NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG CÂU ĐỐI CHỮ HÁN Ở NAM BỘ (*)
Tóm tắt
Văn
hóa Hán học đã tồn tại trên mảnh đất Nam bộ từ rất lâu, từ khi lớp lưu dân người
Việt đến phía cực Nam Tổ quốc khai hoang lập ấp. Dấu ấn của văn hóa Hán học bằng
chứng còn tồn tại từ rất lâu là ở các đình chùa miếu mạo ở Nam bộ vẫn còn: hệ
thống giá trị hoành phi, câu đối ở Nam bộ là phương tiện để những người có đam
mê với văn hóa cổ học tìm và tiếp xúc với khoa học bác học Hán văn trong mối
liên đới giữa lịch sử, văn hóa vùng và cộng đồng dân tộc cùng sử dụng chung chữ
Hán thời xa xưa. Riêng câu đối chữ Hán – một đối tượng bất khả luận bàn khi nhắc
đến hệ thống giá trị bác học và mĩ học trong sinh hoạt tâm linh, văn hóa ở Nam
bộ. Câu đối còn là một phần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con
người đất cực Nam. Từ hôn lễ, tang lễ đến thờ tự linh thiêng đều dùng chữ Hán
và câu đối làm phương tiện giao tiếp với các đấng siêu nhiên trong tâm thức tín
ngưỡng. Nhìn nhận về sự quan trọng và ý nghĩa thiết thực trong mục đích sữ dụng,
trong bài viết này, tôi sẽ trình bày lần lượt từ hệ thống đến chi tiết các cách
sử dụng cũng như đặc sắc nghệ thuật sử dụng câu đối chữ Hán ở Nam bộ bằng một
góc nhìn độc đáo.
Nam bộ là vùng đất màu mỡ về nông nghiệp, về một nền văn minh lúa nước của
dân tộc Việt Nam vốn cần cù chăm chỉ và yêu lao động. Đồng thời, Nam bộ cũng là
vùng đất mới, tuy ít chịu ảnh hưởng của lễ nghĩa phong kiến nhưng ở Nam bộ văn
hóa Hán học phần nào thể hiện tinh thần trọng chữ nghĩa và trọng đạo đức của
con người Nam bộ xưa và nay. Qua nghệ thuật sử dụng câu đối chữ Hán - như một
nét biểu trưng về một nền văn hóa đặc sắc hiện còn lưu lại với sự gìn giữ, tôn
trọng và nâng niu trong tâm thức văn hóa của con người Nam bộ.
Tìm hiểu về văn hóa và nghệ thuật sử dụng câu đối chữ Hán ở Nam bộ đồng
nghĩa với việc khai thác những giá trị đặc trưng về một số tư liệu viết bằng chữ
Hán sớm đã xuất hiện ở Nam bộ trong các công trình kiến trúc xưa cổ (Đình,
chùa, miếu,...). Những giá trị đặc trưng đó cũng một phần thể hiện sự tài hoa
trong sáng tác các thể văn cổ của tiền nhân, và cũng là diện mạo văn hóa tín
ngưỡng của người Nam bộ trong các dịp lễ tết, đình đám hội hè,... Nói cách
khác, câu đối như một cách giới thiệu vừa kín đáo vừa trang nghiêm về sự kính
trọng các đấng thần linh trong văn hóa tín ngưỡng ở Nam bộ. Nhưng điều này thể hiện cho quan niệm thiết thực hơn
nữa về tinh thần trọng chữ thánh hiền, đề cao cái đẹp trong tâm thức của người
sử dụng câu đối chữ Hán.
1. Tên gọi câu đối
Chữ Hán là thứ chữ mà người Nam bộ cho rằng đó là loại chữ sử dụng trong đạo
Nho, trong cách nói nho nhã và bác học. Về tên gọi của chữ Hán ở Nam bộ cũng có
nhiều cách định danh nó, chẳng hạn có số người gọi là “chữ Tiều” bởi vì danh từ Tiều
để chỉ đại bộ phận người Hoa thuộc nhánh Triều Châu (từ Tiều do từ Triều 潮 đọc chạy mà ra) sử dụng; có người gọi chung nó là chữ
Tàu, để chỉ chung cho người Tàu – tức người Hoa nói chung (bao gồm các nhánh người
Hoa sinh sống tại Nam bộ như Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hoa Nam, người
Hẹ,... Cho nên, nó có số tên gọi nhiều như vậy nên người Nam bộ trong việc sử dụng
câu đối chữ Hán họ vô tình qui cho nó nhãn mác gắn với tên mà họ đặt ra như: Liễn chữ Tiều hay liễn chữ Tàu,... hoặc có một cách định danh khác như “bộ liễn” hay “cặp/câu liễn” dùng để gọi tên bộ đôi câu đối được dán trên vách hay
trên cột nhà. Và từ “liễn” là từ được tách ra từ cụm trong nguyên văn chữ “Đối
liên” (對聯);
trong đó chữ “liên” đọc chạy âm thành chữ “liễn” như tên gọi “bộ liễn” hay “cặp
liễn” như ta thường hay sử dụng. Do đó, tùy vào cách gọi tên
chữ Hán trong cách định danh của người phương nam mà họ gán ghép với tên của loại
câu đối ấy, làm nên một bản sắc ngôn ngữ đa dạng của Nam bộ khi có sự cộng hưởng
của các dân tộc cùng sinh sống với nhau.
2. Phân loại theo mục đích sử dụng câu đối
Câu đối vốn là kho tàng văn hóa chữ nghĩa phong phú, cho nên câu đối được
phân loại theo nhiều khía cạnh khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Văn Hoài trong
bài viết “Câu đối và câu đối Tết – một thú
chơi tao nhã của người xưa”thì ông chia ra thành 10 loại
câu đối, trong đó cách tiếp cận đó là phân loại theo nội dung câu đối dựa vào
hai công trình nghiên cứu câu đối của Trung Quốc. Nhưng trong cách phân loại được
cho là dễ dàng nhận dạng nhất ở Nam bộ khi họ sử dụng là ở mục đích sử dụng câu
đối, thiết nghĩ trong tư duy bộc trực, trực tiếp của con người Nam bộ thì khi họ
gặp phải tình huống, sự việc gì thì họ định danh sự vật hiện tượng theo tên của
nó. Chẳng hạn, trong cưới hỏi thì họ sử dụng câu đối chúc mừng, báo tin hỷ (Hôn
liên: 婚聯), hay còn gọi một cách gần
gũi trực tiếp hơn là “liễn đám cưới”. Theo đó, trong bài nghiên cứu này, xin được
tiếp cận phân loại câu đối theo mục đích sử dụng ở Nam bộ để cho thấy được sự gần
gũi trong văn hóa ăn ở, sinh hoạt của con người phương Nam.
2.1. Câu đối thờ tự
Đối với người dân Nam bộ, bàn thờ là nơi linh thiêng và được tôn trọng nhất,
cho dù đó là bàn thờ gia tiên, gia thần ở trong gia đình cho đến các bàn thờ của
các vị thần thánh ở các đình, miếu – nơi ngoại vi không phải là trong ngôi nhà.
Cho nên việc chọn và sử dụng câu đối đặt trên bàn thờ là việc hết sức hệ trọng,
việc chọn lựa này trước tiên phải mang tính ý nghĩa trang nghiêm về nội dung ca
ngợi và tính lâu dài về hình thức sử dụng.
Theo quyển “Tập tục dân gian Việt Nam”(tác
giả Anh Minh biên soạn), có đoạn chép mô tả về bàn thờ gia tiên của người Việt
như sau: “Bàn thờ riêng của từng gia đình
còn gọi là Gia từ {...}.Những gia đình giàu có mới xây nhà thờ riêng cho gia
đình. Còn phần lớn, bàn thờ gia tiên được thiết lập ngay ở gian giữa nhà chính.” [1:14]
Bàn thờ mang một ý nghĩa tâm linh quan trọng, là
nơi kính cẩn của con cháu trước ông bà, tổ tiên – những người đã khai sinh nên
con người, đất đai địa trạch,... và cả thế hệ mai sau. Chẳng hạn:
Chữ Hán: 天之有日月光照十方
人之有祖宗留垂萬世
Phiên âm: Thiên chi hữu
nhật nguyệt quang chiếu thập phương
Nhân chi hữu tổ tông lưu thùy vạn
thế.
