Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

何思春夏瓦上雪 Hà tư xuân hạ ngõa thượng tuyết?

 







何思留去未能離,

別亦難時誰又依。

濃淡丹心人已遠,

暫無辣酒影相思。

故情追夢尋人跡,

無意醒來落淚滴。

春夏為何瓦上雪,

金秋雙外興書詩。

注:又想故人,何所能尋舊時影,

何時可聽到舊事,可無聞故人聲?

公元二零二零年八月二十九日

歲次庚子金秋鄭瓦作於芹苴大學

Hà tư xuân hạ ngõa thượng tuyết?

Hà tư lưu khứ vị năng li,

Biệt diệc nan thời thùy hựu y.

Nồng đạm đan tâm nhân dĩ viễn,

Tạm vô lạt tửu ảnh tương tư.

Cố tình truy mộng tầm nhân tích,

Vô ý tỉnh lai lạc lệ ty (tích).

Xuân hạ vi hà ngõa thượng tuyết?

Kim thu song ngoại hứng thư thi.

Tạm dịch:

Nghĩ việc ở đi khó bước rời,

Hợp tan lẽ sẵn chuyện trường đời.

Đan tâm nóng lạnh người vừa khuất,

Nhạt nhẽo rượu cay luyến nhớ người.

Cố ý trong mơ tìm dấu cũ,

Hoang mang tỉnh dậy lệ dài dài .

Vì đâu xuân hạ hiên đầm tuyết?

Một bận song thu viết mấy lời.

Canh tý, kim thu, Trịnh Ngõa.

 

 

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRANH THỦY MẶC VỚI BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT THƠ CA CỔ ĐIỂN

 

著名书画家徐立业先生国画:春月气象万千

1.      Đặt vấn đề

Biểu tượng nghệ thuật trong các loại hình nghệ thuật là một đặc trưng mang tính hình thức và được đặt trong hệ thống của loại hình đó. Trong văn nghệ, biểu tượng nghệ thuật thuộc một thể loại được mã hóa bằng những ý nghĩa gắn liền với biểu và mang tính biểu trưng cho từng thuộc tính trong tiến trình phát triển của thể loại. Văn học và hội họa là loại hình nghệ thuật có tính chất tương quan rất lớn, sử dụng các chất liệu nghệ thuật tương đồng về thể tài và có tính liên kết. Với vai trò là nghệ thuật ngôn từ, biểu tượng nghệ thuật văn học thường chú ý các phương diện về nghĩa biểu đạt từ hình tượng. Theo tác giả Nguyễn Đức Toàn, bàn luận về biểu tượng trong văn học: “Trong văn học, nói đến biểu tượng, người ta thường chú ý đến hai dấu hiệu nhận biết: biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực; biểu tượng không chỉ mang nghĩa đen, nghĩa biểu vật, nghĩa miêu tả mà biểu tượng còn là hiện tượng chuyển nghĩa. Biểu tượng là phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn”  [1;1]. Từ chức năng rất lớn của các biểu tượng nghệ thuật trong văn học nói chung, hội họa – loại hình nghệ thuật thị giác chuyển tải các hình tượng từ ngôn từ trong văn học thành hình khối và vật cụ thể nhằm hướng đến người thưởng tranh cảm giác chân thật. Ngoài ra, biểu tượng nghệ thuật trong hội họa được các họa gia mô phỏng và tái hiện lại rất chân xác so với trong nghệ thuật ngôn từ. Điều này được thể hiện rõ nét trong dòng tranh thủy mặc, một dòng tranh có nguồn gốc từ Trung Hoa và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học cổ trung đại và dòng văn học viết bằng chữ Hán ở Việt Nam cũng như các nước chịu ảnh hưởng văn hóa đồng văn trong khu vực.

Bàn về tranh thủy mặc, tức nói đến nền văn minh giấy – bút – mực lâu đời của Trung Hoa. Giấy bút và mực là kết tinh văn minh từ tứ đại phát minh của dân tộc Hán và được truyền bá - ảnh hưởng sâu rộng theo dấu chân xâm lượt và tiến trình giao lưu kinh thương đến khu vực chịu ảnh hưởng văn hóa đồng văn. Từ đó, dòng tranh thủy mặc và cách thức sáng tác và bảo lưu đặc trưng của nghệ thuật bút mực được giữ lại theo sự phát triển của các hệ tư tưởng phong kiến, nhất là tư tưởng Nho học. Tìm về nguồn gốc biểu tượng trong sáng tác hội họa thủy mặc, các họa gia cổ điển Trung Hoa xưa thường lấy các biểu tượng mang tính chất cổ mẫu và có tính cố định lâu dài, phù hợp với chính phong cách sáng tác của chính mình. Mô hình tác giả văn học, nhà thư pháp và họa gia được hình thành trên mối quan hệ hữu cơ giữa các chất xúc tác từ biểu tượng trong văn học. Từ thời Đường, nền văn minh Trung Hoa phát triển rực rỡ, trong cả nghệ thuật ngôn từ. Thơ ca Đường luật phát triển mạnh mẽ và số lượng nhà thơ – họa gia có nhiều tên tuổi tiêu biểu như: Vương Duy, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên. Đến giai đoạn Minh – Thanh hậu kỳ trung đại Trung Hoa, mô hình này vẫn được vẫn nguyên trong phong cách sáng tác của nhiều người như: Trịnh Bản Kiều (vừa là nhà thơ, nhà thư họa).

Thơ Đường mang yếu tố biểu tượng nghệ thuật đa dạng và phong phú. Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Đường có ảnh hưởng đến thơ ca Trung Hoa và thơ ca trung đại Việt Nam rất lớn. Đặc trưng thẩm mỹ trong thơ Đường làm cho những biểu tượng nghệ thuật trở nên đẹp và hấp dẫn. Thi nhân xây dựng cho biểu tượng trong thơ của mình được nổi bật với ánh sáng biểu tượng cho tri thức, nhân cách và tư tưởng của người thức giả. Từ đó, biểu tượng nghệ thuật được chuyển thành nghệ thuật thị giác qua kỹ pháp sáng tác thủy mặc.

2.      Nội dung

2.1.           Biểu tượng mang cốt cách Nho sĩ

Tầng lớp Nho sĩ được xem là tầng lớp mang dấu ấn của tri thức và cũng chính là công cụ để chính quyền phong kiến tập quyền sử dụng trong việc thống trị thời xưa. Nhìn ở phương diện đời sống tri thức, Nho sĩ là tựu trung của tinh hoa tri thức Hán học và cũng là một lực lượng sáng tác văn chương – nhất trong thể loại thơ ca biền văn. Người Nho sĩ khi xưa khi sáng tác thơ ca thường chuộng lấy một đề tài làm nền tảng và hình thành nên phong cách chính yếu. Đời Thanh có Trịnh Bản Kiều lấy biểu tượng “trúc” làm đề tài sáng tác hội họa lẫn thơ ca. Ngay chính trên tác phẩm hội họa của mình, ông đề những bài thơ do chính mình sáng tác bằng cảm hứng từ biểu tượng “trúc thạch” (trúc và đá) để ca ngợi khí tiết sạch trong ngay thẳng cứng cỏi của người Nho sĩ.

Biểu tượng trúc trong bài thơ “Trúc thạch” của ông được hình dung như sau:

Nguyên văn chữ Hán

Phiên âm

Dịch nghĩa

竹石

咬定青山不放松,

立根原在破岩中。

千磨万击还坚劲,

任尔东西南北风

[5]

Trúc thạch

Giảo định thanh sơn bất phóng tùng,

Lập căn nguyên tại phá nham trung.

Thiên ma vạn kích hoàn kiên kính,

Nhậm nhĩ đông tây nam bắc phong.

Nhất định núi xanh chẳng có tùng

Rễ kia vốn phá thạch nham trong

Ngàn lay vạn chuyển xương còn cứng

Bất kể gió tây nam bắc đông.

 

 

Nói về biểu tượng trúc trong thơ ca cổ điển, đó là hình ảnh của sự ngoan cường quật khởi. Xét về hình thức văn tự học, trúc là âm đọc từ âm Hán Việt mà thành. Trong “Lục thư” (六書) sáu phép cấu thành chữ Hán, chữ “trúc” () thuộc phép “tượng hình” (象形); chi và lá của trúc bao gồm các đốt hợp thành thành gọi là “tiết” () tương ứng với cách hình dung trong biểu tượng “khí tiết” (節氣) của người quân tử và Nho sĩ trong xã hội xưa làm chuẩn mực của phong cách con người, có phép tắc quy củ. Trong đời sống và cách nhìn về nghệ thuật của văn nhân Nho sĩ, biểu tượng trúc trở thành điểm tựa tâm hồn và điểm nhìn giải trí từ đời sống văn nghệ của Nho gia. Nho sĩ Trung Hoa xưa lấy trúc làm việc tao nhã, giải phóng tâm hồn trong lúc nhàn sự: “Kha Cửu Tư cho rằng tranh mặc trúc của ông là nhân văn nhã sự (việc tao nhã của văn nhân)” [2;116].

Vượt ra ngoài biên giới văn nhân, nho sĩ, trong giới hoàng cung các bậc đế vương cũng thường quan tâm đế biểu tượng cao khiết – trúc thạch và những ảnh hưởng của biểu tượng này trong thi ca và hội họa. Ung Chính đời nhà Thanh (Trung Quốc) vừa là vua nhưng đồng thời cũng là một thi sĩ, nhà thư – họa nổi tiếng. Thơ của ông hướng đến tinh thần cao nhã của văn nhân, xem trọng cốt cách thoát tục và đề cao sự trong sáng từ các vật – biểu tượng. Trúc trong các thể loại sáng tác của ông cũng được hình tượng hóa và làm điểm tựa thi nhãn cho câu thơ, vừa gợi tứ họa vừa gợi tứ thơ:

Nguyên văn chữ Hán

Phiên âm

Tạm dịch

竹影橫窗知月上

花香入戶覺春來

Trúc ảnh hoàng song tri nguyệt thượng,

Hoa hương nhập hộ giác xuân lai.

Bóng trúc ngoài song biết ánh trăng trên đầu chiếu sáng,

Hương hoa vào cửa chợt nhận ra tin xuân đã về.

 

Bức tranh nguyệt – trúc, hoa hương trong câu thơ của Ung Chính gợi nên cảnh phong vị đầy thi vị hoàng gia. Đó cũng là lối tả ý của văn chương cung đình: vừa cao nhã, sang trọng và mang phong cách thoát tục. Trúc xuất hiện trong hai câu song thất vừa mang tiểu đối và liên tưởng đặc sắc về không gian. Không gian thoát tục ấy còn có sự xuất hiện của ánh trăng (nguyệt) và hoa làm nền cho bóng trúc gợi nên vẻ uyển chuyển và thơ mộng. Từ sự miêu tả gợi hình đó, biểu tượng trúc có thể qui ra nhiều tầng ý nghĩa: vừa là biểu tượng cho cốt cách nho sĩ, vừa là biểu tượng của tầng không gian hạn định trong cách nhìn của văn nhân, trong mối quan hệ với thiên nhiên – vũ trụ.

2.2.           Biểu tượng tình duyên – tương tư

Trong thơ Đường, tình yêu và những mối liên hệ với tình yêu đa dạng và phức tạp. Đa phần, các mối liên hệ này thường được qui qua biểu tượng nghệ thuật nhằm để cho chủ thể trong bài thơ gửi gắm tâm tình và ý niệm. Điều này cũng được các họa gia thủy mặc ghi chép lại bằng đường cọ rất tinh xảo, thông qua họa, các họa gia đề bài thơ được phỏng tác lên tranh vừa làm phông nền vừa là sự gợi ý tế nhị cho người xem tranh.

Biểu tượng tình duyên trong thơ và trong tranh đáng chú ý nhất đó là giai thoại: “hồng đậu tương tư” đi ra từ bài thơ “Tương tư” của Thi Phật Vương Duy (Đường – Trung Quốc).

Nguyên văn chữ Hán

Phiên âm

Dịch thơ

 

紅豆生南國,

春來發幾枝.

願君多採擷,

此物最相思.

 

Hồng đậu sinh nam quốc,

Xuân lai phát kỷ chi.

Nguyện quân đa thái hiệt,

Thử vật tối tương tư.

 

 

Đậu hồng sinh ở miền nam,

Đến xuân nay lại nở thêm mấy cành.

Lượm về nhiều nữa hỡi anh,

Giống này mới thật nặng tình tương tư.

 (Bản dịch thơ Nguyễn Hữu Bổng)

Từ biểu tượng đi ra trong thơ ca, một số họa phẩm thủy mặc của người tiếp nhận văn bản thơ ca và giới bình phẩm văn chương nhận thấy cần “minh họa” và phục dựng lại tầng sâu ý nghĩa bài thơ bằng nghệ thuật thị giác. Trong tranh thủy mặc, biểu tượng tình duyên “hồng đậu” được phổ quát qua sắc màu đỏ thẩm (đại hồng), trĩu nặng và căng bóng trên nền tuyết trắng phủ đầy và hình ảnh người thiếu phụ bên cạnh vin tay. Khung cảnh lãng mạn, trữ tình và đầy tính gợi cho mối tình của người thiếu phụ giữ khoảng trời gió đông, cây và quả hồng đậu màu đỏ huyết làm nổi bật nên mối tình son sắt, thủy chung của người phụ nữ phong kiến. Phóng đại ý nghĩa biểu tượng này, có thể thấy đó là biểu tượng tình yêu – phản chiến và nói lên khát vọng thực tế đầy đau thương của tình yêu mỏng manh thời phong kiến.

Từ một biểu tượng đại diện cho tình yêu, trong thơ Đường và trong mối liên hệ với sáng tác tranh thủy mặc, biểu tượng tình yêu làm cho các họa sĩ có cảm xúc sáng tác nên tác phẩm rất là rất lớn. Một số biểu tượng khác chỉ mang tính chất gợi, cũng là đề tài tình yêu và khát vọng yêu thương nam nữ và gắn với chiến tranh phong kiến phi nghĩa như: tiếng đàn Tỳ bà, biểu tượng bến sông, biểu tượng liên đới: phong hoa tuyết nguyệt,... đều làm nên “phông nền” vô cùng độc đáo cho nhân vật chính trong bố cục bài thơ lẫn chương pháp của tranh vẽ. Trong tính nhất quán của tổng thể biểu tượng vừa có sự đăng đối, vừa có sự kết hợp nhịp nhàng của các chỉnh thể vừa bổ sung cho nhau và hỗ trợ lẫn nhau của thơ ca và hội họa. Nhiều bài thơ Đường toát lên được đặc điểm này rất cao độ, chẳng hạn tổng thể biểu tượng trong bài “Tòng quân hành” của Vương Xương Linh:

Nguyên văn chữ Hán

Phiên âm

Tạm dịch

從軍行

琵琶起舞換新聲

總是關山別離情

撩亂邊愁聽不盡

高高秋月照長城

Tòng quân hành

Tỳ bà khởi vũ hoán tân thanh

Tổng thị quan san biệt ly tình

Liêu loạn biên sầu thính bất tận

Cao cao thu nguyệt chiếu trường thành

Đàn tỳ bà tấu hết bản nhạc này lại đến bản nhạc khác,

Nhưng bản nhạc nào cũng khiến cho lòng chinh nhân trổi dậy.

Không biết bao nhiêu nỗi buồn, bi ai cứ dập dập theo tiếng đàn,

Ngước nhìn lên, vầng trăng cao cao chiếu rọi Trường Thành.

[3; 49]

 

Trong bức tranh quan san nguyệt này, biểu tượng “tỳ bà” vừa là biểu tượng hình ảnh, vừa là biểu tượng nền âm thanh xuyên suốt cho toàn cảnh nỗi lòng của chinh nhân. Chức năng của tiếng đàn Tỳ bà vừa là nhạc khúc du dương, gợi nhớ nên nỗi sầu chiến trận, ở đó bóng trăng cao cao chiếu dãy Trường Thành vô tận. Người chinh nhân với ước vọng thoát khỏi chiến tranh phi nghĩa về lại với quê hương. Bức tranh vừa có nền là phong cảnh quan san, biên tái, có tâm tình của con người và nhạc khúc bay bổng. Trong hội họa thủy mặc, họa sĩ căn cứ vào các yếu tố chính của nghệ thuật ngôn từ là các biểu tượng này nhằm tái hiện lại khung cảnh quan san, chiến địa hoặc tái hiện lại một hoạt cảnh nhỏ là người chinh nhân và người đàn tỳ bà. Chủ đạo của bức tranh này nói lên nỗi khổ thống thiết của ly biệt của chinh nhân với quên hương. Theo tác giả Nguyễn Đình Phức (2013) trong nhận xét về không gian tâm cảnh thơ biên tái và họa cảnh này có đoạn: “Nhà thơ nói, đàn tỳ bà trong tay những người lính tấu hết nhạc khúc này lại thay nhạc khúc khác, nhưng bất luận có thay bao nhiêu khúc nhạc, chủ đề ly biệt vẫn luôn thấm đẫm, luôn làm cho nỗi buồn, nỗi bi ai trong lòng chinh nhân trỗi dậy” [3; 49]. 

Mối quan hệ cơ bản giữa biểu tượng và căn cứ xây dựng hình ảnh, bố cục trong hội họa thủy mặc đó chính là sự tiếp nhận và cảm xúc toát lên từ ý nghĩa tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Nếu trong bài thơ Tòng quân hành trên, Vương Xương Linh xây dựng nên biểu tượng chính là hình ảnh người chinh nhân và tiếng đàn tỳ bà, có thể tranh thủy mặc mô phỏng lại hai chủ thể chính yếu này để xây dựng bố cục tranh. Từ đó, tranh thủy mặc có thể tự do mô tả khung cảnh chính yếu từ thơ ca, nhưng chỉ một phần hạn định, bởi nghệ thuật thị giác đối với trường tranh thủy mặc luôn có giới hạn về kích thước và trình độ nghệ thuật cũng như tầm tiếp nhận, phê bình của người tiếp nhận.

2.3.           Biểu tượng mang tính vũ trụ

 Thơ Đường mang tính thoát tục rất cao, nhất là đối với trường hợp của Thi tiên Lý Bạch. Thơ của ông thường được các họa sĩ thủy mặc đời sau vẽ lại minh họa rất nhiều. Thơ Lý Bạch chủ yếu ba nội dung: thoát tục tu tiên học đạo, bằng hữu và tửu nguyệt (rượu và trăng). Về hình thức thể loại, Lý Bạch được xem là nhà thơ chuộng thể loại ngũ ngôn tuyệt cú trường thiên với đặc trưng ngôn từ câu thơ ngắn gọn và độ dài không hạn định nên ý thơ trong các bài tuyệt cú của ông dài và diễn tả tư tưởng giải phóng cá nhân của ông rất lớn. Chính các biểu tượng nghệ thuật gắn với thiên nhiên vũ trụ, mang tính “đăng cao” (lên cao) mà tranh thủy mặc cũng có điểm tương đồng. Đó là loại vẽ hoạt cảnh núi non hùng vĩ, một chiếc phàm chu nhỏ bé giữa dòng chở người đạo sĩ dưới ánh trăng thu cầm bầu rượu. Những biểu tượng tương đồng này xuất hiện trong thơ ca của Lý Bạch rất nhiều, chẳng hạn: phong (gió), hoa (hoa cỏ), tuyết, nguyệt (trăng). Các thế hệ tiếp nhận văn bản thơ Đường sau này với cảm hứng được hấp thụ từ tinh thần thơ ca và ám ảnh, ấn tượng  với các biểu tượng này nên nhiều họa sĩ vớ những tác phẩm hội họa thủy mặc đã tái hiện lại con người thi tửu thoát tục chung với các biểu tượng đi kèm. Bài thơ “Nguyệt hạ độc chước” của Lý Bạch diễn tả rất rõ các biểu tượng đi chung này.

月下獨酌其一 

花間一壺酒,

獨酌無相親。

舉杯要明月,

對影成三人。

月既不解歡,

影徒隨我身。

暫伴月將影,

行樂須及春。

我歌月徘徊,

我舞影零亂。

醒時同交歡,

醉後各分散。

永結無情遊,

相期邈雲漢。

Nguyệt hạ độc chước kỳ I

Hoa gian nhất hồ tửu,

Độc chước vô tương thân.

Cử bôi yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân.

Nguyệt ký bất giải ẩm,

Ảnh đồ tùy ngã thân.

Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

Hành lạc tu cập xuân.

Ngã ca nguyệt bồi hồi,

Ngã vũ ảnh linh loạn.

Tỉnh thì đồng giao hoan,

Tuý hậu các phân tán.

Vĩnh kết vô tình du,

Tương kỳ mạc Vân Hán.

Có rượu không có bạn,

Một mình chuốc dưới hoa. Cất chén mời trăng sáng, Mình với bóng là ba.

Trăng đã không biết uống, Bóng chỉ quấn theo ta.

Tạm cùng trăng với bóng, Chơi xuân cho kịp mà!

Ta hát, trăng bồi hồi,

Ta múa, bóng rối loạn.

Lúc tỉnh cùng nhau vui,

Say rồi đều phân tán.

Gắn bó cuộc vong tình,

Hẹn nhau tít Vân Hán.

Tương Như dịch

[4; 67]

 

Biểu tượng mang tính vũ trụ cao nhất trong thơ Lý Bạch để làm trung tâm điểm cho thủy mặc đó là ánh trăng. Càng đặc sắc hơn nếu đó là ánh trăng gắn với hình ảnh quê nhà, bởi trong cách tư duy liên hệ với thiên nhiên vũ trụ, biểu tượng ánh trăng đối với các nhà thơ đó là hình ảnh của thời niên thiếu tung hoành. Lý Bạch từng ngao du trên núi Nga Mi tỉnh Tứ Xuyên thời trẻ, nhìn ánh trăng thu cuồn cuộn vào dòng trường giang. Đỗ Phủ thì cho rằng ánh trăng là ánh sáng từ quê nhà chiếu thăm (nguyệt thị cố hương minh, bài “Nguyệt dạ ức xá đệ). Trong tranh thủy mặc, họa sĩ mô phỏng lại cảnh trí trong thơ ca bằng cách xác định các biểu tượng trung tâm, trong trường hợp tái hiện lại các cảnh trí này thì ánh trăng là một thành tố nghệ thuật không thể thiếu được với chính sắc nền của không gian đêm tối và một mình thi nhân với biết bao niềm vui hoan lạc. Hình ảnh con người hòa mình hòa vào thiên nhân cũng là một chủ đề tư tưởng cốt yếu mà cả thơ lẫn họa Trung Hoa cổ điển đều hướng đến là “thiên nhân hợp nhất”.

Qua biểu tượng trăng, có thể thấy cả trong họa và thơ đều xem trọng yếu tố tiền đề là yếu tố trung tâm điểm nhấn cho toàn diện tác phẩm. Thơ ca cổ điển cốt yếu hướng về tâm cảnh và xúc cảm, đồng thời còn ngụ chỉ “ý tại ngôn ngoại” và trong tranh “ý tại chỉ ngoại” (ý nằm ngoài bề mặt giấy vẽ), nhưng cả hai đều chú trọng yếu tố hình thức đầu đề làm phông nền cho toàn bộ cảnh vật và hoạt động trong tác phẩm của mình. Cả nhà thơ và họa sĩ đều chú ý đến mức độ diễn tả mà chủ thể trung tâm trong tác phẩm sẽ biểu lộ và truyền tải tới người tiếp nhận. Tranh vừa truyền lại hình ảnh, vừa có thể truyền ý từ thơ ca đi ra; thơ ca vừa tạo nên bối cảnh tâm tưởng cho độc giả thông qua hình ảnh biểu tượng, vừa gợi nên tầng nghĩa cho bối cảnh ấy trong cách cảm nhận của người tiếp nhận. Nói chung, đó là tính hai mặt và tương giao giữa thi ca và biểu tượng với hội họa.

3.      Kết luận

Biểu tượng trong thơ ca vốn được xem là yếu tố thi liệu xây dựng nên bố cục hình ảnh trong bài thơ, biểu tượng còn là thành phần nghệ thuật chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa tương quan sâu rộng với nội dung thơ ca rất lớn. Vả lại, trong tranh thủy mặc, tính biểu tượng đi ra từ thơ ca mà họa sĩ qua quá trình tiếp nhận thơ ca và thẩm thấu các tầng nghĩa từ biểu tượng để tạo nên hoạt cảnh chứa cả biểu tượng nghệ thuật đi ra từ tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Chức năng của biểu tượng nghệ thuật dù là ở vị trí nào, trong lĩnh vực nghệ thuật thì cũng đều mang vai trò là thành tố bố cục và nền tảng để các yếu tố nghệ thuật khác củng có dịp phát huy điểm nhấn trong tổng thể một tác phẩm.

 

Tài liệu tham khảo

1        Nguyễn Đức Toàn (2015), Biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(92) – 2015

2        Lâm Từ (2015), Hội họa Trung Quốc, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tp. HCM

3        Nguyễn Đình Phức (2013), Thi pháp thơ Đường, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tp. HCM.

4        Vương Phong, Diêu Đan, Đặng Cẩm Huy (2013), Văn học Trung Quốc, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tp. HCM.

·        Từ Internet

5        Chung Chấn Chấn, bài viết “Giảo định thanh sơn bất phóng tùng – Thanh, Trịnh Tiếp, Trúc thạch, thi từ thưởng tích (咬定青山不放松——·郑燮《竹石》诗赏析钟振振), nguồn: http://www.guoxue.com/?p=35995, truy cập 22/12/2019, 22:21’

trị