa sĩ mô phỏng lại cảnh trí trong
thơ ca bằng cách xác định các biểu tượng trung tâm, trong trường hợp tái hiện lại
các cảnh trí này thì ánh trăng là một thành tố nghệ thuật không thể thiếu được
với chính sắc nền của không gian đêm tối và một mình thi nhân với biết bao niềm
vui hoan lạc. Hình ảnh con người hòa mình hòa vào thiên nhân cũng là một chủ đề
tư tưởng cốt yếu mà cả thơ lẫn họa Trung Hoa cổ điển đều hướng đến là “thiên
nhân hợp nhất”.
Qua biểu tượng trăng, có thể thấy cả trong họa
và thơ đều xem trọng yếu tố tiền đề là yếu tố trung tâm điểm nhấn cho toàn diện
tác phẩm. Thơ ca cổ điển cốt yếu hướng về tâm cảnh và xúc cảm, đồng thời còn ngụ
chỉ “ý tại ngôn ngoại” và trong tranh “ý tại chỉ ngoại” (ý nằm ngoài bề mặt giấy
vẽ), nhưng cả hai đều chú trọng yếu tố hình thức đầu đề làm phông nền cho toàn
bộ cảnh vật và hoạt động trong tác phẩm của mình. Cả nhà thơ và họa sĩ đều chú
ý đến mức độ diễn tả mà chủ thể trung tâm trong tác phẩm sẽ biểu lộ và truyền tải
tới người tiếp nhận. Tranh vừa truyền lại hình ảnh, vừa có thể truyền ý từ thơ
ca đi ra; thơ ca vừa tạo nên bối cảnh tâm tưởng cho độc giả thông qua hình ảnh
biểu tượng, vừa gợi nên tầng nghĩa cho bối cảnh ấy trong cách cảm nhận của người
tiếp nhận. Nói chung, đó là tính hai mặt và tương giao giữa thi ca và biểu tượng
với hội họa.
3. Kết luận
Biểu tượng trong thơ ca vốn được xem là yếu tố
thi liệu xây dựng nên bố cục hình ảnh trong bài thơ, biểu tượng còn là thành phần
nghệ thuật chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa tương quan sâu rộng với nội dung thơ ca
rất lớn. Vả lại, trong tranh thủy mặc, tính biểu tượng đi ra từ thơ ca mà họa
sĩ qua quá trình tiếp nhận thơ ca và thẩm thấu các tầng nghĩa từ biểu tượng để
tạo nên hoạt cảnh chứa cả biểu tượng nghệ thuật đi ra từ tác phẩm nghệ thuật
ngôn từ. Chức năng của biểu tượng nghệ thuật dù là ở vị trí nào, trong lĩnh vực
nghệ thuật thì cũng đều mang vai trò là thành tố bố cục và nền tảng để các yếu
tố nghệ thuật khác củng có dịp phát huy điểm nhấn trong tổng thể một tác phẩm.
Tài liệu tham khảo
1
Nguyễn Đức Toàn (2015), Biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(92) – 2015
2
Lâm Từ (2015), Hội họa Trung Quốc, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tp. HCM
3
Nguyễn Đình Phức (2013), Thi pháp thơ Đường, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tp.
HCM.
4
Vương Phong, Diêu Đan, Đặng Cẩm Huy (2013), Văn học Trung Quốc, NXB Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, tp. HCM.
·
Từ Internet
5
Chung Chấn Chấn, bài viết “Giảo định thanh sơn bất
phóng tùng – Thanh, Trịnh Tiếp, Trúc thạch, thi từ thưởng tích (咬定青山不放松——清·郑燮《竹石》诗赏析钟振振), nguồn: http://www.guoxue.com/?p=35995, truy cập 22/12/2019,
22:21’
trị