Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP HỌC PHẦN HÁN NÔM*



1.      Cơ sở đề ra giải pháp nâng cao chất lượng học tập học phần
Qua nhận định tình hình và đánh giá các thực trạng đang diễn ra trong việc tiếp thu kiến thức học phần cũng các phương tiện mà sinh viên đang sử dụng để phát triển môn học, chúng tôi đã tóm tắt được những ưu và khuyết điểm trong việc tiếp thu kiến thức học phần Hán Nôm hiện nay và trong tương lai sẽ đạt được những kết quả như thế nào. Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong phần giải pháp này chúng tôi sẽ đề xuất giải quyết mang tính cấp thiết.
1.1.           Xuất phát từ nhu cầu học phần
Theo những hiện trạng đã dẫn ra trong phần thực trạng học tập học phần Hán Nôm hiện nay trong sinh viên, nhu cầu học Hán Nôm ngày càng đặt ra nhiều tiêu chí và đòi hỏi người học tập phải tiếp thu kiến thức học phần một cách tự giác. Do việc tiếp thu kiến thức cần hỏi một thái độ và ý thức tự giác chủ động nên bản thân học phần và quá trình tiếp nhận kiến thức trong sinh viên cũng gặp không ít khó khăn nên việc tự học dần dần bị đẩy lùi một phần nguyên nhân do độ khó nhất định trong bản thân của môn học. Vả lại, trong chương trình đào tạo ngành Văn học, Hán Nôm là một học phần quan trọng chiếm số lượng tín chỉ là 8, trải dài qua hơn 3 học kỳ cho nên việc thiết lập một kế hoạch học tập phù hợp là điều vô cùng cấp thiết để việc tiếp thu kiến thức diễn ra nhanh chóng và thuận lợi nhất.
Mặt khác, xuất phát từ nhu cầu học tập ngày càng nâng cao các môn học, học phần có liên quan đến Hán Nôm, ngôn ngữ tiếng Việt và việc ứng dụng vào thực tế chuyên ngành cũng như sau khi tốt nghiệp ứng dụng vào nghề nghiệp, lượng kiến thức về Hán Nôm cũng như sử dụng tiếng Việt ngày càng được đưa ra khắc khe hơn bao giờ hết. Trong khi việc viết văn, hành văn và sử dụng văn bản tiếng Việt trong các phương tiện và cũng như trong thực hành chuyên môn gặp nhiều khó khăn, bất cập thì học phần Hán Nôm lại càng có vai trò nhất định giúp củng cố kiến thức về chính tả, cung cấp kiến thức – phương thức sử dụng từ tiếng Việt để diễn đạt hiệu quả hơn trong văn bản hiện nay. Từ đó có thể định hướng cho sinh viên có cách nhìn về chức năng của học phần Hán Nôm có tính thực tế và ứng dụng rất cao như hiện nay.
Mặt khác, hiện nay nhu cầu nghiên cứu về văn hóa Hán Nôm cũng như văn tự, ngôn ngữ có liên quan đến Hán Nôm một nhiều. Trong đó, mối liên hệ với văn tự ngôn ngữ Trung Hoa để phát triển vốn sinh ngữ có tính chất tương đồng và gần gũi với tiếng Việt ta là rất lớn.
1.2.           Tầm quan trọng của việc tự học học phần
Kết quả khảo sát của chúng tôi phản ánh một phần chất lượng học tập học phần Hán Nôm qua các kết quả về các phương pháp tự học, các hình thức học tập Hán Nôm đang hưởng ít nhiều đến kết quả cũng như quá trình tiếp nhận kiến thức học phần.
Thiết nghĩ Hán Nôm là học phần ngoài giờ học lý thuyết trên lớp thì trong giờ tự học sinh viên phải thực hiện giờ tự học rất nhiều, bởi ngoài hệ thống lý thuyết về văn tự và phương ngôn Hán, Nôm thì các vấn đề khác ngoài lý thuyết cũng chiếm một số lượng kiến thức không nhỏ. Trong đó, chưa kể đến việc tìm hiểu về các hình thái phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt qua các thời kỳ được thể hiện rõ nét qua việc sử dụng văn bản Nôm cũng như chữ Nôm qua các giai đoạn lịch sử của ngôn ngữ tiếng Việt.
Nếu như thực hiện tốt các phương pháp tự học học phần Hán Nôm cũng đồng nghĩa với tự tạo cho bản thân một sự kích thích và khơi dậy niềm đam mê với vốn di sản chữ viết của cha ông ta trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. Trong quá trình tự học, bản thân người tìm tòi nghiên cứu có thể tự khám phá ra được những tiền đề còn chưa có lời giải đáp. Chính từ điểm này dẫn đến nảy sinh nên những vấn đề nghiên cứu mới – góp phần phát triển học phần trong tương lai.
2.      Nội dung giải pháp
2.1.           Giải pháp về nội dung lý thuyết
2.1.1. Khái quát về các định nghĩa tiếp cận văn tự Hán – Nôm
Hiện nay vấn đề nhầm lẫn giữa các khái niệm học phần Hán Nôm trong sinh viên hầu như rất đa dạng. Đa số rất khó để phân biệt nhận dạng các khái niệm và nhầm lẫn khái niệm chồng chéo đan xen lẫn nhau. Trong đó, ngay cả khái niệm “Hán Nôm” cũng có thể hiểu sai lầm dẫn đến nhiều khả năng chất lượng môn học dần giảm sút. Theo đó, chúng tôi trên cơ sở tổng hợp các khái niệm lý thuyết và phân chia chúng thành các nhóm nhỏ sau để người học có thể phân biệt các khái niệm một cách thuận tiện nhất.

Thứ nhất, trong học phần chữ Hán, chúng tôi tiếp cận đến với các khái niệm, thuật ngữ trong sinh viên hầu như còn hiểu rất mờ nhạt về khái niệm “chữ Hán”. Theo sự quan điểm của chúng tôi và sự tổng hợp qua một số tài liệu trong và ngoài nước đã được lược dịch thì khái niệm chữ Hán hiện nay đã được biến chuyển qua nhiều dạng tài liệu. Nhưng chung qui nhất thì chữ Hán là một loại văn tự tượng hình xuất phát Trung Quốc – là loại văn tự được sử dụng chính thức ở Trung Quốc và một số nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa đồng văn.
Giải thích về mặt cấu trúc của thư thể và thư pháp, theo Trần Đình Hữu (Trung Quốc) thì: “chữ Hán là dạng văn tự khối vuông. Mỗi một chữ Hán đều chiếm một khoảng không vuông vức trên mặt giấy... Chữ Hán được kết hợp bởi 10 loại nét cơ bản, công dụng của các nét bút cũng tương tự như các dạng ký tự trong chữ viết của phương tây, nhưng giữa các nét bút không thể đánh vần được” [tptq;18]. Theo cách lý giải về mặt cấu trúc của chữ Hán này thì nếu như áp dụng vào cách định nghĩa chữ Hán có lẽ chưa thật đầy đủ để tạo thành một khái niệm thống nhất, nhưng dẫn theo cách lý giải này thì người học có thể tiếp thu kiến thức được tách chiết từ định nghĩa để có thể hiểu được kiến thức nền tảng về mặt cấu tạo của chữ Hán gồm các nét và định dạng trong một ô vuông trên giấy mà cấu thành. Quan điểm của chúng tôi về cách lý giải này thì chính tác giả đang đứng ở góc nhìn về giải phẫu chữ viết theo cách hiều của thư pháp mà cụ thể ở đây là lý giải của thể chữ Khải hay còn gọi là chân phương hay Lệ thư. Cho nên nếu sử dụng định nghĩa này để giải thích hay bổ trợ cho phần hướng dẫn viết chữ Hán thì phù hợp hơn.
Trong bản thân chữ Hán nó đã thể hiện một minh chứng là loại hình văn tự tượng hình, biểu ý nhưng ngoài mặt thể hiện về hình và nghĩa này, chữ Hán còn là một loại hình văn tự biểu âm khi nó kết hợp âm tiết bằng cách ghép nối giữa các chữ và bộ thủ lại với nhau để tạo tạo thành chữ mới. Đó là cách đọc “thiết vận” trong tiếng Hán, thí dụ như chữ “” (tình) thì gồm hai thành tố bộ “” (tâm) và chữ “” (thanh), trong đó bộ tâm biểu ý và chữ thanh biểu âm. Khả năng kết hợp âm đọc này cũng có thể xem như một đồng dạng với cấu tạo của chữ Nôm trong tiểu loại số 21 để thấy rõ ràng hai loại văn tự này có mối liên hệ gần gũi với nhau về mặt cấu tạo. Cùng quan điểm về cách lý giải này, trong công trình “Lý thuyết văn Nôm, chữ Nôm” giáo sư Nguyễn Ngọc San đã chỉ ra mối liên hệ hữu cơ huyết mạch giữa cách giải thích giữa chữ Hán và chữ Nôm như sau: “chữ Nôm hoàn toàn sử dụng các ký tự Hán chứ không dùng một ký tự phi Hán nào, điều ấy làm cho chữ Nôm hoàn toàn giống chữ Hán về mặt loại hình[NNS;21]. Điều này cũng không có nghĩa rằng chữ Nôm và chữ Hán có cùng chức năng ngữ nghĩa như nhau, nếu quan sát tự dạng bên ngoài thì chữ Nôm và chữ Hán hoàn toàn giống nhau về mặt loại hình, nhưng tính chất và mục đích sử dụng của nó thì lại rất khác xa nhau. Cơ sở này theo quan điểm của chúng tôi cũng chính là điểm khu biệt khái quát nhất của Hán và Nôm.
2.1.2. Mô phỏng các phương pháp tự học chữ Hán và chữ Nôm
Phương pháp tự học chữ Hán chính là những phương thức, cách thức tự nghiên cứu, tự tiếp thu chữ Hán theo nhiều dạng thức: viết chữ Hán, làm quen với âm đọc Hán Việt và giải thích nghĩa của chữ. Nói gọn hơn, chính là qui tắc tự học làm quen với chữ Hán qua ba điểm: hình – âm – nghĩa. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu về qui tắc tạo chữ trong chữ Hán, cấu trúc hình thể của chữ Hán và chữ Nôm để đề ra một số phương thức, tiếp cận và làm quen với chữ Hán – Nôm.
2.1.2.1. Phương pháp tập viết chữ
Thứ nhất, trong chữ Hán – với tư cách là văn tự tượng hình được cấu tạo từ các nét cơ bản gồm 10 nét chính. Các nét cơ bản nhất gồm tám nét: chấm, ngang, sổ, chiết, móc, hất, phẩy, mác. Để thể hiện điều này cụ thể hơn trong cùng một chữ Hán cụ thể, chúng tôi xin được sử dụng qui tắc “Vĩnh tự bát pháp” (永字八法) – tức tám qui tắc của chữ “vĩnh”. Qui tắc “vĩnh tự bát pháp” này chính là sử dụng một chữ “vĩnh” để có thể thể hiện đầy đủ tám nét cơ bản nhất của chữ Hán theo thể Khải thư, trong bản thân chữ “vĩnh” đã được cấu tạo đầy đủ nhất các nét này như đã trình bày. Theo đó người người học có thể quan sát chữ “vĩnh” làm nền tảng tiếp thu và ghi nhớ các nét của chữ và dần dần luyện tập viết chữ Hán từ đơn giản cho đến phức tạp, theo nhiều phương pháp mà chúng tôi sẽ giới thiệu sau.
Mô hình mô phỏng qui tắc “Vĩnh tự bát pháp”
Trong đó:
(1)  Nét chấm ()
(2)  Nét ngang ()
(3)  Nét sổ (豎)
(4)  Nét móc (鈎)
(5)  Nét hất (提)
(6)  (7) Nét phẩy (撇)
(8) Nét mác (捺)

Hình 2:  Chữ “Vĩnh” () viết theo Khải thể

Từ tám nét cơ bản này, các dạng tự hình tự thể chữ Hán dần dần pha trộn với nhau tạo thành nhiều nét khác trong các chữ Hán khó, phức tạp hơn. Thật sự trong lịch sử văn tự học Trung Hoa, các nét cấu thành của chữ Hán ban đầu xuất phát từ những nét vẽ và hình vẽ cơ bản trên Giáp cốt văn (甲骨文) và theo quá trình chuyển biến hình thể của chữ Hán: từ khắc vẽ trên xương thú, mai rùa đến chữ khắc trên đỉnh đồng (金文), đến Triện văn (篆文) và dần đi đến Lệ biến và các dạng tự thể quen thuộc sau này như Hành, Thảo và Khải. Đạt đến một thành tựu đỉnh cao của cách viết Khải thư đã khiến cho hình thể của chữ Hán dần đạt đến mức độ thẩm mĩ cao và khiến cho chữ Hán không còn quá khó học, khó viết và khó nhớ như các dạng tự thể của trước thể Khải thư. Do Khải thư là một thư thể quan trọng trong việc viết và học chữ Hán, cho nên một phần qui tắc chữ Vĩnh này góp phần giúp cho người học mường tượng và nắm bắt rất hữu dụng các nét cơ bản của chữ viết tượng hình đa dạng. Lịch sử thư pháp nước ta từng có những cách định danh khá hoàn chỉnh về các thuật ngữ trong cách viết chữ của quan lại nho sĩ ngày xưa, trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ có khái quát: “Từ đời Lê Trung Hưng trở về sau, những người đi học theo nghề khoa cử viết theo lối chữ khải đời cổ, lại ngoa ngoắt thêm bớt làm sai đi đến nửa phần gọi là lối chữ Nho. Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ “nam”, bởi vì lúc đầu là phòng dân gian làm giả mạo, cho nên mới theo hoa văn mà đặt ra một lối chữ việc quan. Ai học theo lối chữ ấy thì sáu năm một lần thi trúng tuyển được sung vào làm chân thư tả ở trong các nha môn.” [Vttb;52]. Như thế, không chỉ riêng Trung Hoa – đất nước khởi nguồn của chữ Hán, Việt Nam ta tuy chịu ảnh hưởng và sử dụng văn tự Hán nhưng cũng rất đề cao tinh thần thư nghiệp, xem chữ viết là một dạng thức văn hóa tinh thần và cách viết chữ, thể chữ viết đã tạo nên bản sắc rất riêng trong vốn văn hóa dân tộc.
Theo bài giảng “Hán văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú dẫn ra từ sáu nét cơ bản như trên và thêm “những nét phức hợp” bao gồm tám nét khác: “nét ngang móc; nét ngang gấp; nét ngang gấp móc, nét ngang gấp hất; nết sổ hất; nét sổ móc, nét sổ gấp móc; nét mác móc” [Hvcs; 3]. Căn cứ theo các nét phức hợp này, chúng ta có các chữ Hán sau nhằm mô phỏng các nét phức hợp này.
Chữ Hán
Âm đọc
, , , (nét ngang móc, nét chấm, ...)
Bảo, gia, ái, quán
, , (nét sổ móc, nét chấm, nét ngang, nét sổ dọc,...)
Thi, thôn, lợi
, , (nét sổ gấp móc, ngang gập, phẩy,...)
Sắc, quan, huynh

Bảng 14: Các nét phức hợp trong các chữ Hán hợp thể
Qui tắc “Vĩnh tự bát pháp” này cũng là một trong những cách giúp cho người học chữ Hán ban đầu nắm bắt nên cách viết chữ Hán theo nét theo thứ tự. Theo đó, ta có những phương pháp viết chữ Hán theo trật tự nhất định. Từ tổ hợp các nét bút thành một chữ Hán trong một khối vuông nhỏ nhắn đương nhiên phải sử dụng các nét bút khác nhau và dùng nhiều phương pháp liên kết, sắp xếp chúng lại với nhau để làm sao hình dáng của chữ vừa cân xứng, cân đối và tạo được tính thẩm mỹ.

2.1.2.2. Qui tắc bút thuận
Khi thực hành viết chữ Hán, Nôm tất yếu phải tuân theo qui tắc bút thuận. Bút thuận là một qui tắc được đặt để áp dụng cho các viết chữ Hán theo Khải thư, trong đó được qui định rất chặt chẽ cách viết theo qui luật có trên, có dưới; trái sang phải và trong ra ngoài. Ta có “bài ca bút thuận” được trích từ công trình tổng hợp “Chữ Hán Trung Quốc” (中国汉字) của Hàn Giám Đường (Trung Quốc) đã lược dịch như sau:
Viết chữ phải ghi nhớ bút thuận,
Nắm vững qui tắc bút có thần.
Ngang trước sổ sau trên rồi dưới,
Phẩy trước mác sau trái sang phải,
Viết xong chính giữa rồi hai bên.
Phải để chính giữa to và đậm,
Từ ngoài vào trong phải ghi nhớ
Vào nhà trước rồi mới đóng cửa.”
[CHTQHgđ;76]
Văn bản chữ Hán và Hán ngữ hiện đại có mối liên hệ thân sơ khá quan trọng, trong đó điểm chung nhất giữa hai loại hình này chính là yếu tố chữ viết. Văn bản Hán văn trong Văn ngôn sử dụng chữ Hán Phồn thể (繁體), văn bản Hán ngữ trong Bạch thoại sử dụng đa phần là chữ Hán Giản thể (简体). Hai loại hình này tiếp thu và bổ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ, cho nên việc tiếp thu chữ viết cũng không nằm ngoài phạm vi luyện tập chữ viết. Ở đây, chúng tôi tiếp thu một phần lý thuyết trong các tài liệu giảng dạy Hán ngữ hiện đại để làm cơ sở dẫn giải nên các yếu tố phương pháp luyện tập viết chữ Hán trong học phần Hán Nôm. Theo tác giả Nguyễn Mạnh Linh trong “Từ điển nét chữ tiếng Trung”, viết đúng các yếu tố nét chữ trong chữ Hán chính là “khắc phục những sai sót trong quá trình học trước đây, như viết không đúng hình chữ, viết sai thứ tự các nét, đọc không chuẩn,...” [Từ điển nét chữ TQ;5]. Về cơ bản, chúng tôi xin đưa ra ban điểm cần chú ý trong khi tuân thủ qui tắc viết bút thuận trong khi luyện tập viết chữ Hán như sau:
(1) Khi viết các nét cơ bản (chấm, mác, hất, ngang, sổ,...) cần xác định điểm bắt đầu và điểm kết thúc trong cùng một nét. Đối với các nét cần có sự uyển chuyễn trong chiều dài của một nét cần chú ý đến độ nhấn bút và cự li mãnh khảnh của nét bút để tạo nên sự hài hòa “chủ khách” trong đường đi di chuyển của nét bút.
(2) Tập viết chữ Hán ban đầu nên theo Khải thư. Khải thư là một trong năm thư thể chính của chữ Hán, nét của khải thư đơn giản và tinh gọn không như Thảo và Triện. Vì thế, khi tập viết chữ Hán có thể sử dụng bảng “mễ tự cách” để luyện tập viết chữ trong một ô vuông nhất định. Mễ tự cách (米字格) hay còn gọi là “mễ tự bản” (米字本), “điền tự cách” (田字格) bảng ô vuông được kẻ viềng theo dạng tự hình chữ “mễ” (), “điền” () để phân chia các khu vực bộ phận của chữ Hán theo bố cục và giúp người tập viết chữ ban đầu đạt được hiệu quả về sự cân đối nét chữ cũng như hình thể.

Bảng “mễ tự cách” dùng tập viết chữ Hán – Nôm

Các chữ Hán được thể hiện trong bảng “mễ tự cách” theo Khải thư

Chữ “vĩnh” () được thể hiện trong trật tự của “mễ tự cách”
Hình 3: Bảng “Mễ tự cách” dùng trong luyện viết chữ Hán
Chữ Hán hiện nay theo hình khối vuông, đa số được viết theo chuẩn Khải thư, và hình thể của chữ chính do các nét bút cơ bản và những nét bút biến thể cấu thành. Các nét bút của chữ Hán không có hình tròn như chữ Hàn Quốc hay chữ Nhật Bản, chữ Hán cũng rất ít hình vòng tròn, duy chỉ có nét phẩy và nét mác là có độ cong nhất định. Nhìn chung cơ bản là đường thẳng, cho nên khi áp dụng qui tắc bút thuận và luyện tập viết chữ trong “mễ tự cách”, người học cần hết sức chú ý đến độ vuông của chữ và độ thẳng của nét chữ. Nắm vững qui tắc về nét, qui tắc bút thuận thì việc thực hiện tốt bài tập đánh số nét và xác định số nét của chữ Hán, Nôm rất thuận tiện và dễ dàng. Xác định đúng số nét của chữ là cơ sở để có thể sữ dụng tốt tự điển Hán – Nôm tra cứu các âm, hình dáng, nghĩa của chúng.
2.1.2.3. Phương pháp tự học chữ Hán – Nôm
Như phân tích trong chương thực trạng, chúng tôi không đề cao phương pháp học chữ Hán Nôm nào là tối ưu nhất cho người học. Nhưng xét trong cơ sở có thể áp dụng rộng rãi và gần gũi dễ dàng đạt hiệu quả cho người học nhất, chúng tôi xin triển khai theo phương pháp “chiết tự” hay còn gọi chính trong nguồn gốc cấu tạo của phương pháp này chính là “Lục thư” – tức truy ra phương pháp từ cấu tạo của chữ Hán – Nôm.
 Trong “Thuyết văn giải tự” (説文解字) của Hứa Thận, phương pháp “Lục thư” được ông trình bày một cách khoa học và dẫn giải để học chữ Hán rất dễ dàng và cho đến ngày nay “giải thích nghĩa của chữ trong Thuyết văn giải tự, đã giúp cho chúng ta hiểu được kết cấu của chữ Hán và nắm vững nghĩa gốc của chữ, đem đến rất nhiều tiện lợi” [CHTQHgđ; 55]. Dựa vào cơ sở của thuyết Lục thư, chúng tôi xin đề ra một số cách học, ghi nhớ và minh giải chữ Hán – Nôm như sau:
-         Học chữ Hán theo kết cấu hình thể đồng dạng, ta bắt đầu từ những chữ Hán đơn thể và biến đổi dần dần đến chữ hợp thể hay còn gọi là phức thể.
Thí dụ, ta có sự chuyển biến sau bắt đầu từ chữ “nhân” ():
Nhân >người
Đại >lớn
Phu >chồng
Thiên >trời
Thái >lắm
Khuyển >chó

Từ một thủ đơn giản biểu thị ý nghĩa:
·        Bộ “thảo” ()

Thảo>cỏ
Hoa >hoa
Thái>rau
Cúc>hoa cúc
Trà>trà
Vạn>mười ngìn
Diệp>lá

·        Bộ “môn” ()

Môn>cửa
Gian
>khoảng
Vấn
>hỏi
Văn
>nghe
Muộn>
buồn
Nhàn>
rãnh
Sấm>xông(vào)
Các
>gác
Ngại
>vùi
Lư>
cổng

-         Ghi nhớ chữ Hán trên cơ những từ đồng âm nhưng dị nghĩa.
Trên cơ sở những chữ đồng âm, thí dụ ta có chữ “âm” trong chữ Hán gồm những từ đồng âm có dùng chung một bộ kiện.
Ví dụ 1: trường hợp của chữ “âm” – đồng âm
A1
A2
A3
A4
A5
A6
A7
Tiếng
Cõi âm, tối
Chữ giản thể của A2
câm
Tươi tỉnh
câm
Tương tự như A2

Ví dụ 2: trường hợp của “quang” – đồng âm
B1
B2
B3
B5
B6
B7
B8
Sáng
Cái suốt
(đồ vật)
Hùng dũng
Bong bóng
(bộ phận cơ thể)
Cái chén
Tương tự như B6
Nguyên tố hóa học [Ra]

Trên cơ sở những chữ Hán đồng âm nhưng khác nhau về nghĩa, ta thấy chúng có mối quan hệ gắn chặt với nhau về bộ kiện đi chung với nhau. Trong bộ kiện của chữ Hán, có những bộ kiện đi chung để tạo chữ và có chức năng biểu thị ý nghĩa rất lớn. thí chữ (hảo) do hai bộ kiện là chữ Hán đơn thể biến hình mà thành là (nữ) và (tử) – hai bộ kiện này đều là thiên bàng; chữ (thùy) do hai bộ kiện thành chữ là (ngôn) và (chuy) tạo thành.
Đối với chữ Nôm, một số lượng chữ Nôm cũng tạo chữ theo phương pháp này, nhưng trong chữ Nôm, phụ kiện làm chức năng là thành tố chỉnh âm nhiều hơn biểu thị ý nghĩa, thành tố biểu thị ý nghĩa đa phần là một chữ Hán đơn thể. Thí dụ, chữ 𢒂 – chín (số 9) do bộ kiện (sam)  và chữ (cửu) hợp thành; chữ – làm, do việc giản lược chữ trong nguyên thể chữ , tức chỉ mượn bộ trảo phía nửa trên của chữ để chỉ toàn thể ý nghĩa, thì trường hợp này không thể gọi là bộ kiện được vì đây là nguyên thể chữ mà thành. Giáo sư Nguyễn Ngọc San đã dẫn ra trường hợp của chữ – làm như sau: “về chữ thường được xếp vào ô hội ý như đã biết P. Schneider xếp vào ô đọc theo nghĩa, có lẽ làm ông cho rằng nó viết tắt từ chữ . Quả thực chữ là chữ viết tắt nhưng không phải từ chữ mà là từ chữ (lạm).[NNs;47].
-         Bộ thủ trong chữ Hán biểu thị một lượng ý nghĩa tượng hình rất lớn, nhờ vào bộ thủ chữ Hán – Nôm mà người tìm hiểu, tiếp xúc với văn bản Hán – Nô có thể truy ra được nghĩa, cấu tạo và hài thanh cách đọc. Học và ghi nhớ chữ Hán bằng phương pháp ghi nhớ các bộ thủ cũng nhằm giúp tối ưu hóa việc tri nhận chữ viết trong thời gian đầu tiếp xúc với học phần. Dần dần, vốn chữ Hán và việc ghi nhớ âm Hán Việt tăng dần và bản thân người học có thể tự phân biệt được các cụm từ, từ chữ Hán có kết cấu âm đọc đồng âm, khác nghĩa.
Thí dụ, ta có thể phân biệt được hai chữ Hán đồng âm sau qua việc tra ra hình dạng của chữ viết, trong khi đó viết bằng chữ Quốc ngữ thì ta khó có thể phân biệt nghĩa và phải phụ thuộc vào văn – ngữ cảnh trong văn bản.
Số nét, bộ thủ
11 nét, bộ (thủy)
17 nét, bộ (nhĩ)
8 nét, bộ (thanh)
âm Hán Việt
Thanh> trong
Thanh> âm thanh
Thanh>màu xanh
âm tiếng Quan Thoại (Pinyin – 拼音)
/qīng/
/sheng/
/qīng/

Bảng 15: Phân biệt chữ Hán đồng khác nghĩa qua phương pháp tra hình dạng chữ viết
Phân biệt chữ đồng âm, cận âm trong chữ Nôm nhờ vào quan sát bộ thủ cấu tạo:
𠄼
𢆥
𩵜
Năm
>số 5
Năm
>năm tháng
>cá nhân
>con cá
>gật gù
>chim bồ câu
Bộ thủ
(ngũ)
(niên)
(trúc)
(ngư)
(nhục)
(điểu)

Như trên, ta thấy ba chữ Hán đồng âm cùng âm “thanh” nhưng khi viết ra bề mặt tự dạng thì rõ ràng sự khác nhau là dễ nhận biết. Trong các cụm thành ngữ Hán Việt, cát ngữ, phúc ngữ trong các câu đối hoành phi sau khi được phiên âm Hán Việt thì từ đồng âm rất dễ gây hiểu lầm trong sự suy đoán nghĩa. Thí dụ cụm cát ngữ “sinh ý hưng long”, chữ “long” nếu không thể hiện bằng chữ Hán thì đa số sẽ được qui ra nghĩa là “rồng” trong nguyên thể chữ hay . Đã có trường hợp giải nghĩa sai hai chữ “hưng long” mang đến cách diễn đạt ngô nghê thiếu logic: “Hưng Long mang ý nghĩa con sẽ như loài rồng mạnh mẽ, trí tuệ tinh anh, mang đến hưng thịnh, sung túc cho cả gia đình” [huggies]. Nhưng thực ra chữ “long” trong cụm cát ngữ này là “” có nghĩa là sự thịnh đạt lớn lao – khi mang chức năng từ loại “hình dung từ” (形容詞 – Hán ngữ hiện đại), khi là động từ (動詞) có nghĩa là “sưng tấy lên” (nguyên văn: 𦂽起头上隆起一个包). Vì vậy, trong cụm “sinh ý hưng long” - 生意興隆 có nghĩa là mua bán phát đạt. Đây chỉ là trong số một trong những ví dụ nho nhỏ để có thể làm tiền đề để người học ban đầu tiếp xúc với văn bản, lần lượt phân biệt các từ đồng âm, đồng nghĩa để có thể sử dụng từ ngữ Hán Việt chính xác nhất có thể, từ đó nắm vững các phương thức tạo từ của từ gốc Hán Việt trong văn bản Hán văn cũng như tạo lập văn bản tiếng Việt. Trong đó đảm bảo tốt các yêu cầu về chính tả, văn phong và phong cách nghĩa chức năng của từ. Từ chính điểm này, nếu người học vận dụng phương pháp ghi nhớ chữ theo bộ thủ và tự dạng thì việc sử dụng và giải nghĩa từ Hán Việt đồng âm, cận âm sẽ đạt được hiệu quả trong viết lách, tạo lập văn bản.
-         Ghi nhớ, phân tích từ đa âm và đa nghĩa trong chữ Hán và chữ Nôm bằng phương pháp tra tự điển.
Thứ nhất, trong chữ  Hán có nhiều chữ có thể có từ hai âm đọc trở lên và ở mỗi âm đọc sẽ có cách tạo nghĩa khác nhau, tùy vào chức năng từ loại mà nó biểu đạt. Thí dụ chữ có hai âm đọc là “thượng” và “thướng”, theo Hán Việt tự điển (Thiều Chửu 2009), khi chữ làm chức năng từ loại tính từ thì đọc là “thượng”, như 上部 – thượng bộ: bộ (bên) trên hay 上卷 thượng quyển. Khi chữ làm chức năng từ loại động từ thì đọc là “thướng”, như 上堂 – thướng đường: lên thềm hay 上書 – thướng thư: dâng tờ thư,... [TĐHVTc; 2].
Áp dụng để có thể giải nghĩa và phiên âm đúng một văn bản chữ Hán, ta cần hết sức chú ý đến âm đọc và nghĩa mà từ điển đã quy định, không nên cảm tính vào thành tố âm đọc đã quen thuộc. bởi vì trong chữ Hán Nôm chỉ cần một chữ đã thay đổi bộ kiện hay bộ thủ đi thì âm đọc và nghĩa đã hoàn toàn khác nhau.
Thí dụ, trong một ngữ liệu Hán văn, khi cần tra tự điển để có thể phiên âm đúng và dịch nghĩa của văn bản thì người tiếp cận văn bản cần nắm được khái niệm chữ Hán có vấn đề đa âm đọc. Cần phân biệt những trường hợp độc âm (tức chỉ có một âm) và đa âm (từ hai âm trở lên) và nắm được các chức năng từ loại xuất phát từ thành tố âm đọc. Chúng ta thử quan sát một đoạn ngữ liệu sau bằng chữ Hán nguyên bản sau:

遊九龍江
                      葉伯農
江楓漁火繞炊湮
阡陌連綿遍綠川
魚米之鄉天獨厚
水上泛舟聽管弦
[Mgtt3; 58]
Phiên âm:
Du Cửu Long Giang
                                                 Diệp Bá Nông
Giang phong ngư hỏa nhiễu xuy (xúy) yên (nhân),
Thiên mạch liên miên biên (biến) lục xuyên.
Ngư mễ chi hương thiên độc hậu,
Thủy thượng (thướng) phiếm chu thính quản huyền.
Dịch nghĩa:
Chơi sông Cửu Long
           Diệp Bá Nông
Cây phong bên sông và lửa chài khói tỏa bay,
Bờ ruộng liên miên màu xanh trải khắp sông này.
Trời hậu đãi chỉ độc cho quê hương của lúa và cá này,
Con thuyền nổi trên sông nghe tiếng sáo đàn.

Trong phần dịch nghĩa, chúng tôi đã dựa trên cơ sở những từ được in đậm – nghiêng trong phần phiên âm để từ đó tra nên nét nghĩa tương đương nhất. Thiết nghĩ việc lược dịch, phiên chuyển từ nguyên văn chữ Hán sang phiên âm và nghĩa tiếng Việt, nhất nhất cần phải tích lũy được một số kiến thức và có một quá trình tiếp cận với văn tự Hán Nôm lâu dài, nhưng trong học phần Hán Nôm, các giải pháp được đề ra cũng nhằm làm nền tảng cho người học, cho sinh viên tự nghiên cứu và có thể phát triển các kỹ năng tư duy trong văn bản trong ngôn ngữ tiếng Việt bằng các thủ thuật có thể thực hiện tại chỗ và sẵn có.
Một phương pháp khác, khá phổ biến và mang nhiều ý nghĩa văn chương hơn, đó là phương pháp “chiết tự”. Thực sự đây là một trong những cấu tạo của Lục thư trong chữ Hán, giúp người tiếp nhận văn bản Hán Nôm có thể hiểu rõ sâu hơn về ba phương diện: hình – âm – nghĩa của chữ, và từ đó có thể nắm được nghĩa khái quát của cả văn bản.
Trong bài giảng “Hán văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú đã dẫn ra phương pháp học này trong bài thơ “Chiết tự” của Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Qua đó, người học chữ Hán nền tảng cơ sở sẽ hiểu sâu hơn về kết cấu và diễn biến cấu tạo của chữ Hán qua phương pháp chiết tự. Từ một chữ Hán đơn hay hợp thể cơ sở, kết hợp thêm với một bộ thủ để hàm ý chuyển sang một nét nghĩa mới hay chuyển thành tố âm đọc sang một dị âm khác – cũng nhằm vào trong tính chất đa âm của chữ Hán.
Thí dụ
Nguyên văn chữ Hán
Phiên âm
折字
(1) 人出去或為
(2) 過頭時始見
(3) 有憂愁優點
(4)  開竹閂出真
Chiết tự
nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.
[VVH; 124]
Trong bài thơ “Chiết tự”, phương thức tách chữ, thêm chữ hoặc thêm bộ kiện, bộ thủ được diễn biến trong các chữ đầu dòng thơ và chữ cuối cùng mỗi dòng thơ chính là thành quả của quá trình tách – chiết chữ đó. Ta có:
Dòng (1), chữ  nhân sau khi bỏ chữ đi chữ nhân trong bộ bi thêm chữ hoặc thành chữ quốc.
Dòng (2), chữ hoạn sau khi bỏ đi một bộ khẩu thành chữ trung (trung thành).
Dòng (3), chữ nhân thêm một nét ngang thành chữ đại.
Dòng (4), chữ lung bỏ đi bộ trúc trên đầu còn lại chữ long (rồng).
Chúng tôi trong quá trình thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trong nước và ngoài nước và các bằng hữu nghiên cứu về Hán ngữ, Hán tự hiện đại hiện nay, một số tài liệu đa phần được trích yếu theo cách nghiên cứu của tiếng Hán và chữ Hán giản thể cho nên việc giải thích từ vựng cũng chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định, khó có thể định hướng nghiên cứu sâu hơn vào trong chính nội thể các khái niệm ngôn ngữ học. cách giải thích đa nguồn nhưng chủ yếu chũng chỉ bám vào một số tài liệu tin cậy về các chuyên gia ngôn ngữ, nghiên cứu về Hán Nôm hiện nay và một số tác giả như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Khuê,...
2.1.3. Nhận dạng các dạng Thư thể trong chữ Hán – Nôm
 Thư thể (書體) chính là các dạng chữ viết hay các kiểu chữ của chữ tượng hình được thể hiện khác nhau trong chữ Hán và chữ Nôm qua các thời kỳ hình thành và phát triển của các cách viết qua các triều đại sử dụng chữ tượng hình. Đối với chữ Hán, các thư thể đã trải qua quá trình hình thành từ chữ tượng hình thuở ban đầu trên Giáp cốt (甲骨) rồi Kim văn (金文). Cho đến ngày nay chữ Hán – Nôm đã được định hình và hiện thị như trên văn bản tin học. Các thư thể chính đó là: Triện thư (篆書), Lệ thư (隸書), Khải thư (楷書), Hành thư (行書), Thảo thư (草書).
Theo tác giả Trần Đình Hữu (Trung Quốc) thì “các kiểu chữ thường dùng của thư pháp Trung Quốc có khoảng 10 loại” [TpTQ; 20]; trong đó các thể chữ Khải – Hành – Thảo là những thư thể thường dùng trong cuộc sống hằng ngày trong các văn bản viết tay, các dạng tự thiếp của thư pháp và thể hiện trong mỹ thuật. Các thư thể còn lại rất ít sử dụng , chỉ còn có thể bắt gặp trong nghệ thuật viết thư pháp Hán Nôm, trong đó Triện thể còn được sử dụng để khắc dấu ấn cho đến ngày hôm nay. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu và trích yếu từ góc độ thư pháp xin trình bày mô phỏng một số đặc điểm của các thư thể sau:
2.1.3.1. Khải thư (楷書)
Đây là kiểu chữ thông dụng và ổn định sử dụng lâu dài nhất trong chữ Hán cũng như chữ Nôm. Đặc điểm của Khải thư là nét chữ chuẩn mực, bố cục nghiêm ngặt, tốc độ viết các nét chữ tương đối chậm. Hình dáng dễ nhìn và rất dễ phân biệt, chữ Khải thường dùng trong các văn bản hành chính, các sắc phong của triều đình phong kiến, bia mộ chí, các ấn phẩm sách vở.
漢喃字典

Thể chữ Khải thư được sử dụng trong in ấn và trên màn hình máy tính hiện nay
Hình 4: Chữ Hán Khải thể mô phỏng theo phong cách của nhà
thư pháp Liễu Công Quyền đời Đường

2.1.3.2. Hành Thư (行書)
Hành thư xuất hiện sau khải thư, xuất phát từ nhu cầu ghi nhanh với một tốc độ vừa phải nhưng rất đảm bảo hiệu quả mĩ thuật trong đường nét. Hành thư là thư thể đứng giữa cân đối giữa Thảo và Khải thư; giữa các nét bút thường có sự liên đới nhất định, vận bút đơn giản nhẹ nhàng và tương đối dễ nhận dạng mặt chữ. Hành thư thường dùng trong việc viết thư tay hằng ngày và các biển chữ cần tạo nên cá tính nghệ thuật. Tác phẩm “Lan đình thiếp” 蘭亭帖của Thư thánh Vương Hy Chi 王羲之 là một trong những tác phẩm thư pháp về chữ Hành thư mẫu mực hiện nay còn lưu giữ tại bảo tàng Cố Cung Bắc Kinh Trung Quốc.
                                                                                                                 [TPTQ;11]
Hình 5: Tác phẩm Lan Đình tự tập (蘭亭帖) kiểu chữ Hành thư của Vương Hy Chi (Phùng Thừa Tố đời Đường mô phỏng lại)
2.1.3.3. Thảo thư (草書)

Thảo thư là cách viết kết hợp giữa các nét chữ bằng một nét liền bút và hầu như rất ít có sự hồi phong (hồi bút), Thảo thư chủ trương giản lược các nét của chữ viết đến mức tối giản nhất. Cách viết của Thảo thư đã “phá vỡ đi hình khối vuông của chữ Hán, đường nét múa uốn lượn, nét bút nối liền, sinh động mà khí thế” [CHTQHgđ; 46]. Thảo thư có nhiều cách viết thể hiện khác nhau, tùy định tính nghệ thuật của người viết. Thực sự, thảo thư là cách viết do tự hình thành trong quá trình đào luyện chữ viết, trong quá trình đó con người theo đuổi tính mĩ học trong đường nét của bút lông và mực mà tạo nên Thảo thư. Các loại Thảo thư thường gặp là Cuồng Thảo, Chương thảo và Kim Thảo. Một trong những tác phẩm chữ Hán được viết dưới dạng Thảo thư – Cuồng thảo nổi tiếng nhất trong lịch sử Thư pháp đó là “ Tự tự thiếp” của Hoài Tố (đời Đường) hiện còn đang lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc – Đài Loan.
Hình 6: Một phần tác phẩm “Tự tự thiếp” kiểu chữ Cuồng thảo
của Hoài Tố, đời nhà Đường [TpTq; 79]
2.1.3.4. Triện thư (篆書)
Sau khi kết thúc giai đoạn Giáp cốt văn và Kim văn, chữ Hán bắt đầu có sự tiến triển thành thư thể thống nhất, trong đó Triện thư là thư thể được bắt đầu sử dụng chính thức vào đời nhà Tần, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ trong đó có chữ viết và các đơn vị đo lường. Triện thư bao gồm hai loại: tiểu triện và đại triện. Tiểu triện “là một thể chữ rất đẹp , hình thể chữ nhật vuông vức, kết cấu đối xứng ngay ngắn, nét bút tròn lượn tuyệt đẹp, nét đậm nét nhạt nhìn vô cùng đẹp mắt[CHTQHgđ; 38], và tiểu triện chính là thư thể được sử dụng chính vào đời Tần. Trong đó, nếu truy ra nguồn gốc thì chữ trên Giáp cốt chính là nguồn gốc của Triện thư sau này. Hiện nay, chữ Hán ngày càng giản thể hóa “Triện thư sẽ rất khó nhận biết mặt chữ, nhưng lại mang một sức hấp dẫn về nghệ thuật và cảm giác thần bí” [TpTQ; 21], riêng ngày nay, chữ Triện vẫn còn sử dụng để khắc trên con dấu thư pháp, ấn chương thư họa. Bia tiến sĩ ở Văn miếu Hà Nội đa phần có khắc chữ Triện trên phần đầu đề của bia đá nhằm tạo cảm giác trang trọng và tính thẩm mĩ sang trọng.
Hình 6: Bản dập bia đá chữ Đại triện
Hình 7: Các ấn chương sử dụng trong thư họa

2.1.3.5. Lệ thư (隸書)
Lệ thư là thư thể phát triển nên từ dòng dõi của Triện thư, và là thế hệ thứ hai của Triện thư. Lệ thư chủ yếu sử dụng rộng rãi từ đời nhà Hán, nét bút của Lệ thư bắt đầu chuyển biến từ độ dày của chữ Triện sang nét mảnh và có hình dáng “đầu tằm đuôi én”. Hình dáng của Lệ thư hơi dẹp và có độ rộng hẹp nhất định. So với các thư thể khác thì Lệ tương tự như Triện được dùng khắc trên thẻ tre (竹簡 trúc giản) và trong nghệ thuật thư pháp là chủ yếu.

Hình 8: Bản thư pháp viết mô phỏng theo Lệ thư

Nhìn chung, đa số ngày nay ở Việt Nam ta ngoài giới nghiên cứu Hán Nôm và những nhà thư pháp am tường về các thư thể này. Cho nên việc sinh viên ngành Văn học khi học học phần Hán Nôm chưa thể phân biệt được đâu là Khải thư và Thảo thư như trong khảo sát thì cũng là bình thường. Bởi để có thể nhận dạng các thư thể này cần có niềm đam mê nghiên cứu chữ Hán, Nôm và các dị dạng hình thể cũng như quá trình biến đổi của nó. Và một phần các thư thể này có liên quan mật thiết với việc tin học hóa Hán Nôm cũng như nghệ thuật thư pháp.

2.1.4. Phân biệt chữ Hán và chữ Nôm
2.1.4.1. Đặc điểm và cách nhận dạng chữ Hán và chữ Nôm
Chữ Hán và chữ Nôm là hai khái niệm rất rạch ròi về nghĩa và mục đích sử dụng. Chữ Hán được đọc theo âm Hán Việt ở tại Việt Nam và được đọc theo nhiều âm đọc của các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa và văn tự Trung Hoa. Chữ Nôm là loại chữ viết cùng hình dáng tượng hình như chữ Hán nhưng chức năng chính của chữ Nôm là dùng ghi âm tiếng Việt, do người Việt Nam sáng tạo nên từ cơ sở nền tảng là chữ Hán. Theo giáo sư Nguyễn Ngọc San thì chức năng chính yếu của chữ Nôm từ khi ra đời tự bản thân nó đã khẳng định được mục đích của ngôn ngữ tiếng Việt: “cùng với sự phát triển của nhu cầu ghi chép nền văn hóa Việt, chữ Nôm cũng càng ngày càng phát triển và tự hoàn thiện để việc ghi chép tiếng Việt được hữu hiệu hơn.” [Nns;21]. Như thế, với một văn tự là chữ Hán dùng làm công cụ ghi chép ngôn ngữ, tuy nhiên chính chữ Hán cũng nhằm vào chức năng ban đầu thay thế cho việc ghi chép lại những sự việc mà nước ta chưa có chữ viết và chữ Hán và tiếng Việt sau giai đoạn tiếp xúc với tiếng Hán thì hai lại ngôn ngữ này có chung đặc điểm chính là loại hình ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, có thanh điệu và phù hợp với việc sữ dụng chữ Hán để ghi âm và biểu thị sự việc. Do vậy, đến ngày hôm nay trong một văn bản văn tự tượng hình trong học phần Hán Nôm, nếu không tách bạch rõ ràng thì sinh viên, người học rất khó phân biệt đâu là chữ Hán và chữ Nôm. Nguyên nhân chính do vấn đề đồng loại về loại hình (hình khối, biểu ý) giữa hai văn tự nhưng tính chất và cấu tạo cũng như mục đích sử dụng thì khác xa nhau.
Chữ Hán và chữ Nôm tương đồng nhau về mặt loại hình, khác về mục đích và tính chất sử dụng: Chữ Hán là những ký tự đã được cố định và rất ít có sự phân chuyển, biến hình như chữ Nôm. Chữ Hán có cách viết và cách đọc rất hệ thống và mặc định. Trong khi đó, chữ Nôm với rất nhiều tiểu loại cấu tạo và khả năng biểu đạt nghĩa của đơn vị từ tiếng Việt rất cao nên nó có khả năng phân hóa thành các tự dạng không thống nhất với nhau về mặt lịch đại văn tự. Cách viết chữ, phương thức tạo chữ chưa thật sự đồng nhất, do đó hệ thống âm đọc đôi khi rất phức tạp và rất khó hiểu, do phải truy âm đọc và nghĩa theo kiểu vừa đọc vừa đoán.
Thí dụ: các chữ Hán như (thi – thơ), (quan – xem), (bì – da) là những chữ Hán mặc định về nghĩa và các thành tố âm đọc, đôi khi có sự biến âm đôi chút như chữ “quan” có hai âm là “quán” và “quan”, và các âm đọc này chỉ đọc khác nhau về dấu khi bản thân từ có sự chuyển biến về mặt từ loại trong văn cảnh. Lấy thí dụ một trường hợp của chữ , nếu thể hiện nghĩa thuần Việt của chữ này bằng tiếng Việt – tức sang chữ Nôm thì ta có:
- (thi) nghĩa là “thơ”, ta có chữ “thơ” bằng chữ Nôm có các tự dạng theo các cách cấu tạo, gồm: [F1]; [F2]; [F3]; [F4]; 𠽔 [F5]; 𡮲 [F6]; 𦭟 [F7]
Ký hiệu
Âm Hán Việt (â.HV)
Âm Nôm
(â.N)
Dạng cấu tạo chính
[F1]

Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
[F2]
tha
tha, thơ, thà, thè
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
[F3]
thư
thư, thơ
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
[F4]
thi
thi, thơ
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
[F5] 𠽔

thơ, thưa
Chữ Nôm, nguyên từ chữ (sơ), thêm bộ “”(khẩu) biểu ý
[F6] 𡮲

thơ
Chữ Nôm, nguyên từ chữ (thi), thêm chữ “” biểu ý
[F7] 𦭟

thơ
Chữ Nôm, nguyên từ chữ (tha), thêm bộ “”(thảo) biểu ý
Bảng 16: So sánh cấu tạo của chữ Nôm giữa chữ Nôm mượn từ chữ Hán với
chữ Nôm sáng tạo
Trong đó, chúng tôi tìm ra được một dạng cấu tạo khác, hay nói chính xác hơn cách viết giản thể hóa nét chữ của chữ mang ký hiệu [F7] 𦭟. Chữ [F7] được chúng tôi tra cứu từ Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu (2009), thì chữ “𦭟” được giản thể hóa nét từ nguyên thể chữ “” (thi), nếu đi chung chung với chữ “” (quyển) thì hàm nghĩa chỉ một loại thực vật [TđHvTc; 833]. Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng trong nội hàm một chữ Hán khi được dịch, được phiên chuyển nghĩa sang chữ Nôm thì bản thân nó có thể biến hóa ra hai, ba trường hợp: một, từ bản thân là chữ Hán, để biến chuyển thành chữ Nôm thì nó có thể mượn từ nguyên thể chữ Hán, sau đó biến đổi thành gốc âm đọc Hán Việt sang thành âm Nôm (trường hợp từ F1 đến F4); hai, để thể hiện nghĩa của nó sang nghĩa thuần Việt và tạo chữ độc lập, chữ Nôm có thể lấy một chữ Hán nguyên thể có thành tố âm đọc gốc Hán Việt tương đồng về phụ âm để biểu âm, lấy một bộ thủ hay một chữ Hán đơn thể có hàm nghĩa chỉ sự vật biểu ý (trường hợp F5 và F6);  Cuối cùng, có thể lấy một trong cụm từ Hán Việt độc lập, tách ra thành một đơn vị từ đơn tiết và lấy nó làm chữ Nôm biểu thị âm đọc (trường hợp F7).
Trên đây là sự phân tích và tổng hợp chỉ ra một vài trường hợp cá biệt và có thể thấy được tính chất và phương thức tạo chữ và tạo nghĩa của chữ Nôm như thế nào. Tuy nhiên, trong bản thân so sánh giữa sự khác biệt giữa hai loại văn tự Hán và Nôm cũng cần được đặt trên một cơ sở cân xứng hơn: cơ sở loại hình ngôn ngữ và cơ sở loại hình văn tự. Và để chỉ ra được sự khác biệt giữa hai loại chữ viết này cơ bản nhất theo chúng tôi có một số cách thức phân biệt như sau:
(a)  Theo giáo sư Nguyễn Ngọc San, khi phân biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm, “trước nhất những chữ Hán xuất hiện trong văn bản Nôm mới là chữ Nôm, nghĩa là nó vừa xuất hiện trong văn bản Hán vừa xuất hiện trong văn bản Nôm” [NNs;34]. Dẫn theo lý thuyết trong công trình “Lý thuyết chữ Nôm, văn Nôm” của giáo sư Nguyễn Ngọc San xin trích dẫn phương pháp tách biệt chữ Hán và chữ Nôm trong công trình này qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1:  phân định phạm vi giao thoa của chữ Hán và chữ Nôm [NNs;34]
Theo đó ta có, vòng A là các chữ Hán có trong văn bản Hán văn; vòng B là các chữ Nôm có trong văn bản Nôm. Phạm vi trong khoang I gồm các chữ Hán không xuất hiện trong văn bản Nôm, phạm vi khoang II gồm các chữ Nôm không bao giờ xuất hiện trong văn bản Hán. Cuối cùng, phạm vi khoang III là các chữ Nôm đã được tạo ra từ việc chuyển hóa từ chữ Hán ở giữa phạm vi khoang I và II.
Thí dụ: Chữ Hán có thể biến chuyển qua lại giữa chữ Hán và chữ Nôm tức vừa làm chức năng trong hai loại văn tự.
“NỖI NIỀM ĐÊM VẮNG
𠓇𦝄𠓀
𨕭坦擬罗霜
仰頭𥉫𦝄𠓇
儈頭𢖵圭鄕
Sáng trăng chiếu trước giường,
Trên đất nghĩ là sương.
Ngẩng đầu trông trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê hương.
KHUYẾT DANH – Bản B” [Đtqâcb; 228]
Như thế trong văn bản trên, ta tách ra được các chữ Hán được mượn dùng chuyển hóa âm đọc sang âm tiếng Việt: ,牀坦擬罗霜仰儈頭圭鄕 là các chữ Hán được mượn nguyên thể và đọc chệch âm. Đây là các chữ Hán trong văn bản Nôm, và các chữ còn lại chính là chữ Nôm được tạo ra từ cơ sở một bộ thủ biểu ý và một chữ Hán làm thành tố âm đọc. Cách chữ Nôm này hay nói một cách khác là sự điều chỉnh âm đọc để chuyển hóa thành tiếng Việt mang chức năng ghi âm. Và các chữ Nôm này chính là thành phần được nằm trong phạm vi khoang III trong sơ đồ trên.
Cách thức thực hiện phương pháp này có thể dựa vào việc tra tự điển chữ Nôm hay tự điển Hán Việt. Tuy nhiên, sau khi sinh viên, người học đã học cấu tạo của chữ Hán, các thành tố các tiểu loại cấu tạo chữ Nôm thì việc tách chiết các bộ thủ và các chữ của chữ Hán – Nôm là một việc rất dễ dàng thực hiện. trong đó chỉ cần nhìn và quan sát kỹ các bộ thủ của chữ để tìm ra được sự phân định chính xác nhất.
(b)  Căn cứ vào dặc điểm hình thể của chữ Nôm và chữ Hán, chúng tôi tạm thời tách biệt chữ Nôm thành hai loại chính để có thể ứng dụng vào trong việc phân biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm. Bao gồm: một, chữ Nôm mượn từ nguyên chữ Hán đọc chạy âm, mượn nghĩa và không mượn âm hoặc mượn cả âm lẫn nghĩa; hai, chữ Nôm sáng tạo từ việc ghép giữa một chữ Hán biểu âm và một bộ thủ biểu ý.
(1) Chữ Nôm mượn từ chữ Hán
(2) Chữ Nôm sáng tạo

Đọc chạy âm, chệch âm để nhằm chuyển từ chức năng biểu ý của chữ thành chức năng biểu âm. Chữ mượn nghĩa, không mượn âm nhằm việc hướng đến tạo nên định hướng âm đọc thống nhất cho chữ đó trong văn bản Nôm.

Thành tố biểu âm có chức năng điều chỉnh âm đọc của chữ Nôm chính xác; định hướng âm tiết cho cách đọc.
Ví dụ
trạo>chèo; yêu>eo; bạc>bạc; mạt>mát; trù> chùa; 東西南北> đông tây nam bắc,...
𠸛 tên; 𥄬 ngủ; 𢆥 năm (năm tháng); 𠄼 năm (chữ số 5); 𦓅>già; >quét; 𢯦>lay (lung lay)
Bảng 17: So sánh đặc điểm giữa chữ Nôm mượn từ chữ Hán và chữ Nôm sáng tạo
Trong (1), những chữ Nôm được tạo ra từ chữ Hán có một điểm chung nhất đó là thành tố âm đọc Hán Việt được sử dụng để tạo nên những từ Hán Việt và sử dụng chính thức trong tiếng Việt ta và chính từ điểm này, các từ có chứa yếu tố Hán Việt đã Việt hóa qua việc vay mượn. Theo đó, truy về nguồn gốc của việc vay mượn trong tiếng Hán, theo giáo sư Nguyễn Văn Khang thì “có thể phân loại từ mượn Hán thành hai loại: từ mượn Hán theo con đường khẩu ngữ và từ mượn Hán theo con đường sách vở (bác học)” [Ng.vKhang; 102]. Theo phân tích của chúng tôi trên cơ sở phân biệt giữa loại hình văn tự, chúng tôi suy luận rằng chỉ có thể qua con đường sách vở tức sự tiếp nhận bác học nên mới xảy ra sự vay mượn và tiếp xúc với từ - chữ Hán theo âm đọc Hán Việt song song. Từ đó, phương thức tạo chữ trong chữ Nôm đã được hình thành qua đặc điểm vay mượn âm – nghĩa của chữ Hán để tạo nên chữ Nôm và một số lượng chữ Hán làm chữ Nôm không thông qua giai đoạn tạo chữ sáng tạo.
Như vậy, phương pháp chủ yếu trong phương pháp (b) này chính là quan sát bộ thủ cấu tạo và nhận diện được đâu là những chữ Hán làm chức năng âm đọc, mượn nghĩa để làm chữ Nôm; những chữ Hán được cấu tạo – kết nối với nhau theo hình thức chỉnh âm – biểu ý thì đó là chữ Nôm.
(c)   Ngày nay, việc tin học hóa Hán Nôm trong phân ngành Hán Nôm cũng như học phần Hán Nôm cần thiết hơn bao giờ hết. Nếu như chính vào chi tiết mà chúng ta vô tình phủ nhận đi các phương thức nhập liệu Hán Nôm “truyền thống” như viết bằng tay, phân định chữ Hán – Nôm bằng các thủ thuật thường thì có lẽ đây là một góc nhìn chủ quan, thiêng lệch. Trong cách phân định giữa hai loại văn tự này, chúng tôi ứng dụng từ việc tách chiết chữ Hán Nôm qua thủ thuật tin học đơn giản nhằm giúp cho tiến độ học tập của sinh viên, công việc nghiên cứu phân định chữ viết được nhanh chóng hơn.
Thí dụ: cho hai đoạn ngữ liệu sau, hãy phân định đâu là chữ Hán đâu là chữ Nôm.
Đoạn (a1)
春遊蓮潭 - 劉子彬
黄昏践約小橋西,
漫步花間夜色迷.
繾綣兩情唯月見,
三盟海誓證椰堤.
[Mgtht; 48]
Đoạn (a2)
𩙋𦹳篭帳錦
𣌝𤏬論茄鐄
㙴玉花𨅮𦬑
𤄯𦹵鄧香
樓高𡥵𡛔𢱖
𣘃碧㗂𪃿
桃李𣈜春卒
 宮仙餒𢖵
                                                                    [Đtqâcb;182]
Quan sát hai văn bản trên (a1) và (a2), ta thấy hai dạng phông chữ (font) chữ Hán Nôm có sự khác nhau rõ rệt. Trong hệ điều hành Win.7 và Word 2003 khi thực hiện nhập văn bản Hán Nôm thì chữ Hán sẽ có hình dạng theo chuẩn Khải thư, chữ Nôm sẽ theo dạng Tống thể phỏng theo dạng viết tay hay Hắc thể bản chữ in. Chúng ta có thể quan sát sự khác nhau giữa các thể chữ sau:
Tống thể
(songti hay細明體_HKSCS-ExtB)
Hắc thể
(Heiti hay Simhei)
Khải thể
(kaiti)
Hình thức hiển thị của chữ Nôm
Hình thức thể của chữ Nôm
Hình thức thể hiện của chữ Hán
Sử dụng phương thức nhập liệu Hán Nôm Hanokey 3.0 của Tống Phước Khải trong Word 2003 (W.03) thì chữ Nôm không thể nào thể hiện được hình dạng của mình trong font Khải thể. Qua bảng trên, ta thấy rõ ràng giữa hình dáng của chữ (Nôm) và (Hán) có sự khác nhau rõ ràng về font chữ. Như thế, đối chiếu vào hai đoạn ngữ liệu trong (a1) và (a2), ta rõ ràng nhận diện ra văn bản (a1) là văn bản chữ Hán và (a2) là văn bản Nôm; trong văn bản (a2) thì các chữ Nôm được mượn từ nguyên thể chữ Hán không qua quá trình tạo chữ của chữ Nôm là những chữ được hiển thị theo dạng Khải thư (kaiti), còn chữ Nôm sáng tạo thì chỉ hiển thị dưới định dạng của Tống Thể (songti hay細明體_HKSCS-ExtB) và Hắc thể (Heiti hay Simhei). Cho nên nếu dựa vào đặc điểm thể chữ trong tin học ta có thể dễ dàng nhận dạng và phân biệt đâu là chữ Nôm và chữ Hán một cách nhanh chóng.
Một cách khác để có thể nhận dạng và cũng là phương pháp trra tự điển Hán Nôm trực tuyến hay ngoại tuyến trong điện thoại thông minh hay trên bàn phím viết tay của máy tính dưới chế độ “中文手写” (Trung văn thủ tả - zhongwen shouxie) – tức bàn phím viết tay thì khi ta viết tay một chữ Hán – Nôm vào màn hình sẽ hiển thị ra ngay chữ mà ta cần nhập. Nếu chữ viết nhập vào là chữ Hán thì hệ thống tự khắc nhận biết và cho ra chữ, nếu nhập vào chữ Nôm sáng tạo không vay mượn từ chữ Hán thì hệ thống sẽ không thể cho ra được tự dạng.

Thí dụ để nhập liệu chữ (danh) và chữ 𠸛 (tên) trong màn hình điện thoại thông minh (IOS) dưới chế độ 中文手写” ta chỉ thấy ảnh của chữ hiển thị nên đúng chữ cần nhập; còn chữ Nôm 𠸛 thì hệ thống lại cho ra chữ không đúng.

                            Chữ Hán (danh)
Chữ Nôm 𠸛 (tên) không thể hiện trên bàn phím IOS chữ Hán
Hình 5: Mô phỏng bàn phím viết tay chữ Hán trong điện thoại thông minh (IOS) và cách phân biệt Hán – Nôm bằng phương pháp nhập liệu
2.1.4.2. Vận dụng vào dạng bài tập sử dụng chữ Nôm
Trong dạng bài tập sử dụng chữ Nôm để chuyển ngữ từ chữ Quốc ngữ sang chữ Nôm hay đơn giản viết một đoạn văn bằng chữ Nôm giới thiệu về bản thân,... đều cần đến các kĩ năng sử dụng chữ Nôm mượn từ chữ Hán trong thành tố chuyển âm đọc hoặc sáng tạo nên chữ Nôm hay mượn chữ Nôm đã được định hình từ trước. Sau đây, chúng tôi mô phỏng một dạng bài tập điển hình trong học phần chữ Nôm trong cách vận dụng kiến thức về chữ Hán, Nôm cũng như sử dụng khả năng tạo chữ, chọn chữ Nôm trong phương pháp nhập liệu Hán Nôm.
·        Viết một đoạn văn ngắn bằng chữ Nôm giới thiệu về môn Văn học Việt Nam trung đại bằng chữ Nôm, có chú thích lại bằng chữ Quốc ngữ.
Chữ Nôm:
門文學中代罗沒學份𤁘專梗文學在場大學芹詩. 低罗門學哏連貝仍𢏿建識衛𡦂𡦂喃供如各人物𤁘歷史越南時中代如阮廌陳興道吧各詩豪𡘯, 試喻如阮攸, 陳濟昌,胡春香。尋曉衛各這治文章藝術𤁘學份供正罗尋曉𠁀𤯨藝術𧵑吒翁些𤁘過去。正仍之節呢麻生員語文𣎏體積縲建識衛文學史朱本身吧發輝伮𤁘𥆾𥻙
Chú thích chữ Quốc ngữ:
Môn văn học trung đại là một học phần trong chuyên ngành Văn học tạo trường đại học Cần Thơ. Đó là môn học gắn liền với vốn kiến thức về chữ Hán chữ Nôm cũng như các nhân vật trong lịch sử Việt Nam thời trung đại như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo và các thi hào lớn, thí dụ như Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương. Tìm hiểu về các giá trị văn chương nghệ thuật trong học phần cũng chính là tìm hiểu về đời sống nghệ thuật của cha ông ta trong quá khứ. Chính những chi tiết này mà sinh viên Ngữ văn có thể tích lũy kiến thức về văn học sử cho bản thân và phát huy nó trong cách nhìn mới mẻ.
Dạng bài tập vận dụng và viết đoạn văn bằng chữ Nôm, hay một hình thức khác là dịch từ ngữ liệu Quốc ngữ sang chữ Nôm là một bài tập khá thú vị, giúp khả năng tư duy cho sinh viên và khả năng tạo từ, lựa chọn chữ viết chính xác nhất trong từng bộ thủ, trong từ thành tố âm đọc Hán Việt, kỹ năng phân biệt các từ và cụm từ gốc Hán để từ đó có thể rèn luyện được khả năng chính tả, sử dụng tiếng Việt ngày một tốt hơn. Thực tế, nếu truy ra khả năng viết đúng và dùng đúng từ tiếng Việt thực sự rất cần đến kiến thức Hán Nôm để giải thích xác đáng. Nhiều từ Hán Việt chỉ có thể viết đúng khi tra tự điển và dẫn ra được hình thể của chữ viết mới có thể chắc chắc, thí dụ từ “sáng lạng” nếu viết như thế này là sai chính tả và sai cả nghĩa tạo từ. Từ này âm đọc tương tự như thuần Việt nhưng thực sự nó là yếu tố Hán Việt, từ nguyên học của từ này trong hình thể chữ Hán là “燦爛” tức “xán lạn” mới chính xác. Mặt khác, dựa vào kỹ năng tra tự điển để hiểu đúng nghĩa từ nguyên học của các thì mới có thể dùng đúng, thí dụ từ “cứu cánh” nếu hiểu thông thường thì “cứu” là cứu giúp, “cánh” là đôi cánh (tay) tức giúp đỡ nhau, nhưng thực sự “cứu canh” trong hình thể chữ Hán là “究竟”, đọc là cứu cánh hay cứu kính đều đúng, có nghĩa là “cuối cùng”.
2.1.5. Phân biệt chữ Hán – Nôm giản thể và chữ Hán phồn thể 
2.1.5.1. Chữ Hán Phồn thể và Giản thể
Chữ Hán Phồn thể tức là chữ Hán được sử dụng từ khi hình thành và cơ bản đã hoàn thành từ trong quá trình tạo chữ. Chữ Hán Phồn thể hay còn được gọi là chữ Hán Chính thể (正體). Theo Từ Hải Hán điển, thì từ “chính thể” được viết gọn từ cụm “chính qui thể tự” (nguyên văn: 正規的體字) – tức chữ Hán chính thống không cải biến qua quá trình giản hóa nét viết.  Theo trang web điện tử “Bake.baidu.com” (百科) thì chữ Hán phồn thể đã bắt đầu được giản thể hóa từ những năm 50 của thế kỷ 20 trong cuộc cải cách văn tự của chính phủ nước Trung Hoa mà dần hình thành.
Nguyên văn tiếng Trung Quốc:
繁体中文即小篆演变为隶书(之后又出现楷书行书草书等书法)后产生的中文书写体系,目前已有二千年以上的历史,直到20世纪一直是各地华人中通用的中文书写标准。1950年代开始中华人民共和国官方在繁体中文的基础上所做的简化形成了新的中文书写标准,即简体中文。简体中文主要由传承字以及1950年代以后中华人民共和国政府开始推行的简化字所组成 [https://baike.baidu.com/item/繁体字]
Tạm dịch:
Tiếng Trung Phồn thể tức là từ chữ Tiểu Triện đã diễn biến từ Lệ thư mà thành (sau này xuất hiện Khải, Hành và Thảo thư cho đến nghệ thuật thư pháp). Sau đó sản sinh các thể hệ chữ viết trong tiếng Trung Quốc. Cho đến nay, đã có hơn 2000 năm lịch sử, đến thế kỷ 20, nó đã là một thứ thể chữ tiêu chuẩn cho cộng đồng người Hoa trên toàn thế giới. Năm 1950, nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa đã bắt đầu giản lược chữ viết Phồn thể từ cơ sở giản hóa mà hình thành nên chữ viết tiếng Trung Quốc tiêu chuẩn, tức Giản thể Trung văn. Chữ Giản thể chủ yếu do kế thừa từ việc cải cách văn tự năm 1950 về sau trong thể chữ viết của chính phủ nước Trung Hoa thúc đẩy mà hình thành cho đến hôm nay.

Nhưng trong thực tế, qua các sách vở tư liệu Hán Nôm, chữ viết giản thể đã bắt đầu hình thành từ trong quá khứ do nhu cầu viết nhanh và thói quen viết chữ của con người. Một số chữ Hán phức thể quá phức tạp khi viết gây mất thời gian nên việc viết chữ viết tắt, giản hóa nét đã bắt đầu từ đó. Có những chữ viết tắt như chữ giản thể ngày hôm nay trong tiếng Hoa hiện đại mà chúng ta thường thấy đã xuất hiện từ rất lâu từ các các chữ Hán rất phức tạp. Thí dụ, chữ (thể) đã được viết là ; chữ (số) đã được viết là ; chữ (ngư) viết là ; chữ (ban) viết là ; chữ (gian) viết là ,... Tức dựa vào cơ sở giản hóa các từ bộ thủ, hình bàng mà thành. Theo tác giả Tạ Đức Tú trong “Văn chương khoa cử Việt Nam” thì vấn đề các chữ viết có sự lẫn lộn thư thể với nhau là do “nét bút thay đổi của các vùng phù hợp với tính cách người bản xứ. Vì vậy, sự khác hình của văn tự Hán giữa các thời kỳ thực ra là sự thay đổi chất liệu viết tạo nên nét của chữ Hán[VCKCVNtdt; 8]. Đây cũng chính là một trong những quan điểm nghiên cứu về văn tự dị hình mà chúng tôi đang trăn trở trong các sách vở Hán và Nôm. Chữ dị hình gây ít nhiều khó khăn cho người nghiên cứu trong việc tra cứu và thể hiện nó trên màn hình máy tính điện tử hiện nay.
Sau đây là một số điển hình của sự tương quan giữa cấu tạo chữ Hán giản và phồn thể:
Hình dạng chữ
Số nét
Âm đọc
Đặc điểm cơ bản nhận dạng
G
P
11
12

Hoàng
Chữ (G) có 4 nét: ngang, sổ, sổ ngang.
Chữ (P) có 5 nét: ngang, sổ, sổ, ngang, ngang.
G
P
12
17


Dao
Khác nhau trong bộ thủ -
 giữa một cách viết tắt và không tắt; phần trên bên phải  là bộ trảo
G
P
25
06

Quan
Khác nhau giữa chữđược viết thành chữ ;và bộ được viết tắt là
G
P
8
19
Bảo

Chữ (G) được viết gồm bộ miên và chữ ngọc ; chữ (P) gồm có chữ và bộ bối
G
P
4
10

Thư
Chữ (G) được giản lược các nét từ  cách viết Thảo thư
G
P
4
10

Chữ mã (P) bao gồm bộ hỏabên dưới, chữ (G) chỉ có một nét ngang.
(Ghi chú: trong bảng ký hiệu “P” là phồn thể; “G” là giản thể)
Bảng 18: Minh họa đặc điểm khác biệt giữa chữ Hán giản thể và chữ Hán phồn thể
Ta có một số chữ ví dụ sau làm dẫn chứng trong các chữ Giản thể và Phồn thể
-         Chữ Hán Phồn và Giản thể
Phồn thể
Giản thể
Âm đọc
Học
Trần
Vấn
Dương
Quốc
Thể
Huy
Hội
Vân
-         Một số chữ Nôm được viết dạng giản thể, tức giản lược nét hay Thảo hóa từ các nét trong chữ Hán mà thành.
Chữ Nôm nguyên thể
Chữ Nôm giản thể
Âm đọc
Gác
𨴦
𨵣
Cửa
𡮆
𡭜
Mọn
𠃩
𢒂
chín

Điểm chung nhất của hai loại chữ Hán – Nôm phồn thể và giản thể là chính các bộ kiện hay bộ thủ từ trong chữ đã tự thân nó giản lượt nét, biến hình từ quá trình thảo hóa chữ viết. Thí dụ ta có các bộ thủ sau biến hình từ quá trình giản lượt nét:
>(thùy); > (ngữ); > (vịnh)
> (vấn); > (muộn); > (văn)
> (mã); > (điểu); > (ngư)
> (hồng);結>(kết);緶> (biền)

Bảng 19: Sự biến hình của một số bộ thủ giữa chữ Hán phồn thể và giản thể

Chính nhờ vào các phần bộ thủ, bộ kiện biến hình này mà các chữ Hán Nôm rườm rà ngày càng đơn giản và tinh gọn hơn rất nhiều. Trong vấn đề chữ viết giản thể, còn chứa đựng vấn đề chữ viết dị thể, chữ viết dị thể là cách viết khác của chữ Hán, Nôm trong cách thể hiện và âm đọc. Chữ dị thể vẫn đảm bảo yêu cần về nghĩa và thành tố âm tiết. Nhưng chủ yếu chữ viết giản thể hóa được chấp nhận trong các Hán ngữ hiện đại, trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Chữ phồn thể vẫn toát lên vẻ đẹp hình khối riêng biệt của nó đã lưu giữ hơn mấy ngàn năm nay. Chữ giản thể cho phép cách viết tay trong tốc ký để đạt được hiệu quả nhanh gọn, nhưng không vì thế mà ở các vùng lãnh thổ và các nước sử dụng chữ Hán như Đài Loan, Hồng Kông, và một số nước Đông nam Á vẫn còn sử dụng chữ viết Phồn thể như một thói quen từ trong quá khứ.

3.      Một số đề xuất từ phương tiện học tập và định hướng môn học
3.1.           Phương tiện – công cụ học tập và giảng dạy
Nhìn chung, hiện nay học phần Hán Nôm trong chương trình đào tạo ngành Văn học nói riêng và các ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung đã đạt được nhiều thành tựu đáng nổi bật. Các công trình nghiên cứu ở cấp độ cơ sở tại các trường đại học lớn ở Đồng bằng Sông Cửu Long nghiên cứu về văn tự và văn hóa Hán Nôm cũng đã dần hình thành, trong đó có các ấn phẩm là luận văn tốt nghiệp đại học, cao học về chuyên ngành Văn học, Văn học Việt Nam tại trường đại học Cần Thơ đã nâng bước nghiên cứu Hán Nôm lên một tầm mới. Đa phần các hướng nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu các tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam, sưu tầm, phiên âm dịch nghĩa các tư liệu Hán Nôm tại địa phương,... Đó là những cách thức thực hiện mang tính lợi ích hai mặt: một mặt giúp việc tự nâng cao vốn kiến thức văn hóa trong môi trường đại học, mặt khác giúp việc bảo tồn gìn giữ tư liệu chữ viết của dân tộc. Hiện nay, học phần Hán Nôm trong chương trình đào tạo ngành Văn học hiện còn gặp một số bất cập, khó khăn đến từ bản thân người học, từ những lí do khách quan như trong phần thực trạng chúng tôi đã trình bày. Trong đó các phương tiện hỗ trợ học tập giúp học phần đạt chất lượng tốt hơn  đến từ việc ý thức của người học. Tức bản thân người học phải tập trung vào những điểm chính yếu của môn học, và cải thiện thái độ học tập đối với chuyên môn.
Trong nhiều vấn đề về phương tiện học tập, vấn đề cơ sở vật chất luôn là hàng thứ yếu, trong phần này chúng tôi chủ trương đề xuất các giải pháp căn cơ từ cơ sở vật chất như phòng học, công cụ hỗ trợ giảng dạy và các thiệt bị liên quan.
-         Hướng bảng viết trong phòng học nên đảm bảo đúng hướng trong hướng quan sát của người học, nếu như các chữ viết trên bảng bị nghiêng lệch trong tầm nhìn của người học thì sẽ gây nên nhiều vấn đề phát sinh trong việc tri nhận chữ viết. Nếu một chữ viết trên bảng hay trong giáo trình bị mất nét, thiếu nét hay bị nhòe – điều này vô hình chung tạo nên việc viết sai từ ngay ban đầu và sau này sự chỉnh sửa sẽ rất khó khăn bởi đã hình thành nên thói quan như quán tính.
-         Máy chiếu hình ảnh, projector nên đảm bảo còn trong thời gian hạn hay ở trong độ tuổi sử dụng, bởi nếu máy chiếu gặp vấn đề trục trặc sẽ ảnh hưởng đến ít nhiều chất lượng hình ảnh phát trên màn ảnh, chữ sẽ hiển thị nhỏ và bị lỗi định dạng gây khó khăn trong việc sao – ghi chép của sinh viên.
Ngoài ra, còn rất nhiều các nguyên nhân khác, trong đó đến từ các đầu sách giáo trình, tài liệu tham khảo trong học phần Hán Nôm tại thư việc hiện đang rất ít, các đầu sách nghiên cứu hiện đang tồn tại dưới dạng sách “nghiên cứu tại chỗ”. Một phần do sách là bản in trước năm 1975, sách quá thời gian lưu trữ,... Vì vậy, để phong phú hóa các tài liệu tham khảo, một mặt chúng tôi đề xuất với ban thư viện nhà trường cần điều chỉnh và bổ sung thêm tài liệu trong kệ sách Hán Nôm, mặt khác sinh viên phải là người chủ động trong việc tham khảo tài liệu trực tuyến trên các trang web của thư việc, viện nghiên cứu Hán Nôm, bộ môn Hán Nôm các trường đại học.  Sau đây là các địa chỉ trực tuyến mà sinh viên có thể tham khảo và tra cứu áp dụng do chúng tôi sưu tầm và sử dụng:
1.
Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam: www.hannom.org.vn/
2.
Từ điển Hán – Nôm trực tuyến, hội bảo tồn di sản Hán Nôm (會保存遺産漢喃) http://www.nomfoundation.org/nom-tools/Nom-Lookup-Tool?uiLang=vn
3.
Bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học và Ngôn ngữ (ĐHQG tp. HCM) www.khoavanhoc.edu.vn
4.
Công cụ nhập liệu Hán Nôm: Hanokey các phiên bản Hanokey 2.0; Hanokey 3.0 và thiết bị vẽ tay nhận dạng chữ Hán; phần mền vẽ tay nhận diện chữ Hán trên “Google translate” chế độ dịch tiếng Trung và điện thoại thông minh (IOS,...)

3.2.           Tin học hóa Hán Nôm
Hiện nay việc học Hán Nôm không còn đơn thuần chỉ là việc ngồi viết tay lại các văn bản Hán Nôm, một mặt việc ghi chép Hán Nôm theo phương pháp truyền thống nhằm mục đích trong việc tri nhận chữ viết, làm quen với chữ Hán, Nôm trong thời kỳ đầu tiếp xúc với môn học. Nếu như sinh viên là người có hứng thú với môn học và có nguyện vọng muôn tiếp tục phát triển năng lực trong chuyên môn Hán Nôm nhất nhất phải chú ý đến việc làm sao để có thể tin học hóa dữ liệu Hán Nôm. Biến các tư liệu sống Hán Nôm trong đời thực thành dạng dữ liệu số có thể truy cập, chia sẻ và lưu giữ một cách khoa học nhất nhờ vào các thủ thuật tin học đơn giản ban đầu. Chúng tôi trong phần này, xin đưa ra một vài dạng lưu trữ, nhập liệu Hán Nôm thông thường nhất có thể giúp cho sinh viên khi học học phần này có thể sử dụng các phần mềm đánh chữ Hán Nôm trong máy tính cũng như sử dụng công cụ nhập liệu khác.
3.2.1.  Vấn đề phông chữ Hán – Nôm trong bài giảng và giáo trình
Đa phần sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc nhận dạng chữ viết trong bài giảng và giáo trình do mỗi một ấn phẩm tư liệu Hán Nôm được thể hiện dưới một phông chữ khác nhau. Vả lại, trong giai đoạn đầu tiếp xúc với học phần, sinh viên thường quen với chữ viết tay trên bảng của giảng viên giảng dạy nên khi tiếp xúc trực tiếp với ngữ liệu Hán Nôm trong sách vở lại gặp nhiều khó khăn. Do mỗi một phông chữ được qui định bởi chế độ hiển thị khác nhau nên việc quan sát các nét bút có sự khác biệt trong thể chữ hiển thị, có thể chữ phỏng Tống thể, Hắc thể, Khải thể,... nên sự đa dạng này cũng gây ít nhiều khó khăn trong việc học tập, tra cứu. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thu thập được một số phông chữ Hán – Nôm hiển thị trên máy tính và trong các sách vở, tài liệu được in nhiều thể, đây là bảng liệt kê các điểm khu biệt của thể chữ hiện nay.
1SimSun
2(N)SimSun
3微軟正黑體 (vi nhuyễn chính hắc thể)
4)細明體_HKSCS-ExtB (tế minh thể)

5標楷體 (Tiêu Khải thể)
        6 Kaiti
Thí dụ minh họa
1芹苴大學
2古文觀止
3湄江詩詞
4穗城會館

5永樂大典
6辭海詞典

·        Font số (1) (2) (4) giống nhau căn bản, dễ nhận dạng, nhưng thiếu độ uốn và uyển chuyển.
·        Font số (3) thô – cứng, nét đều nhau, nhưng nếu như quan sát kỹ thì Font này dễ gây sai lầm khi nhận dạng: chữ “” phần chữ “” chữ thổ bên trên lẽ ra viết như thế không ổn, nên vô hình biến thành chữ sĩ như thế đã sai. Nhưng do hình thể của lập trình nên không thể nói rằng font chữ sai mà do cách lựa chọn font của người dùng.

(5) – (6) giống nhau cơ bản, có thể xem là một, đường nét uyển chuyển thể hiện tiêu chuẩn của chữ Khải thư rất rõ ràng. Dễ nhìn và nhận dạng.

Quan sát kỹ, Font “Kaiti” (khải thể) độ cao của chữ hơn so với “標楷體” (tiêu khải thể).

 Hai font (5) và (6) này rất thích hợp cho người học vì biểu thị đầy đủ và gần đúng với nét bút họa của bút lông.
Bảng 20: Phông chữ Hán – Nôm hiện nay trong Word 2003 và 2010
Từ tình hình các phông chữ có sự khác biệt lớn này, chúng tôi xin phép giới thiệu các phông chữ này cho quý bạn sinh viên, thầy cô cùng hướng nghiên cứu trong lĩnh vực Hán Nôm và cũng như các bạn có cùng đam mê nghiên cứu cải tiến dữ liệu nhằm bảo tồn và phát huy vốn di sản chữ viết của dân tộc trong thời đại công nghệ hiện nay.
3.2.2. Ứng dụng công nghệ trong việc tự học chữ Hán và chữ Nôm
Ứng dụng công nghệ trong việc tra cứu nhằm phát triển khả năng tự học chữ Hán, chữ Nôm là một trong những mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi khi thực hiện đề tài này. Nhưng trong khả năng tin học và kiến thức về công nghệ và phần mềm hạn hẹp, chúng tôi xin được phép hạn chế mục tiêu này lại trong khả năng nghiên cứu của chúng tôi sẵn có – nằm trong vốn hiểu biết phổ thông thông dụng. Tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chủ yến từ Internet chúng tôi nhận thấy việc tự học Hán Nôm qua Internet hầu như không khó, trên internet hầu như rất nhiều phần mền tự học, tra cứu chữ Hán chữ Nôm, tự điển Hán Việt trực tuyến. Nhưng để có thể lựa chọn một địa chỉ trực tuyến dễ dàng tra cứu và tin cậy thì có lẽ phải cần có sự sàng lọc và cân nhắc. Sau đây là một vài địa chỉ tự học và tra cứu trực tuyến Hán – Nôm mà chúng tôi sưu tầm được từ các chuyên gia Hán Nôm, từ chính trong quá trình tra cứu và nghiên cứu của chúng tôi và đã đạt được hiệu quả nhất định trong công trình này.
(1)  Phầm mền tra cứu nét bút theo qui tắc bút thuận chữ Hán
Theo TS. Nguyễn Văn Hoài (bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học và Ngôn ngữ, đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) được tiến sĩ giới thiệu phần mềm tra cứu nét chữ, trình tự diễn biến qui tắc bút thuận của chữ Hán lần đầu trên mạng xã hội Facebook cá nhân là phần mềm: 常用國字標準字體筆順學習剛 (Thường dùng quốc tự tiêu chuẩn tự thể bút thuận học tập cương), địa chỉ: http://stroke-order.learningweb.moe.edu.tw/character.do
Hình 6: Giao diện ứng dụng tra cứu nét chữ chữ Hán
Cách sử dụng:
Bước 1: sau khi nhập địa chỉ này vào thanh công và vào đến màn hình chính của trang web, người dùng có thể nhập chữ Hán bằng Hanokey vào thanh tìm kiếm dưới dòng chú dẫn “請輸入要查詢的單子” (xin nhập từng chữ vào để tra) vào ô có dòng chữ “單字查詢” (đơn tự tra tuân) hàng đầu tiên.
Bước 2: Cuối cùng nhấp chuột vào dòng chữ 筆順播放 (bút thuận bá phỏng) ở trên góc trái màn hình. Chữ đó sẽ được viết lần lượt theo từng nét.
Đặc điểm của phần mềm này chính là sự đa dạng trong việc tra được nhiều chức năng và phụ thuộc vào nhu cầu tra cứu chức năng nào trong chữ Hán, nhưng nhược điểm chính của nó là đây là phần mềm được viết bằng tiếng Trung Quốc – có thể gây khó khăn ban đầu cho nhiều người dùng chưa biết tiếng Trung Quốc hiện đại.
(2)  Tự điển Hán – Nôm trực tuyến
Từ điển Hán – Nôm của Hội bảo tồn di sản Hán Nôm – liên kết với viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam (會保存遺產漢喃) được thiết lập dưới dạng trực tuyến và viết bằng tiếng Việt. Phần mềm cho phép người dùng khai thác tối đa dữ liệu Hán Nôm, tra các từ chữ Nôm bằng phương pháp nhập chữ Quốc ngữ.
Hình 7: Giao diện ứng dụng tra cứu chữ Nôm bằng cách nhập chữ Quốc ngữ
(3)  Phầm mềm tra cứu thư thể chữ Hán: 书法字典 – Thư pháp tự điển (shufazidian.com)
 Đây là phầm mềm cho phép người dùng tra cứu chữ Hán dưới dạng thể hiện ra nhiều thư thể theo yêu cầu tìm kiếm của người dùng phần mềm trực tuyến. Gồm Khải – hành – lệ - triện – thảo và Triện khắc ấn chương.
Hình 7: Giao diện ứng dụng “Thư pháp tự điển” (书法字典)
Trong đó, để sử dụng người dùng cần nhập chữ Hán vào khung cần tra và chọn các mục thư thể trong dạng biểu mục gồm: Hành thư (行书); Khải thư (楷书); Lệ thư (隶书); Triện thư (篆书); Thảo thư (草书) và Triện khắc ấn chương (篆刻).
Qua ba phương thức trực tuyến hỗ trợ tra cứu này trong quá trình tự học, chúng tôi cũng không chủ trương người học hay sinh viên quá phụ thuộc vào các phần trực tuyến này mà dần mất đi khả năng tri nhận chữ Hán – Nôm theo phương pháp truyền thống, dẫu sao trong các trường hợp cấp bách thì chữ viết tay vẫn đạt được một hiệu quả nghệ thuật nhất định và gây được thiện cảm với người tiếp nhận mặc dù chưa chuẩn hay còn thiếu sót.
Chúng tôi hy vọng qua các phương pháp mà chúng tôi trình bày này, người học và sinh viên trong chuyên ngành Văn học có thể tiếp nhận trực tiếp và ứng dụng vào chính trong thời gian, quá trình học tập trong chuyên ngành, góp phần phát triển năng lực bản thân cũng như kiến thức tích lũy được trong quá trình học tập và rèn luyện chuyên môn. 
4.      Kết luận
Phương pháp tự học là một trong những hướng giúp ích cho sinh viên có thể tự hình thành khả năng nghiên cứu và phát huy năng lực cá nhân rất lớn trong một lĩnh vực nào đó. Học phần Hán Nôm là một trong những học phần đòi hỏi sinh viên trong quá trình học tập cần phải nỗ lực rất nhiều trong giờ tự học và cả sau này nếu tiếp tục gắn bó với chuyên ngành. Các phương pháp, cơ sở đề xuất các phương pháp tự học nhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên.

Học phần Hán Nôm trong đề tài này của chúng tôi cũng nhằm vào một mục đích đó là cải thiện hiệu quả phương pháp tiếp cận kiến thức Hán Nôm đã sẵn có từ trước, nhưng đến đề tài này của chúng tôi nhằm phát triển những năng lực tiền đề đó và định hướng căn bản các nghi vấn còn tồn nghi trong quá trình tiếp cận và sử dụng kiến thức học phần của sinh viên ngành Văn học trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường và sau khi tốt nghiệp áp dụng vào trong nghề nghiệp có liên quan. Trên nền tảng kiến thức sẵn có và hạn hẹp, chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập học phần Hán Nôm trong cơ sở sử dụng chung trong kiến thức chuyên ngành. Các giải pháp này cũng chỉ là tương đối và chủ yếu là cơ sở trong chuyên ngành không phải là Hán Nôm, cho nên việc áp dụng cũng còn tùy vào nhu cần sử dụng từ phía sinh viên áp dụng.

Thiết nghĩ học tập là một quá trình, nghiên cứu và áp dụng cũng là một quá trình mà trong đó vừa học hỏi và trao dồi và áp dụng thực tiễn. chúng tôi hy vọng công trình này phần nào có thể giúp sức cho các bạn sinh viên còn đang trăn trở với học phần Hán Nôm cũng như  mối quan tâm với vốn di sản chữ viết của dân tộc mà cha ông ta đã sử dụng và gìn giữ cho đến ngày hôm nay. Phát triển học phần Hán Nôm cũng chính là đi vào quá trình gìn giữ di sản quý báo này.

*Phần nháp của đề tài nghiên cứu khoa học năm 2017 TSV2017 - Nguyễn Khánh Duy CTU














Th.S. Nguyễn Mạnh Linh (2008), Từ điển nét chữ tiếng Trung, NXB Hồng Đức, Hà Nội
Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh, chi hội thơ cổ biên soạn (胡志明市各民族文學藝術協會,古詩分會(湄江吟社)編選) (2010), Mê Giang Thi Từ 湄江詩詞 3, NXB Lao Động, tp. HCM
Thiều Chửu (2009), Hán Việt tự điển (漢越字典), NXB Thanh Niên, Hà Nội.

Chữ sinh ý hưng long https://www.huggies.com.vn/dat-ten-cho-be/H/H%C6%B0ng