Tạm
dịch: Trời
cao (thì) có ánh nhật nguyệt chiếu rạng rỡ,
Người (thì) có tổ tông truyền đời vạn kiếp.
Đặc biệt, trong cách bày trí câu đối thờ gia tiên ở các gia đình Nam bộ thường
sẽ được lồng vào một bức bình phong bằng kính. Trên bức bình phong ấy là hai
câu đối hai bên, ở chính giữa thường đề bốn chữ đại tự theo thể chữ Khải: “九玄七祖” (Cửu huyền thất tổ), ở trên là thường có đề các dạng
hoành phi bốn chữ như 德流光 (Đức
lưu quang) nghĩa là “Đức sáng muôn đời”, hoặc 福满堂 (Phúc mãn đường) nghĩa là “Phúc đầy nhà”. Trước nhằm đề cao trời đất, đấng
thiên địa siêu nhiên làm nơi dung chứa con người (yếu tố “Thiên”(天) – “Nhân” (人), cũng nhân đó đề
cao tinh thần hiếu hạnh và tôn trọng tổ tiên, ông bà. Ngoài ra, cũng có một số
nội dung khác như ca ngợi tinh thần ái quốc, khuyến khích con cháu đời sau học
hành chăm chỉ,...
Theo tài liệu nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (tại tp.HCM) năm
2000 khi nghiên cứu mối quan hệ và sự giao lưu văn hóa của các dân tộc ở Sóc
Trăng cũng có ghi chép một trường hợp rất đặc biệt: “Còn trong ngôi nhà của người Khmer lai Hoa, thì ngay gian giữa lại bày
trí bàn thờ tổ tiên với di ảnh lồng kính và đôi câu đối Hán tự với nội dung nói
về công ơn sinh thành, dưỡng dục tổ tiên, cùng với lư hương”[3:7]. Như vậy, cho thấy được sức ảnh hưởng của
tinh hoa Hán học xuất phát từ tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc được
chuyễn tải qua nội dung của câu đối và ảnh hưởng không chỉ trong phạm vi người
Việt mà cả trong văn hóa tín ngưỡng, tâm linh ba dân tộc chủ yếu ở Nam bộ.
2.1.2. Câu đối thờ
gia thần
Tín ngưỡng thờ gia thần của người Nam bộ rất đa dạng
và phong phú. Thường theo quan niệm mang tính tự do và phóng túng và cũng rất
chặt chẽ như “có kiêng có lành” mà người Nam bộ thờ gia thần ở những vị trí
khác nhau trong ngôi nhà; cũng một phần “nhờ
các vị thần này nên các hồn ma quỷ không xâm nhập được để quấy nhiễu gia đình” [1:23].
Gia thần trong ngôi nhà người Nam bộ rất đa dạng, và họ thờ cũng nhằm vào
những mục đích rất thiết thực. Và ở những vị trí thờ tự này, câu đối cũng có phần
“khiêm tốn” hơn về kích thước, vì những nơi này diện tích không được nhiều, thường
là những mảnh giấy được viết những lời mong cầu hay câu văn dạng ngôn văn (Hán
tự) trên giấy đỏ và mực nhủ đồng. Chẳng hạn, bàn thờ Thần tài thường có mảnh giấy
ghi bốn chữ “招財進寶” (Chiêu tài tiến bảo), “天官賜福” (Thiên
quan tứ phúc).
2.1.2.1. Bàn thờ thần Tài
Trong các gia đình người Hoa, người Việt có dạng bàn thờ
thần Tài rất độc đáo và có những câu đối cầu may mắn, tài lộc:
Nguyên
văn chữ Hán: 神財到
財神送寶迎家門
年年好運發大財
年年好運發大財
Phiên âm: Thần Tài đáo
Tài thần tống bảo nghinh gia môn,
Niên niên hảo vận phát đại tài.
Bàn thờ Tài thần là nơi mà người ta cho rằng tích tụ và phát tán tài lộc
cho gia đình, mang lại sự phát đạt. Cho nên một số bàn thờ người ta có dán chữ
“Phúc” hay cả ba bộ “Phúc – lộc – thọ” biểu trưng cho may mắn trọn vẹn.
2.1.2.2. Câu đối bàn thờ Táo quân
Táo quân là tên gọi chung cho ba vị thần cai mà dân gian ta có sự tích về
“gia đình” ông Táo có hai người chồng và một bà vợ, chuyên quản việc bếp núc,
kiêm luôn việc trông coi sinh hoạt trong gia đình. Đa số các gia đình ở Nam bộ
thường thay liễn thờ (câu đối) vào ngày đưa ông Táo về trời (ngày 23 tháng chạp
âm lịch),ngày này cũng là ngày chỉnh chu bàn thờ, bếp núc chuẩn bị đón năm mới.
Chữ Hán: 有德能司火
/ 無思可達天
Phiên
âm: Hữu đức
năng ti hỏa / Vô tư khả đạt thiên
Tạm
dịch: có Đức thì có thể
bao quản việc bếp lửa,
(Chí công) Vô tư thì được lên trời bẩm báo.
Trong quan niệm dân gian người Hoa về vị gia thần này có điểm rất thú vị, họ
cho rằng ông Táo là vị thần hay mách lẻo, nên mọi việc tốt xấu trong nhà năm cũ
đều tâu lên Ngọc đế, nên ngày đưa ông Táo thường là người Hoa Quảng Đông (hay
còn gọi là người Quảng) dâng cúng rất nhiều thức ăn ngọt. Chẳng hạn như xôi,
chè, thèo lèo,... nhằm cho vị thần này ăn để
khan cổ, tắt tiếng không thể tâu việc không tốt, cho nên mới có câu đối “Thượng thiên ngôn hảo sự” như trên.
Nói chung, gia thần và những tín ngưỡng thờ gia thần trong đó có câu đối –
như một công cụ giúp cho việc thờ cúng trở nên trang nghiêm và cũng là tấm lòng
mà người dân Nam bộ mong ước bình an, tốt đẹp nhất gửi gắm đến các vị thần
linh.
2.1.3. Câu đối ở chùa,
miếu
Chùa ở Nam bộ là nơi sinh hoạt cộng đồng tập thể, là nơi gặp gỡ nhau của
các Phật tử sau mỗi kì cúng kiếng, lễ lộc. Đa số chùa ở Nam bộ theo hệ phái Đại
thừa (hay còn gọi là hệ Bắc tông), số ít là chùa của người Khmer(phái Tiểu thừa
– Nam tông), nhưng chùa theo phái Bắc tông hội tụ đầy đủ bản sắc văn hóa nhiều
nhất, trong đó chứa đựng tinh thần nhân đạo, nhân văn của nhà Phật. Chùa Hội
Linh (ở thành phố Cần Thơ là một điển hình tiêu biểu) với nhiều hoành phi, đối
liễn đẹp về hình thức, ý nghĩa về nội dung. Chẳng hạn:
Ở cổng chính của chùa: 會出神洲五百高僧常自在
靈明聖境三千大覺任如来
Phiên âm: Hội xuất thần châu ngũ bách cao tăng thường tự tại,
Linh minh
thánh cảnh tam thiên đại giác nhiệm Như Lai.
Dịch nghĩa: Nơi lễ
hội lộ ra thần châu, năm trăm vị cao tăng thường tự tại,
Ánh linh tỏ sáng thánh cảnh, ba
ngàn kẻ đại giác giống Như Lai. [3:94,95]
Và rất nhiều câu đối, hoành phi khác trong cổ tự, trong đó có mười hàng cột,
với mỗi hàng cột là một cặp câu đối khác nhau. Về nội dung, mang ý nghĩa ca ngợi
tinh thần đạo Phật, tư tưởng thoát tục giác ngộ; khuyên con người tránh mê lầm
hướng thiện; cũng như tưởng nhớ các vị Phật trong quá khứ và tương lai. Về hình thức thường là câu đối
có số lượng trên 10 chữ Hán, gọi là câu đối lối Song quan (có từ 6 tới 9 chữ trở
lên), và hiếm khi gặp dạng lối đối thơ (dạng thất ngôn) 7 chữ hay 4 chữ.
Ở miền Nam, đình cũng là nơi có chức năng tương đương như chùa, như hội
quán – là nơi sinh hoạt cộng đồng, gặp gỡ cộng đồng dân tộc, ví dụ như hội quán
người Hoa, nhằm cầu an cầu phước lành. Một số câu đối ở đình miếu, hội quán Nam
bộ thường là những câu đối lối Song quan,
thí dụ như Long Tuyền cổ miếu (龍泉古廟) hay còn gọi là Đình Bình Thủy (Cần Thơ) là một trong những
điển hình cho văn hóa chữ Hán còn tồn tại từ những ngày cư dân mở đất lập đền,
lập ấp đến ngày hôm nay. Ngoài cổng tam quan ta thấy ngay hai cột bằng đá lớn với
hàng câu đối:
Chữ Hán: 古廟建尊厭平水人民崇俊傑
今門增壯麗龍泉鄰邑出英雄
Phiên
âm: Cổ miếu kiến tôn nghiêm
Bình Thủy nhân dân sùng tuấn kiệt,
Kim môn tăng tráng
kiện lệ Long Tuyền lân ấp xuất anh hùng.
Dịch nghĩa:
Miếu xưa dựng tôn nghiêm nhân dân Bình Thủy tôn sùng tuấn kiệt,
Cổng nay thêm tráng lệ, các ấp Long Tuyền xuất
hiện anh hùng.[3:73]
Điểm qua câu đối này, cho thấy tài năng sáng tác câu đối của các bậc tiền
nhân ngày xưa, kèm theo tài năng sáng tạo ấy là mong mỏi của thiết thực của
nhân dân vào những ngày đầu khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó
khăn do rừng thiêng nước độc, thú dữ,... gây ra cho những người khai khẩn, tiếp
tục công cuộc “Nam tiến” và được rạng rỡ như ngày hôm nay.
Câu đối ở Hội quán Quảng Triệu đa dạng sắc màu văn hóa tâm linh, nhưng chủ
đạo nhất là nội dung bày tỏ lòng thành kính của cư dân Hoa kiều đối với đức
Quan Công. Thí dụ như ở hàng cột thứ năm, nới chính điện có câu đối như sau:
Chữ Hán: 萬古桃園生秀色
千秋義武見英風
Phiên âm: Vạn cổ đào
viên sinh tú sắc /Thiên thu nghĩa vũ kến anh phong.
Dịch nghĩa: Vườn đào muôn đời
sinh sôi tươi đẹp,
Nghĩa vũ ngàn
thu tỏ phong thái tài hoa. [3:59]
Ngoài những nội dung ca ngợi đức
Quan Công Thánh đế, nhắc nhở về những điển tích về vị thần này trong truyện Tam
quốc chí,... thì thể hiện sự tu chí làm ăn của người Hoa, khi đến vùng đất mới
này phải luôn nhớ về cố quốc. Và điểm thú vị không chỉ ở những ngôi chùa, miếu
của người Hoa là những bức tranh vẽ lại nững vị tiên, thần thánh trong văn hóa
dân gian Trung Hoa, như “Bát tiên quá hải” (八仙過海 – tám vị tiên qua biển); “Tứ hải
Long vương” (四海龍王),... nhằm giới thiệu một cách kín đáo nền văn học, thần
thoại cổ xưa của Trung Hoa.
2.1.4. Câu đối sử dụng trong hôn lễ, tang lễ
Cưới hỏi là dịp trọng đại trong gia đình, đôi khi nhiều gia đình còn coi trọng
nó hơn cả ngày Tết Nguyên đán. Ví dụ như chọn ngày giờ rước dâu, ngày xưa thì
bà mối là người liên kết cho hai bên nhà trai và nhà gái,... và trong đó có câu
đối đám cưới – vật không thể thiếu trong bất kì đám cưới nào của người Nam bộ.
Thường theo thông lệ của người Việt, chiều ngày nhóm họ nhà trai phải dán liễn
trước nhà, chuẩn bị rạp cưới, dọn mâm cơm cáo gia tiên về việc cưới xin cho
con, cháu của mình. Có chỗ thì trước ngày nhóm họ hoặc ngày ăn hỏi thì chú rể
phải là người mang liễn (câu đối) đến dán ở cửa trước nhà gái.
Câu đối đám cưới thường có nội dung rất đa dạng, phổ thông nhất vẫn là dạng
câu đối 7 chữ thường thấy ở Nam bộ, được viết trên giấy đỏ và mực nhủ đồng lấp
lánh ánh kim tượng trưng cho màu tươi mới của nhân duyên trai gái. Đối tượng được
phản ánh trong câu đối cưới là những linh vật, sự vật thường có đôi, đi cặp với
nhau như: 龍鳳(Long – phụng: Rồng – phượng),
鴛鴦(Uyên ương),... nhằm chúc phúc, chúc hỷ cho đôi tân
giai nhân và hai họ.
Chữ Hán: 鸞鳳和鳴
二姓聯婚成大禮 / 百年偕老岳長春
Phiên
âm: Loan phụng hòa minh
Nhị tính liên hôn
thành đại lễ / Bách niên giai lão lạc trường xuân.
Tạm
dịch: (Chim)
Loan Phượng cùng hòa tiếng
Hai họ (làm) thông
gia thành đại lễ,
Trăm năm cùng nhau
(đầu bạc răng long) kéo dài xuân.
Câu đối trong hôn lễ ở Nam bộ thường được sử dụng một cách liên đới, có
nghĩa rằng không chỉ những hai họ trai, gái đều có dán câu đối nhằm thông báo
và để cho bà con, họ hàng biết rằng gia đình đang có hỷ sự. Người Nam bộ rất
tinh tế, ví như hôn lễ thì sử dụng câu đối đỏ, mực nhủ vàng; tang lễ thì câu đối
giấy màu trắng, mực đen – biểu trưng cho sự buồn bã tang tốc. Qua việc này, cho
thấy óc thẩm mĩ hay quan niệm duy mĩ của người Nam bộ rất tinh tế, tôn trọng chữ
nghĩa để làm nền tảng cho vẻ đẹp bản sắc văn hóa được giữ gìn.
Câu đối tang lễ về hình thức có số lượng chữ tương đương với câu đối trong
hôn lễ (7 chữ), nhưng về nội dung thì trái ngược hoàn toàn. Câu đối tang sự nhằm
nêu lên tình cảm xót thương, tiếc nuối của gia chủ về người thân đã khuất, nhắc
nhở công lao của người đã khuất.
Chữ Hán: 望雲思親
一跪四拜三上香 / 對靈雙流兩行淚
Phiên
âm: Vọng
vân tư thân
Nhất quì tứ bái tam
thượng hương / Đối linh song lưu lưỡng hàng lệ
Tạm
dịch: Nhìn
mây nhớ người thân
Một quì, bốn lạy ba nén hương / Đối
diện anh linh hai hàng nước mắt chảy.
Ngoài việc bày tỏ lòng thương tiếc với anh linh người đã khuất, câu đối là
nơi mô tả - diễn giải các nghi thức dùng trong đám tang ma. Như câu đối trên, hai
cặp từ “nhất quì”(一跪), “tứ bái”(四拜) cho thấy việc qui định số lần bái lạy trong tang
lễ đối với thân nhân người đã khuất; hình ảnh “vọng vân” tức nhìn mây hay chăng
chữ vân (雲) đó cũng có thể là khói hương tạo thành dòng mây
chỉ nẻo cho người về nơi vĩnh hằng.
2.1.4. Câu đối Tết
Năm mới là dịp “tống cựu nghinh tân, người dân Nam bộ ăn tết bằng dấu mốc
ngày tiễn ông táo về trời, và mọi thứ bắt đầu được trang hoàng từ nhà cửa cho đến
ngoài vườn tược, chuồng trại. Câu đối tết đa dạng nội dung, ý nghĩa, có câu đối
với mong mỏi cầu tài, phát đạt trong kinh doanh – nhất là những gia đình người
Hoa vốn giỏi buôn bán, kinh doanh; có câu đối chỉ đơn giản ca ngợi vẻ đẹp mùa
xuân, vẻ đẹp của đất trời. Sau đây là một ví dụ thông dụng:
Mong cầu sự thuận lợi, mọi việc như mong muốn:
Chữ Hán: 萬事如意
一帆風順吉星到 / 萬事如意福臨門
Vạn sự như ý
Phiên âm: Nhất phàm phong thuận
cát tinh đáo / Vạn sự như ý phúc lâm môn.
Tạm dịch: Thuận
buồm xuôi gió (ngôi) sao may mắn đến,
Mọi sự như ý phúc đến
cửa (nhà).
Một số cửa hàng kinh doanh ngày tết thì thường dán những tấm phúc ngữ dạng
4 chữ như “開張鴻發” (khai trương hồng phát: khai
trương phát đạt); “生意興隆” (sinh ý hưng long: làm ăn
hưng thịnh),... Một số gia đình thì trên của dán chữ 五福臨門 (Ngũ phúc lâm môn: năm điều phúc đến nhà); 招才進寶(Chiêu tài tiến bảo),..vv... Chính nhờ màu sắc, những nét chữ rồng bay phượng
múa của câu đối, tấm liễn đã làm nên phong vị tết, sắc màu năm mới rất Á đông.
3. Mối quan hệ giữa câu đối và nghệ thuật viết thư pháp
chữ Hán
Thư pháp (書法) là tinh văn của văn hóa Trung Hoa, đồng thời Thư
pháp Cũng có nghĩa là qui tắc, cách viết chữ đẹp. Người Trung Hoa sử dụng chữ
Hán làm công cụ trao đổi, ghi chép thông tin, hay sáng tác văn học nghệ thuật
và trong quá trình viết chữ thì con người theo đuổi tính mĩ quan khi kết hợp với
bút lông và mực, dần dần tính công cụ của chữ kết hợp với vẻ đẹp của tính tạo
hình và thăng hoa thành bộ môn nghệ thuật độc đáo. Sau khi văn hóa Hán học truyền
vào Việt Nam và đến ngày nay, bộ môn nghệ thuật này cũng không còn ngoại lệ là
của riêng một nước nào nữa.
Bàn về các kiểu chữ được sử dụng trong nghệ thuật thư pháp chữ Hán thì theo
tác giả Trần Đình Hữu (Trung Quốc) – một nhà nghiên cứu thư pháp nổi tiếng cho
rằng: “các kiểu chữ thường dùng của thư
pháp Trung Quốc có khoảng 10 loại”[2:20],
nhưng phổ biến hơn có lẽ chỉ ba loại thường dùng. Đó là Khải thư (楷書), Hành
thư (行書) và Thảo thư (草書), còn lại là các kiểu chữ cổ chỉ sử dụng trong thư pháp
và ít phổ biến (Triện thư篆書 ; Lệ thư隸書 ; Giáp cốt甲骨 và Kim văn金文).
3.2. Mối quan hệ giữa câu đối và thư pháp.
Thư pháp là bộ môn nghệ thuật được kết hợp với giấy (thường
là giấy Tuyên), mực tàu và bút lông (những vật dụng này được gọi là Văn phòng tứ
bảo 文房四寶), và chính những vật dụng này cũng là thành phần tạo nên
câu đối. Câu đối là vẻ đẹp tổng thể giữa nghệ thuật chữ viết và nội dung phản
ánh. Ở Việt Nam nói chung, câu đối là sản phẩm của tinh hoa văn hóa Hán học,
người ta sáng tác câu đối và ngẫu hứng khi thể hiện nó bằng thư pháp là sự kết
hợp giữa tài và nghệ và mĩ học. Do vậy, giữa câu đối và thư pháp có mối quan hệ
“huyết mạch tương liên” (mối liên kết máu mủ): các hàng chữ trong câu đối phải
thể hiện sự liền mạch nhất quán về kiểu chữ và khí thể sao cho hợp thành một
khí thể thống nhất.
Ở Nam bộ thì câu đối và thư pháp chữ Hán vẫn giữ được mối
quan hệ mật thiết ấy. Trong những buổi chợ ngày cuối năm ở các huyện, trung tâm
thị trấn, thành phố thì thường người ta dễ dàng nhận thấy và để mắt đến bàn viết
chữ của ông đồ già, hay người Hoa thì gọi đó là ông Từ - người coi sóc các việc
trong các đình, miếu rất am hiểu về chữ nghĩa. Công việc chính của ông đồ ngày
cuối năm là viết và bán những tấm hoành phi, liễn chữ và những tấm phúc ngữ
ngày tết, tất cả được viết trên giấy hồng đơn đỏ thắm và bằng loại bột nhũ đồng
pha với dầu bóng và xăng. Chính sự nổi bật giữa hai màu chủ đạo vàng đồng và đỏ
thẵm dưới tác động của ánh nắng ngày giáp tết làm ánh nên vẻ đẹp không thể lẫn
lộn với các sắc màu xuân khác.
Nghệ thuật thư pháp và sự sáng tác câu đối kết hợp hài
hòa và trở nên ăn sâu vào tâm thức người Nam bộ vốn khoáng đạt, hào phóng nhưng
yêu chuộng vẻ đẹp nghệ thuật và tinh hoa chữ nghĩa, đồng thời cũng là tín hiệu
tuyệt vời cho sự bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống.
4. Kết luận
Câu đối chữ Hán ở Nam bộ là dạng biểu hiện sức sống tinh
thần của các giá trị phi vật thể còn tồn tại đến ngày nay. Câu đối chữ Hán được
người dân phương Nam sử dụng và hâu như giữ được giữ gìn vẹn nguyên các thể thức
của nó từ hình thức đến nội dung biểu hiện. Từ những những câu đối trên bàn thờ
tổ tiên trang nghiêm thay cho lòng biết ơn với tiền nhân được định vị không đổi
dời, câu đối bàn thờ những vị thần linh trông coi bao quản việc gia đình và đến
những lời chúc phúc chúc hỷ thầm kín nhưng được thể hiện lên vẻ đẹp của giấy và
chữ viết.
Câu đối sở dĩ được sử dụng và giữ gìn đến ngày hôm nay một
phần do người Nam bộ ý thức được đây là nguyên bản của giá trị truyền thống và
bản sắc văn hóa dân tộc. Trong quá trình hội nhập văn hóa với thế giới hiện
nay, câu đối xứng đáng là một trong những gương mặt của văn hóa và đại diện cho
tinh thần trọng chữ nghĩa, đạo đức và phô bày vẻ đẹp của nghệ thuật trong đời sống
văn hóa của người dân phương Nam.
____________________
Chú
thích
(1) Theo Anh Minh, “Tập tục dân gian Việt Nam”, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội 2010, trang 14.
(2) Theo Viện KHXH Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh – tỉnh ủy
UBND tỉnh Sóc Trăng, tài liệu hội thảo Khoa học lịch sử “Hình thành và phát triển tỉnh Sóc
Trăng trước năm 1945” , bài viết “Góp phần tìm hiểu về mối quan hệ và sự giao
lưu văn hóa giữa các dân tộc người Việt – Khmer – Hoa ở Sóc Trăng trong tiến
trình phát triển” trang 07 (tiến sĩ Nguyễn Văn Diệu, Viện KHXH), Sóc
Trăng tháng 12 năm 2000.
(3) Thèo lèo: món kẹo truyền thống của người Hoa Triều
Châu, nguyên liệu là kẹo mạch nha và đậu phộng, hoặc kẹo mè đen thường được
dùng trong đám cưới, hỏi. Hai chữ Thèo lèo là do đọc chạy từ âm Triều Châu mà
ra (茶料 /chá liào/ âm Hán Việt là “trà liệu” – tức những thức ăn nhẹ dùng
khi uống trà). (4) Đình Bình Thủy, phường Bình
Thủy, quận Bình Thủy, tp. Cần Thơ.
Tài liệu
tham khảo
1.
Anh Minh
(biên soạn) (2010), Tập tục dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa – thông tin, Hà Nội.
2.
Trần
Đình Hữu (2013), Thư pháp Trung Quốc (người
dịch Ths Trương Lệ Mai), NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tp. Hồ Chí
Minh.
3.
Trần Phỏng
Diêu – Trương Quốc Thái (2013), Hán văn du lịch, NXB Giáo dục Việt
Nam, Cần Thơ.
4.
Viện
Khoa học xã hội (2000), tài liệu hội thảo Khoa học lịch sử “Hình
thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng trước năm 1945”, Viện KHXH Việt Nam
tại Tp. Hồ Chí Minh – tỉnh ủy UBND tỉnh Sóc Trăng. Tp. HCM.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét