- Đặt vấn đề
Thơ ca trung đại quan tâm đến nhiều khía cạnh thời gian, trong đó thời gian nghệ thuật là một trong những mạch chảy của cảm thức thi nhân trung đại. Yếu tố thời gian trong sự miêu tả đan xen với không gian nghệ thuật tạo thành một thực thể đặc biệt trong sự tương quan với các hình ảnh tư duy mà thơ ca trung đại luôn đề cao tính thực dụng. Hiện tượng song ngữ thơ ca trung đại Việt Nam tạo nên những đặc trưng vốn có của sự kết hợp giữa ngôn ngữ và thể loại, nhất là ở mảng thơ ca chữ Hán. Nhưng cũng chính thơ ca chữ Hán trung đại trong cách cảm thụ và trải nghiệm của nhà thơ hết sức độc đáo. Một trong những điểm chính yếu của thơ ca trung đại đó chính là tư duy bằng hình ảnh nên việc tái hiện thời gian trong thơ rất nổi bật, lúc ẩn lúc hiện.
Một phương thức tiếp cận khác về thời gian trong thơ ca trung đại đó là tinh thần hoài cổ và phỏng cổ. Nguyễn Du là một trong số thi nhân thời trung đại với tinh thần hoài cổ phỏng cổ, miêu tả về cảnh điểm, không gian – thời gian hoài cổ của những sử tích địa hình và thủy danh xưa cũ: thành Thăng Long, núi Tản sông Lô ở Việt Nam và cả ở Trung Hoa trong quá trình đi sứ. Riêng trong bài Thăng Long kỳ I (昇龍第一期), dòng thời gian trải qua trong tâm tưởng và ở điểm nhìn trong bài thơ tạo nên một cảm quan cho người đọc về một địa danh xưa cũ. Trong đó, hoàn toàn không giống như cách miêu thuật thời gian trong Thăng Long thành hoài cổ của Bà huyện Thanh quan, mà ở Nguyễn Du, cách nhìn tổng quan thời gian về con người và thời thế rất khác biệt so với cách nhìn hoài cổ của nữ sĩ Nguyễn Thị Hinh.
- Nội dung
- 2.1.Cách dẫn nhập thời gian trực tiếp
Quan niệm về thời gian nghệ thuật trong thơ ca trung đại nói chung là cách nói ước lệ, phóng đại và hình dung. Theo tác giả Nguyễn Đình Phức trong Thi pháp thơ Đường (2013): Cũng như thơ ca Trung Quốc nói chung, quan niệm về thời gian trong thơ Đường là một vấn đề có phạm vi rộng lớn và khá phức tạp [1; 236]. Thực tế trên bình diện mỹ học, thơ ca Trung Hoa Đường luật chú trọng cách diễn tả thời gian ước lệ và được qui ước bằng các diễn đạt tu từ bằng ngữ pháp văn ngôn cổ khá rõ. Bao gồm nhiều phương thức như cách ước lệ thời gian, cách đo và trải nghiệm con người với thời gian. Trong thơ ca trung đại Việt Nam, cách miêu tả thời gian này đôi nét vẫn còn chịu ảnh hưởng ít nhiều từ thơ Đường Trung Hoa. Trong Thăng Long, Nguyễn Du với cách nhìn Thăng Long là một cựu thành và miêu tả lại sự tái hiện lại phong quang của cựu thành qua việc mượn không gian núi nước:
Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng,
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long. [1; 320]
Tạm dịch: Núi Tản và sông Lô đều như bằng tuổi với nhau, đầu nay đã bạc thấy thành Thăng Long.
Trong hai câu đề, trong việc tái hiện hình ảnh núi nước hùng vĩ nhằm tạo không gian địa lý rộng lớn và mang tính chất vĩnh hằng qua từ tuế tuế có nghĩa là muôn đời, ngụ ý dẫn chỉ thời gian vĩnh hằng và qui chiếu sang không gian thực tại là dòng Lô giang và Tản viên sơn. Thành Thăng Long trong tâm tưởng của nhân vật trước điểm nhìn là khách thể chứng kiến và qui hồi của thời gian. Thăng Long vẫn nằm bên dòng núi nước mang thế địa lý của vùng đất địa linh nhân kiệt một thời, của một đế đô mà ngày nay, dưới tuổi bạc đầu của người khách đó nhìn lại với nỗi tiếc nuối khách quan. Hình ảnh bạch đầu (đầu bạc) cũng là một tín hiệu của thời gian biểu niệm trăm năm, thể hiện giữa hai chủ thể và khách thể: nhân vật và thành Thăng Long xưa.
- 2.2.Thời gian xưa nay đối nghịch – tương phản
Thơ ca Trung Hoa Đường luật có nhiều dạng biểu hiện của một qui luật diễn tả thời gian trăm năm. Trong đó, có một kiểu thức miêu tả thời gian xưa nay đối nghịch nhau. Kiểu thức này thường là một nhân vật rời xa quê hương về thăm lại sau bao năm rời xa và biến cố, chẳng hạn trường hợp Hạ Tri Chương trong Hồi hương ngẫu thư với hình ảnh ông khách đầu bạc (mấn mao tồi) đối nghịch với hoàn cảnh của quê hương thay đổi. Xét chiếu trong bối cảnh của bài thơ Thăng Long, kinh thành xưa cũ nay người khách gặp lại là những biến cố lớn, những thay đổi chóng vánh và hoang tàn của một nơi phồn hoa xưa cũ:
Thiên niên cự thất thành quan đạo,
Nhất phiến kinh thành một cố cung.
Tạm dịch: ngàn năm những ngôi nhà lớn cũng thành ra con đường rộng, một dãy thành mới xây đã làm mất đi cung điện xưa.
Đây là dạng thời gian xưa nay đối nghịch rõ nét trong cảm quan thời gian của Nguyễn Du. Đó là sự thay đổi có tính chất đối nghịch và tương phản. Đồng thời, qua những biến cố mà tác giả miêu tả cũng chính là quan niệm vạn pháp giai không (萬法皆空) mà Nguyễn Du ảnh hưởng ít nhiều từ tư tưởng Phật giáo. Sự thay đổi lớn lao của thành Thăng Long qua cách nhìn lại của kẻ đi xa và trở về có nhiều cái không tưởng. Thời gian làm cho triều đại và đế đô tan hoang, những thứ được xem là vĩnh cửu như biểu tương cự thất (ngôi nhà to lớn) cũng thành con đường cái (quan đạo); một kinh thành vững chãi cũng đã tan tành thay cho dãy thành mới mẽ của vương triều mới. Năm 1802, Nhà Nguyễn lên ngôi nắm quyền và đóng đô tại Phú Xuân, Nguyễn Du đồng thời cũng ra làm quan dưới triều Nguyễn, ông chứng kiến sự thay đổi của hai triều đại và đồng thời đối với cựu kinh Thăng Long như một nỗi cảm hoài luyến tiếc. Sự đối nghịch tương phản của hình ảnh, thời gian xưa nay làm cho hình ảnh kinh thành xưa mồn một hiện ra rồi tan biến.
Ảnh hưởng của những thuyết về thời gian, vũ trụ của con người và ý thức hệ của thi nhân trung đại rất lớn. Trong Thần tiên truyện, tư tưởng tang điền biến thương hải (桑田变沧海) cũng đã có nhiều biến chuyển ảnh hưởng sang cảm quan thời gian biến đổi, sự biến hóa to lớn với thời thế như một phát biểu. Từ phép chuyển đổi và đối nghịch thời gian sự vật này trong hai câu thất ngôn trên, từ việc cảm thụ tư tưởng chủ đề mà Nguyễn Du muốn đã chuyển tải vào trong thơ mang cảm hứng thế sự rất lớn. Khái quát hơn, phải chăng chính trong Nguyễn Du, sự ý thức về thời gian biến đổi là rất lớn. Từ thân phận của Thúy Kiều cho đến kinh thành Thăng Long đều là những hạt nhân rất nhỏ trong vũ trụ này và phải chịu sự chi phối của vần xoay thời gian, tất cả đều phải chịu sự thay đổi lớn lao này, cả về hình thức lẫn thế giới thực tại. Trong Thăng Long kỳ II (bài số 2), cũng là hình ảnh thành xưa của kinh thành, nhưng chi tiết “mảnh trăng thiên cổ” với tòa thành mới làm nên phép đối trong cách mô tả thời gian đối nghịch vô cùng độc đáo:
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành,
Do thị Thăng Long cựu đế kinh. [1;321]
Tạm dịch: Ánh trăng cổ từ ngàn xưa chiếu xuống tòa thành mới, đây là chính là thành Thăng Long xưa.
Đây cũng là một thức của kiểu kết cấu vòng tròn của thời gian nghệ thuật đối nghịch. Từ mô tả hoàn cảnh thực tại, tác giả gợi một hình ảnh của cổ mẫu “ánh trăng” cũng có thể xem là nhân vật chứng kiến bao thay đổi thăng trầm của thời thế. Sau đó là sự xuất hiện của thành mới với ánh trăng thiên cổ chảy tràn, đồng thời cũng là sự tiếp diễn của thời gian với không gian mới, hiện hữu với hoàn cảnh mới của không cảnh mà Nguyễn Du từng trông thấy.
Thời thế thay đổi, con người thời xưa mà giai đoạn chuyển giao ngày nay khi người khách về thăm lại kinh thành Thăng Long lại thay đổi khôn lường. Kiếp nhân sinh ngắn ngủi, những con người là khách trú của nhân gian, là “một công dân thành thị” Thăng Long xưa nay kẻ đã đầu bạc, kẻ địu con:
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.
Tạm dịch: những người đẹp từng gặp qua giờ đã thấy ôm con; những người bạn hào hiệp thời niên thiếu cùng ngao du giờ đã lên lão.
Trong thế giới quan mà người khách cảm tưởng lại kinh thành hoa lệ xưa, với những người mỹ nhân thiệp thế, những người bằng hữu xa xưa nay là dĩ vãng. Ký ức nhìn lại nay thành sự tiếc nuối xa xôi với sự đổi thay khôn lường. Điều này, kết cấu vòng tròn của thời gian xưa nay – đối nghịch tương phản tạo nên hiệu quả rất lớn về mặt nhận thức hiện tại của khách thể. Trong việc nhận thức về kiếp nhân sinh, tác giả Nguyễn Đình Phức trong công trình nghiên cứu về thơ cổ Trung Hoa từng đưa ra nhận định về cấu trúc thời gian nghệ thuật kiếp nhân sinh trong thơ cổ nói chung: Chúng ta đều biết, một khi con người ý thức được thời gian, người ta cũng đồng thời ý thức được lịch sử; một khi con người có thức về nhân sinh, người ta cũng đồng thời ý thức được lịch sử [1; 250]. Chính từ nhận định chung này kiếp nhân sinh, có thể thấy Nguyễn Du ý thức rõ về sự hữu hạn của cái gọi là giai đoạn lịch sử và đời người, cho nên tòa thành Thăng Long trong cảm quan của nhân vật người cũng chỉ là tàn tích của giai đoạn xưa, của tiền triều và hậu sinh chứng kiến. Đồng thời, tàn tích thành xưa mà người khách trông thấy và cảm nhận sự thay đổi của con người, cho thấy cách nhìn về quá trình diễn tiến thời gian của con người thời trung đại là hữu hạn, vượt qua hữu hạn là sự tái sinh giữa quá khứ - hiện tại và tương lai.
- 2.3.Dòng ý thức thời gian hữu hạn
Trong thơ văn cổ, mô típ ý thức về thời gian hiện hữu rõ nét. Thơ Đường Trung Hoa thể hiện rõ qua việc mượn một điểm tựa làm cho chủ thể thức tỉnh và ý thức lại dòng thời gian hữu hạn để cảm nhận thực tại. Chẳng hạn nhân vật người khách trong bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế là tiếng chuông vẳng trong đêm bên bến đỗ thuyền; tiếng chiếc quạ kêu trong màn sương khuya báo hiệu đã nửa đêm. Dòng ý thức thời gian hữu hạn thường gặp nhất có thể là trong thi ca Phật giáo về thời gian thường mượn điểm tựa “mùa” để nói lên tâm cảnh và ý thức thời gian vũ trụ:
Qui lai ngẫu bã mai hoa khứu,
Xuân tại chi đầu dĩ thập phân.
(Vô Tận Tạng, Đường – Trung Quốc) [3; 201]
Điểm tựa mà người khách nhận ra thời gian thực tại trong Thăng Long đó chính là tiếng sáo trong đêm giữa bầu trời trăng sáng.
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ,
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.
Tạm dịch: một đêm quan tâm thao thức không ngủ được, nghe tiếng sáo văng vẳng trong ánh trăng đêm.
Phải chăng đây chính là lời tự sự của chính Nguyễn Du về dòng ý thức của chính bản thân mình đối với thực tại. Nhất dạ biểu thị khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng chỉ trong một đêm đó, biết bao hồi tưởng về cựu kinh hiện ra trong dòng tự sự của chính Nguyễn Du, người chứng kiến sự suy tàn và lên ngôi của triều đại nhà Nguyễn và thành xưa phải thay đổi số phận. Tiếng sáo trong đêm là một điểm tựa về hai khía cạnh: thời gian và không gian đêm. Đó cũng phải chăng là tiếng sáo đồng cảm của những nhân vật khách khác cũng đồng điệu với Nguyễn Du về sự thay đổi lớn lao này. Đồng thời nhìn lại chính không gian tâm cảnh và dòng ý thức hữu hạn của thời gian thực tại. Ý thức này dẫn đến phong cách nhìn nhận về Thăng Long xưa – nay thật khách quan và trung thực.
- Kết luận
Nguyễn Du với vai trò là người đi qua hai triều đại. Là thức giả của thời đại và nhất là dòng tâm cảm của nhà thơ đối với thời gian nhân sinh và thời đại. Thăng Long là một kinh đô phồn hoa đô hội, tiếc thay con tạo vần xoay làm nên sự thay đổi lớn mà nhà thơ cảm nhận và nhìn qua. Hồi ức và dòng tâm cảm mà nhà thơ mô tả lại đan xem giữa quá khứ và thực tại, giữa ý thức và đồng cảm với cựu kinh. Ở đó, sự thay đổi không ngừng đồng thời cũng là thực tại khách quan nhưng không phải là sự hoang tàn không tưởng như những cách mô tả khác cũng viết về đề tài Thăng Long. Cảm xúc và nhận thức chung qui làm một, cho nên bài Thăng Long trong sự tương quan với thực tại đó là giai đoạn mà lịch sử đi qua và để lại chứng tích và là dấu tích mà thời gian để lại trong cả thơ văn và hiện thực.
Tài liệu tham khảo
1 – Đinh Thị Khang, Văn học trung đại Việt Nam – thể loại, con người, ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2016.
2 – Nguyễn Đình Phức, Thi pháp thơ Đường, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2013.
3 – Tài liệu tiếng nước ngoài (tiếng Trung Quốc) 禅门诗偈三百首② (Thiền môn thi kệ tam bách thủ), nguồn: https://books.google.com.vn/books?id=FY58DwAAQBAJ&dq=%E5%BD%92%E6%9D%A5%E5%81%B6%E6%8A%8A%E6%A2%85%E8%8A%B1%E5%97%85+%E6%98%A5%E5%9C%A8%E6%9E%9D%E5%A4%B4%E5%B7%B2%E5%8D%81%E5%88%86%E3%80%80%E5%87%BA%E5%A4%84&hl=vi&source=gbs_navlinks_s – truy cập: 22/11/2019, 22:17’.
Tác giả Nguyễn Khánh Duy, viết tháng 01 năm 2020, Cần Thơ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét