Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

Phương pháp viết chữ Hán và phân biệt các thư thể chữ Hán



1.             Phương pháp viết chữ Hán theo qui tắc “Vĩnh tự bát phát” (永字八法)
Phương pháp tự học chữ Hán chính là những phương thức, cách thức tự nghiên cứu, tự tiếp thu chữ Hán theo nhiều dạng thức: viết chữ Hán, làm quen với âm đọc Hán Việt và giải thích nghĩa của chữ. Nói gọn hơn, chính là qui tắc tự học làm quen với chữ Hán qua ba điểm: hình – âm – nghĩa. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu về qui tắc tạo chữ trong chữ Hán, cấu trúc hình thể của chữ Hán chữ Nôm để đề ra một số phương thức, tiếp cận làm quen với chữ Hán – Nôm.

1.1. Phương pháp tập viết chữ
Thứ nhất, trong chữ Hán – với tư cách là văn tự tượng hình được cấu tạo từ các nét cơ bản gồm 10 nét chính. Các nét cơ bản nhất gồm tám nét: chấm, ngang, sổ, chiết, móc, hất, phẩy, mác. Để thể hiện điều này cụ thể hơn trong cùn

g một chữ Hán cụ thể, chúng tôi xin được sử dụng qui tắc “Vĩnh tự bát pháp” (永字八法) – tức tám qui tắc của chữ “vĩnh”. Qui tắc “vĩnh tự bát pháp” này chính là sử dụng một chữ “vĩnh” để có thể thể hiện đầy đủ tám nét cơ bản nhất của chữ Hán theo thể Khải thư, trong bản thân chữ “vĩnh” đã được cấu tạo đầy đủ nhất các nét này như đã trình bày. Theo đó người người học có thể quan sát chữ “vĩnh” làm nền tảng tiếp thu và ghi nhớ các nét của chữ và dần dần luyện tập viết chữ Hán từ đơn giản cho đến phức tạp, theo nhiều phương pháp mà chúng tôi sẽ giới thiệu sau.
Mô hình mô phỏng qui tắc “Vĩnh tự bát pháp”

Trong đó:
(1)                  Nét chấm ()
(2)                  Nét ngang ()
(3)                  Nét sổ (豎)
(4)                  Nét móc (鈎)
(5)                  Nét hất (提)
(6)                  (7) Nét phẩy (撇)
(8) Nét mác (捺)

Chữ “Vĩnh” () viết theo Khải thể

Từ tám nét cơ bản này, các dạng tự hình tự thể chữ Hán dần dần pha trộn với nhau tạo thành nhiều nét khác trong các chữ Hán khó, phức tạp hơn. Thật sự trong lịch sử văn tự học Trung Hoa, các nét cấu thành của chữ Hán ban đầu xuất phát từ những nét vẽ và hình vẽ cơ bản trên Giáp cốt văn (甲骨文) và theo quá trình chuyển biến hình thể của chữ Hán: từ khắc vẽ trên xương thú, mai rùa đến chữ khắc trên đỉnh đồng (金文), đến Triện văn (篆文) và dần đi đến Lệ biến và các dạng tự thể quen thuộc sau này như Hành, Thảo và Khải. Đạt đến một thành tựu đỉnh cao của cách viết Khải thư đã khiến cho hình thể của chữ Hán dần đạt đến mức độ thẩm mĩ cao và khiến cho chữ Hán không còn quá khó học, khó viết và khó nhớ như các dạng tự thể của trước thể Khải thư. Do Khải thư là một thư thể quan trọng trong việc viết và học chữ Hán, cho nên một phần qui tắc chữ Vĩnh này góp phần giúp cho người học mường tượng và nắm bắt rất hữu dụng các nét cơ bản của chữ viết tượng hình đa dạng. Lịch sử thư pháp nước ta từng có những cách định danh khá hoàn chỉnh về các thuật ngữ trong cách viết chữ của quan lại nho sĩ ngày xưa, trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ có khái quát: “Từ đời Lê Trung Hưng trở về sau, những người đi học theo nghề khoa cử viết theo lối chữ khải đời cổ, lại ngoa ngoắt thêm bớt làm sai đi đến nửa phần gọi là lối chữ Nho. Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ “nam”, bởi vì lúc đầu là phòng dân gian làm giả mạo, cho nên mới theo hoa văn mà đặt ra một lối chữ việc quan. Ai học theo lối chữ ấy thì sáu năm một lần thi trúng tuyển được sung vào làm chân thư tả ở trong các nha môn.” [Phạm Đình Hổ; 52]. Như thế, không chỉ riêng Trung Hoa – đất nước khởi nguồn của chữ Hán, Việt Nam ta tuy chịu ảnh hưởng và sử dụng văn tự Hán nhưng cũng rất đề cao tinh thần thư nghiệp, xem chữ viết là một dạng thức văn hóa tinh thần và cách viết chữ, thể chữ viết đã tạo nên bản sắc rất riêng trong vốn văn hóa dân tộc.

Theo bài giảng “Hán văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú dẫn ra từ sáu nét cơ bản như trên và thêm “những nét phức hợp” bao gồm tám nét khác: “nét ngang móc; nét ngang gấp; nét ngang gấp móc, nét ngang gấp hất; nết sổ hất; nét sổ móc, nét sổ gấp móc; nét mác móc” [18; 3]. Căn cứ theo các nét phức hợp này, chúng ta có các chữ Hán sau nhằm mô phỏng các nét phức hợp này.
Chữ Hán
Âm đọc
, , , (nét ngang móc, nét chấm, ...)
Bảo, gia, ái, quán
, , (nét sổ móc, nét chấm, nét ngang, nét sổ dọc,...)
Thi, thôn, lợi
, , (nét sổ gấp móc, ngang gập, phẩy,...)
Sắc, quan, huynh
Minh họa các nét phức hợp trong các chữ Hán hợp thể

Qui tắc “Vĩnh tự bát pháp” này cũng là một trong những cách giúp cho người học chữ Hán ban đầu nắm bắt nên cách viết chữ Hán theo nét theo thứ tự. Theo đó, ta có những phương pháp viết chữ Hán theo trật tự nhất định. Từ tổ hợp các nét bút thành một chữ Hán trong một khối vuông nhỏ nhắn đương nhiên phải sử dụng các nét bút khác nhau và dùng nhiều phương pháp liên kết, sắp xếp chúng lại với nhau để làm sao hình dáng của chữ vừa cân xứng, cân đối và tạo được tính thẩm mỹ.

1.2. Qui tắc bút thuận
Khi thực hành viết chữ Hán, Nôm tất yếu phải tuân theo qui tắc bút thuận. Bút thuận là một qui tắc được đặt để áp dụng cho các viết chữ Hán theo Khải thư, trong đó được qui định rất chặt chẽ cách viết theo qui luật có trên, có dưới; trái sang phải và trong ra ngoài. Ta có “bài ca bút thuận” được trích từ công trình tổng hợp “Chữ Hán Trung Quốc” (中国汉字) của Hàn Giám Đường (Trung Quốc) đã lược dịch như sau:
Viết chữ phải ghi nhớ bút thuận,
Nắm vững qui tắc bút có thần.
Ngang trước sổ sau trên rồi dưới,
Phẩy trước mác sau trái sang phải,
Viết xong chính giữa rồi hai bên.
Phải để chính giữa to và đậm,
Từ ngoài vào trong phải ghi nhớ
           Vào nhà trước rồi mới đóng cửa.”   [8;76]
Văn bản chữ Hán và Hán ngữ hiện đại có mối liên hệ thân sơ khá quan trọng, trong đó điểm chung nhất giữa hai loại hình này chính là yếu tố chữ viết. Văn bản Hán văn trong Văn ngôn sử dụng chữ Hán Phồn thể (繁體), văn bản Hán ngữ trong Bạch thoại sử dụng đa phần là chữ Hán Giản thể (简体). Hai loại hình này tiếp thu và bổ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ, cho nên việc tiếp thu chữ viết cũng không nằm ngoài phạm vi luyện tập chữ viết. Ở đây, chúng tôi tiếp thu một phần lý thuyết trong các tài liệu giảng dạy Hán ngữ hiện đại để làm cơ sở dẫn giải nên các yếu tố phương pháp luyện tập viết chữ Hán trong học phần Hán Nôm. Về cơ bản, chúng tôi xin đưa ra ban điểm cần chú ý trong khi tuân thủ qui tắc viết bút thuận trong khi luyện tập viết chữ Hán như sau:

(1) Khi viết các nét cơ bản (chấm, mác, hất, ngang, sổ,...) cần xác định điểm bắt đầu và điểm kết thúc trong cùng một nét. Đối với các nét cần có sự uyển chuyễn trong chiều dài của một nét cần chú ý đến độ nhấn bút và cự li mãnh khảnh của nét bút để tạo nên sự hài hòa “chủ khách” trong đường đi di chuyển của nét bút.
(2) Tập viết chữ Hán ban đầu nên theo Khải thư. Khải thư là một trong năm thư thể chính của chữ Hán, nét của khải thư đơn giản và tinh gọn không như Thảo và Triện. Vì thế, khi tập viết chữ Hán có thể sử dụng bảng “mễ tự cách” để luyện tập viết chữ trong một ô vuông nhất định. Mễ tự cách (米字格) hay còn gọi là “mễ tự bản” (米字本), “điền tự cách” (田字格) bảng ô vuông được kẻ viềng theo dạng tự hình chữ “mễ” (), “điền” () để phân chia các khu vực bộ phận của chữ Hán theo bố cục và giúp người tập viết chữ ban đầu đạt được hiệu quả về sự cân đối nét chữ cũng như hình thể.

Bảng “mễ tự cách” dùng tập viết chữ Hán – Nôm

Các chữ Hán được thể hiện trong bảng “mễ tự cách”
 theo Khải thư

Chữ “vĩnh” () được thể hiện trong trật tự của “mễ tự cách”
Bảng “Mễ tự cách” dùng trong luyện viết chữ Hán

Chữ Hán hiện nay theo hình khối vuông, đa số được viết theo chuẩn Khải thư, và hình thể của chữ chính do các nét bút cơ bản và những nét bút biến thể cấu thành. Các nét bút của chữ Hán không có hình tròn như chữ Hàn Quốc hay chữ Nhật Bản, chữ Hán cũng rất ít hình vòng tròn, duy chỉ có nét phẩy và nét mác là có độ cong nhất định. Nhìn chung cơ bản là đường thẳng, cho nên khi áp dụng qui tắc bút thuận và luyện tập viết chữ trong “mễ tự cách”, người học cần hết sức chú ý đến độ vuông của chữ và độ thẳng của nét chữ. Nắm vững qui tắc về nét, qui tắc bút thuận thì việc thực hiện tốt bài tập đánh số nét và xác định số nét của chữ Hán, Nôm rất thuận tiện và dễ dàng. Xác định đúng số nét của chữ là cơ sở để có thể sữ dụng tốt tự điển Hán – Nôm tra cứu các âm, hình dáng, nghĩa của chúng.

2.  Phân biệt các thư thể chữ Hán
Thư thể (書體) chính là các dạng chữ viết hay các kiểu chữ của chữ tượng hình được thể hiện khác nhau trong chữ Hán và chữ Nôm qua các thời kỳ hình thành và phát triển của các cách viết qua các triều đại sử dụng chữ tượng hình. Đối với chữ Hán, các thư thể đã trải qua quá trình hình thành từ chữ tượng hình thuở ban đầu trên Giáp cốt (甲骨) rồi Kim văn (金文). Cho đến ngày nay chữ Hán – Nôm đã được định hình và hiện thị như trên văn bản tin học. Các thư thể chính đó là: Triện thư (篆書), Lệ thư (隸書), Khải thư (楷書), Hành thư (行書), Thảo thư (草書).

Theo tác giả Trần Đình Hữu (Trung Quốc) thì “các kiểu chữ thường dùng của thư pháp Trung Quốc có khoảng 10 loại” [Trần Đình Hữu; 20]; trong đó các thể chữ Khải – Hành – Thảo là những thư thể thường dùng trong cuộc sống hằng ngày trong các văn bản viết tay, các dạng tự thiếp của thư pháp và thể hiện trong mỹ thuật. Các thư thể còn lại rất ít sử dụng , chỉ còn có thể bắt gặp trong nghệ thuật viết thư pháp Hán Nôm, trong đó Triện thể còn được sử dụng để khắc dấu ấn cho đến ngày hôm nay. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu và trích yếu từ góc độ thư pháp xin trình bày mô phỏng một số đặc điểm của các thư thể sau:
2.1.        Khải thư (楷書)
Đây là kiểu chữ thông dụng và ổn định sử dụng lâu dài nhất trong chữ Hán cũng như chữ Nôm. Đặc điểm của Khải thư là nét chữ chuẩn mực, bố cục nghiêm ngặt, tốc độ viết các nét chữ tương đối chậm. Hình dáng dễ nhìn và rất dễ phân biệt, chữ Khải thường dùng trong các văn bản hành chính, các sắc phong của triều đình phong kiến, bia mộ chí, các ấn phẩm sách vở.
漢喃字典

Thể chữ Khải thư được sử dụng trong in ấn và trên màn hình máy tính hiện nay
 Chữ Hán Khải thể mô phỏng theo phong cách của
 nhà thư pháp Liễu Công Quyền đời Đường

  2.2. Hành Thư (行書)
Hành thư xuất hiện sau khải thư, xuất phát từ nhu cầu ghi nhanh với một tốc độ vừa phải nhưng rất đảm bảo hiệu quả mĩ thuật trong đường nét. Hành thư là thư thể đứng giữa cân đối giữa Thảo và Khải thư; giữa các nét bút thường có sự liên đới nhất định, vận bút đơn giản nhẹ nhàng và tương đối dễ nhận dạng mặt chữ. Hành thư thường dùng trong việc viết thư tay hằng ngày và các biển chữ cần tạo nên cá tính nghệ thuật. Tác phẩm “Lan đình thiếp” 蘭亭帖của Thư thánh Vương Hy Chi 王羲之 là một trong những tác phẩm thư pháp về chữ Hành thư mẫu mực hiện nay còn lưu giữ tại bảo tàng Cố Cung Bắc Kinh Trung Quốc.
                                                                                                         [Trần Đình Hữu;11]
Hình 10: Tác phẩm Lan Đình tự tập (蘭亭帖)
kiểu chữ Hành thư của Vương Hy Chi (Phùng Thừa Tố đời Đường mô phỏng)
2.3. Thảo thư (草書)
Thảo thư là cách viết kết hợp giữa các nét chữ bằng một nét liền bút và hầu như rất ít có sự hồi phong (hồi bút), Thảo thư chủ trương giản lược các nét của chữ viết đến mức tối giản nhất. Cách viết của Thảo thư đã “phá vỡ đi hình khối vuông của chữ Hán, đường nét múa uốn lượn, nét bút nối liền, sinh động mà khí thế” [8; 46]. Thảo thư có nhiều cách viết thể hiện khác nhau, tùy định tính nghệ thuật của người viết. Thực sự, thảo thư là cách viết do tự hình thành trong quá trình đào luyện chữ viết, trong quá trình đó con người theo đuổi tính mĩ học trong đường nét của bút lông và mực mà tạo nên Thảo thư. Các loại Thảo thư thường gặp là Cuồng Thảo, Chương thảo và Kim Thảo. Một trong những tác phẩm chữ Hán được viết dưới dạng Thảo thư – Cuồng thảo nổi tiếng nhất trong lịch sử Thư pháp đó là “ Tự tự thiếp” của Hoài Tố (đời Đường) hiện còn đang lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc – Đài Loan.
Một phần tác phẩm “Tự tự thiếp” kiểu chữ Cuồng thảo
của Hoài Tố, đời nhà Đường [Trần Đình Hữu; 79]

2.4. Triện thư (篆書)
Sau khi kết thúc giai đoạn Giáp cốt văn và Kim văn, chữ Hán bắt đầu có sự tiến triển thành thư thể thống nhất, trong đó Triện thư là thư thể được bắt đầu sử dụng chính thức vào đời nhà Tần, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ trong đó có chữ viết và các đơn vị đo lường. Triện thư bao gồm hai loại: tiểu triện và đại triện. Tiểu triện “là một thể chữ rất đẹp , hình thể chữ nhật vuông vức, kết cấu đối xứng ngay ngắn, nét bút tròn lượn tuyệt đẹp, nét đậm nét nhạt nhìn vô cùng đẹp mắt” [8; 38], và tiểu triện chính là thư thể được sử dụng chính vào đời Tần. Trong đó, nếu truy ra nguồn gốc thì chữ trên Giáp cốt chính là nguồn gốc của Triện thư sau này. Hiện nay, chữ Hán ngày càng giản thể hóa “Triện thư sẽ rất khó nhận biết mặt chữ, nhưng lại mang một sức hấp dẫn về nghệ thuật và cảm giác thần bí” [Trần Đình Hữu; 21], riêng ngày nay, chữ Triện vẫn còn sử dụng để khắc trên con dấu thư pháp, ấn chương thư họa. Bia tiến sĩ ở Văn miếu Hà Nội đa phần có khắc chữ Triện trên phần đầu đề của bia đá nhằm tạo cảm giác trang trọng và tính thẩm mĩ sang trọng.
Bản dập chữ Đại triện
Các ấn chương sử dụng trong thư họa

2.5. Lệ thư (隸書)
Lệ thư là thư thể phát triển nên từ dòng dõi của Triện thư, và là thế hệ thứ hai của Triện thư. Lệ thư chủ yếu sử dụng rộng rãi từ đời nhà Hán, nét bút của Lệ thư bắt đầu chuyển biến từ độ dày của chữ Triện sang nét mảnh và có hình dáng “đầu tằm đuôi én”. Hình dáng của Lệ thư hơi dẹp và có độ rộng hẹp nhất định. So với các thư thể khác thì Lệ tương tự như Triện được dùng khắc trên thẻ tre (竹簡 trúc giản) và trong nghệ thuật thư pháp là chủ yếu.
 Thư pháp viết mô phỏng theo Lệ thư

Nhìn chung, đa số ngày nay ở Việt Nam ta ngoài giới nghiên cứu Hán Nôm và những nhà thư pháp am tường về các thư thể này. Cho nên việc sinh viên ngành Văn học khi học học phần Hán Nôm chưa thể phân biệt được đâu là Khải thư và Thảo thư như trong khảo sát thì cũng là bình thường. Bởi để có thể nhận dạng các thư thể này cần có niềm đam mê nghiên cứu chữ Hán, Nôm và các dị dạng hình thể cũng như quá trình biến đổi của nó. Và một phần các thư thể này có liên quan mật thiết với việc tin học hóa Hán Nôm cũng như nghệ thuật thư pháp.

Tài liệu sử dụng tham khảo:

1.  Phạm Đình Hổ (2012), Vũ Trung Tùy Bút – Đông Triều dịch, NXB Hồng Bàng – NXB Trẻ, thành phố HCM.
2.  Trần Đình Hữu (Trung Quốc2012), Thư pháp Trung Quốc, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh – NXB Truyền Bá Ngũ Châu Trung Quốc, thành phố HCM









Không có nhận xét nào: