Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

TỪ “LÀM ĐĨ” VÀ CÂU CHUYỆN DỤC TÍNH CÁ NHÂN TRONG GIÁO DỤC NHÂN CÁCH



Ai từng đi nhà sách Fahasha và các hiệu sách, các trang mạng sách Văn học Việt Nam giai đoạn 1900 – 1945 chắc hẳn đều thấy quyển tiểu thuyết mang tên hơi “chín mặt” Làm đĩ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Một quyển tiểu thuyết mà có lẽ người ta chỉ cần nói đến tên thôi cũng chưa dám kể ngoại trừ giới nghiên cứu văn chương và bình luận văn nghệ. Bởi danh ngữ “đĩ” điếm xưa nay ít được thiện lành và không được xã hội đón nhận. Và… nhất trong cái xã hội phong kiến thực dân ấy.

1.      “Đĩ” trong thơ văn

Các tích truyện về danh từ ‘đĩ’ này lần lượt xuất hiện trong các bài thơ của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương trong thơ văn thế kỷ XIX như:

Đĩ Cầu Nôm – Nguyễn Khuyến:
Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích […]

Xét trong chữ Nôm, chữ "đĩ" được cấu tạo theo hai phương thức đáng chú ý:
[a] thêm nét chấm trong chữ "nữ" 女 thành 𡚦, tức chỉ người phồn thực giao hoan
[b] thêm bộ nữ biểu ý bên phải chữ “để” (dưới đáy) 𡞖, ngụ chỉ nghề tận cùng của sự khinh bỉ.
Thơ văn chửi đổng nghề làm đĩ, xã hội và con người hễ cứ ai hư hỏng cứ lôi ra mà định danh “sao nó đĩ thế”, “cái đĩ” và ‘con đĩ’. Đĩ cũng được giới tính hóa “đĩ cái”; “đĩ đực” và vật hóa “đĩ chó”,  “đĩ ngựa”, hành động so sánh hóa “chơi đĩ”,... Tôi không hiểu cái nghề làm đĩ như thế nào mà thiên hạ hùa nhau ghét đĩ và cứ chửi đĩ cho thỏa thích, mà họ có lẽ chưa từng có dịp đọc qua quyển tiểu thuyết “làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng ấy. Người con gái trong trắng và ngây thơ ấy trong tiểu thuyết ấy bất đắc dĩ phải chọn một cái nghề mà xưa nay con người ta hùa nhau chửi bới và cứ “sử dụng” những người làm nghề ấy như một công cụ giải tỏa sinh lý. Văn chương phản ánh hiện thực và thực hiện chức năng giáo dục như một đặc trưng của thể loại, nhưng hình như qua “làm đĩ”, văn chương lộ rõ nên chức năng chê bai trách móc và đá xéo con người trong xã hội xưa nay. Tôi không có chủ ý chê trách tiền nhân và xã hội, nhưng nói trắng ra cũng chỉ là cái nhìn chủ quan qua một loại hình văn nghệ mà nhà văn muốn ghi lại hình ảnh người con gái phải cắn răng làm việc nhục nhã ấy.
Xã hội và con người trong văn chương phản ánh có thể nửa thực nửa hư. Trong tiểu thuyết chương hồi Kim Bình Mai, truyện thơ Kiều và một số tác phẩm khác như Trà hoa nữ của văn học phương tây cổ điển hình ảnh gái điếm – gái đĩ và đời sống của họ hiện lên mồn một. Truyện Kiều nói về kỹ pháp hoàn tân của gái điếm rõ đến nỗi có thể hình ảnh từng công đoạn và công năng:
“Nước vỏ lựu, máu mào gà,
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên”
Nói đi cũng phải nói lại, văn học lấy nhân vật đĩ đưa vào làm hình ảnh và nghệ thuật hóa nó lên. Xây dựng hình ảnh đĩ cũng không dễ và nguồn gốc kiến cho con người ta từ hiền hậu chân chất thành đĩ cũng không đơn giản chút nào. Người phụ lừa chồng trong tiểu thuyết “làm đĩ” Vũ Trọng Phụng xuất thân từ gia đình bề thế tư bản dưới thời thực dân. Một lần lầm lỡ lúc tuổi còn son mà dẫn đến việc lụng bại tình yêu với người tình thuở đôi mươi, hơn thế nữa là cái chính chắn trong đạo đức không được vun bồi và xem trọng. Cô ta đôi lúc mạnh mẽ, đôi lúc yếu mềm và dâm dật. Và cũng đôi lúc vô cùng chung thủy.
Từ một việc sa ngã đầu đời, thiếu sự quan tâm giáo dục gia đình đối với con trẻ từ thuở vị thành niên gây ra hậu quả như thế nào. Vấn đề trong tiểu thuyết làm đĩ nảy sinh ra phải chăng là ranh giới giữa đạo đức và tội ác xoay quanh câu chuyện dục vọng của ái tình đầu đời.
Số phận và định mệnh mà cô gái ấy trải qua còn phải kể đến một thế lực vô ngôn: đồng tiền. Trong một lần túng quẫn tiền bạc ở Saigon mà cô ta đã lần đầu trót trao thân cho ông khách người Bạc Liêu. Cái lần đau đớn ấy tưởng chừng như ra quen và thành một cái nghề mà xã hội một mặt chửi bới, một mặt tin dùng?! Phải chăng, từ sự bần túng và vị tình riêng cá nhân mà cô ta biến thành một vật trao thân ăn khách cho mấy ông khách làng chơi thứ thiệt. Thiết nghĩ, tiểu thuyết ấy ít nhiều mang đến cho người một cảm tưởng về một nghề vừa đau đớn, vừa thõa mãn cũng vừa hóng hách tai tiếng.

2.      Từ tiểu thuyết “Làm đĩ” đi ra nỗi đau hiện sinh và câu chuyện giáo dục nhân bản

Cảm nhận chủ quan con người ta khó bao giờ qua được khoa học và các nghiên cứu. nhưng cảm nhận chủ quan là nguồn gốc của sáng kiến và giúp cho khoa học có phương hướng đị vị phạm vi nghiên cứu. Khoa học về con người còn thiếu nợ rất nhiều với nghề làm đĩ. Trong mỗi lần nghĩ về tình yêu thời hiện đại, nhiều khi dục vọng cá nhân và bản năng sinh dục khiến cho con người ta chỉ còn biết thỏa mãn khát vọng giải phóng sinh lý hơn là một tình yêu chân thực. Ngay cả trong bản thân con người tồn tại nhiều mâu thuẫn người ta cũng có những phút giây suy nghĩ ngoài vợ ngoài chồng và ngoài tình cảm chung thủy. Không đại loại nói về ai, nhưng hình như suy nghĩ chủ quan ấy hướng về chức năng của nghề đĩ mà thiên hạ chê cười chửi bới.
Từ tiếng Việt định danh khá phong phú và gây nên sắc thái âm dương rõ rệt về nghề đĩ: gái điếm – trai bao; gà móng đỏ, phò, mèo,… Nội tại trong cách gọi làm cho người ta cảm thấy khinh bỉ và muốn loại nó ra khỏi xã hội. Trên bình diện đạo đức, nghề đĩ không mấy ăn thua và nhận một tràng sung đạn gạch đá từ các phong trào hô ứng đạo đức. Nhưng nhìn rõ ra, nỗi đau mà người làm đĩ cam nhận là “tận cùng của nỗi đau”. Đó phải chăng là nỗi đau với chính bản thân mình, sự nhơ nhớp với hình hài trong sạch mà tạo hóa ban cho, và chỉ có kiếp sau họa chăng phục hồi nguyên bản; nỗi đau thân phận con người bị khinh bạc và phải chấp nhận cái nhìn méo xẹo từ cái nhìn đạo đức,… và nỗi đau với chính tương lai của mình.
Ngày nay, con người và thời đại phát triển quá sớm so với tiến trình tiến hóa chăng. Nghề làm đĩ dần phải thay đổi theo xu hướng?! Nếu chịu khó, các web mạng bán phấn buôn hương không khó tìm. Tiền tươi thóc thật, ăn bánh trả tiền và các địa điểm ở các thành phố lớn luôn được đồn đại phổ thông. Phải chăng nghề làm đĩ duy trì và tổ nghiệp linh ứng lâu năm đến vậy sao. Tôi không bao giờ tin được rằng một ngày nào đó mà cái nghề vừa đáng thương vừa đáng hờn này được nhân rộng và quần chúng hóa.

[còn nữa]

Kỷ hợi, lập đông, Mộng Hy trai, Trịnh Ngõa
2019/12/21





Không có nhận xét nào: