1. Cơ sở đề ra giải pháp nâng cao chất lượng học tập học phần
Qua nhận định tình hình và đánh giá các thực trạng đang diễn ra trong việc
tiếp thu kiến thức học phần cũng các phương tiện mà sinh viên đang sử dụng để
phát triển môn học, chúng tôi đã tóm tắt được những ưu
và khuyết điểm trong việc tiếp thu kiến thức học phần Hán Nôm hiện nay
và trong tương lai sẽ đạt được những kết quả như thế nào. Đây là nhiệm vụ trọng
tâm trong phần giải pháp này chúng tôi sẽ đề xuất giải quyết mang tính cấp thiết.
1.1.
Xuất phát từ nhu cầu học phần
Theo những hiện trạng đã dẫn ra trong phần thực trạng học tập học phần Hán
Nôm hiện nay trong sinh viên, nhu cầu học Hán Nôm ngày càng đặt ra nhiều tiêu
chí và đòi hỏi người học tập phải tiếp thu kiến thức học phần một cách tự giác.
Do việc tiếp thu kiến thức cần hỏi một thái độ và ý thức tự giác chủ động nên bản
thân học phần và quá trình tiếp nhận kiến thức trong sinh viên cũng gặp không
ít khó khăn nên việc tự học dần dần bị đẩy lùi một phần nguyên nhân do độ khó
nhất định trong bản thân của môn học. Vả lại, trong chương trình đào tạo ngành
Văn học, Hán Nôm là một học phần quan trọng chiếm số lượng tín chỉ là 8, trải
dài qua hơn 3 học kỳ cho nên việc thiết lập một kế hoạch học tập phù hợp là điều
vô cùng cấp thiết để việc tiếp thu kiến thức diễn ra nhanh chóng và thuận lợi
nhất.
Mặt khác, xuất phát từ nhu cầu học tập ngày càng nâng cao các môn học, học
phần có liên quan đến Hán Nôm, ngôn ngữ tiếng Việt và việc ứng dụng vào thực tế
chuyên ngành cũng như sau khi tốt nghiệp ứng dụng vào nghề nghiệp, lượng kiến
thức về Hán Nôm cũng như sử dụng tiếng Việt ngày càng được đưa ra khắc khe hơn
bao giờ hết. Trong khi việc viết văn, hành văn và sử dụng văn bản tiếng Việt
trong các phương tiện và cũng như trong thực hành chuyên môn gặp nhiều khó
khăn, bất cập thì học phần Hán Nôm lại càng có vai trò nhất định giúp củng cố
kiến thức về chính tả, cung cấp kiến thức – phương thức sử dụng từ tiếng Việt để
diễn đạt hiệu quả hơn trong văn bản hiện nay. Từ đó có thể định hướng cho sinh
viên có cách nhìn về chức năng của học phần Hán Nôm có tính thực tế và ứng dụng
rất cao như hiện nay.
Mặt khác, hiện nay nhu cầu nghiên cứu về văn hóa Hán Nôm cũng như văn tự,
ngôn ngữ có liên quan đến Hán Nôm một nhiều. Trong đó, mối liên hệ với văn tự
ngôn ngữ Trung Hoa để phát triển vốn sinh ngữ có tính chất tương đồng và gần
gũi với tiếng Việt ta là rất lớn.
1.2.
Tầm quan trọng của việc tự học học phần
Kết quả khảo sát của chúng tôi phản ánh một phần chất lượng học tập học phần
Hán Nôm qua các kết quả về các phương pháp tự học, các hình thức học tập Hán
Nôm đang hưởng ít nhiều đến kết quả cũng như quá trình tiếp nhận kiến thức học
phần.
Thiết nghĩ Hán Nôm là học phần ngoài giờ học lý thuyết trên lớp thì trong
giờ tự học sinh viên phải thực hiện giờ tự học rất nhiều, bởi ngoài hệ thống lý
thuyết về văn tự và phương ngôn Hán, Nôm thì các vấn đề khác ngoài lý thuyết
cũng chiếm một số lượng kiến thức không nhỏ. Trong đó, chưa kể đến việc tìm hiểu
về các hình thái phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt qua các thời kỳ được thể hiện
rõ nét qua việc sử dụng văn bản Nôm cũng như chữ Nôm qua các giai đoạn lịch sử
của ngôn ngữ tiếng Việt.
Nếu như thực hiện tốt các phương pháp tự học học phần Hán Nôm cũng đồng
nghĩa với tự tạo cho bản thân một sự kích thích và khơi dậy niềm đam mê với vốn
di sản chữ viết của cha ông ta trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. Trong quá trình
tự học, bản thân người tìm tòi nghiên cứu có thể tự khám phá ra được những tiền
đề còn chưa có lời giải đáp. Chính từ điểm này dẫn đến nảy sinh nên những vấn đề
nghiên cứu mới – góp phần phát triển học phần trong tương lai.
2. Nội dung giải pháp
2.1.
Giải pháp về nội dung lý thuyết
2.1.1. Khái quát về các định nghĩa tiếp cận văn tự Hán – Nôm
Hiện nay vấn đề nhầm lẫn giữa các khái niệm học phần Hán Nôm trong sinh
viên hầu như rất đa dạng. Đa số rất khó để phân biệt nhận dạng các khái niệm và
nhầm lẫn khái niệm chồng chéo đan xen lẫn nhau. Trong đó, ngay cả khái niệm
“Hán Nôm” cũng có thể hiểu sai lầm dẫn đến nhiều khả năng chất lượng môn học dần
giảm sút. Theo đó, chúng tôi trên cơ sở tổng hợp các khái niệm lý thuyết và
phân chia chúng thành các nhóm nhỏ sau để người học có thể phân biệt các khái
niệm một cách thuận tiện nhất.
Thứ nhất, trong học phần chữ Hán, chúng tôi tiếp cận đến với các khái niệm,
thuật ngữ trong sinh viên hầu như còn hiểu rất mờ nhạt về khái niệm “chữ Hán”.
Theo sự quan điểm của chúng tôi và sự tổng hợp qua một số tài liệu trong và
ngoài nước đã được lược dịch thì khái niệm chữ Hán hiện nay đã được biến chuyển
qua nhiều dạng tài liệu. Nhưng chung qui nhất thì chữ Hán là một loại văn tự tượng
hình xuất phát Trung Quốc – là loại văn tự được sử dụng chính thức ở Trung Quốc
và một số nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa đồng văn.
Giải thích về mặt cấu trúc của thư thể và thư pháp, theo Trần Đình Hữu
(Trung Quốc) thì: “chữ Hán là dạng văn tự
khối vuông. Mỗi một chữ Hán đều chiếm một khoảng không vuông vức trên mặt giấy...
Chữ Hán được kết hợp bởi 10 loại nét cơ bản, công dụng của các nét bút cũng
tương tự như các dạng ký tự trong chữ viết của phương tây, nhưng giữa các nét
bút không thể đánh vần được” [tptq;18]. Theo cách lý giải về mặt cấu trúc của chữ
Hán này thì nếu như áp dụng vào cách định nghĩa chữ Hán có lẽ chưa thật đầy đủ
để tạo thành một khái niệm thống nhất, nhưng dẫn theo cách lý giải này thì người
học có thể tiếp thu kiến thức được tách chiết từ định nghĩa để có thể hiểu được
kiến thức nền tảng về mặt cấu tạo của chữ Hán gồm các nét và định dạng trong một
ô vuông trên giấy mà cấu thành. Quan điểm của chúng tôi về cách lý giải này thì
chính tác giả đang đứng ở góc nhìn về giải phẫu chữ viết theo cách hiều của thư
pháp mà cụ thể ở đây là lý giải của thể chữ Khải hay còn gọi là chân phương hay
Lệ thư. Cho nên nếu sử dụng định nghĩa này để giải thích hay bổ trợ cho phần hướng
dẫn viết chữ Hán thì phù hợp hơn.
Trong bản thân chữ Hán nó đã thể hiện một minh chứng là loại hình văn tự tượng
hình, biểu ý nhưng ngoài mặt thể hiện về hình và nghĩa này, chữ Hán còn là một
loại hình văn tự biểu âm khi nó kết hợp âm tiết bằng cách ghép nối giữa các chữ
và bộ thủ lại với nhau để tạo tạo thành chữ mới. Đó là cách đọc “thiết vận”
trong tiếng Hán, thí dụ như chữ “情” (tình) thì gồm hai thành tố bộ “忄” (tâm)
và chữ “青” (thanh), trong đó bộ tâm biểu ý và chữ thanh biểu âm. Khả năng kết hợp âm
đọc này cũng có thể xem như một đồng dạng với cấu tạo của chữ Nôm trong tiểu loại
số 21 để thấy rõ ràng hai loại văn tự này có mối liên hệ gần gũi với nhau về mặt
cấu tạo. Cùng quan điểm về cách lý giải này, trong công trình “Lý thuyết văn
Nôm, chữ Nôm” giáo sư Nguyễn Ngọc San đã chỉ ra mối liên hệ hữu cơ huyết mạch
giữa cách giải thích giữa chữ Hán và chữ Nôm như sau: “chữ Nôm hoàn toàn sử dụng các ký tự Hán chứ không dùng một ký tự phi
Hán nào, điều ấy làm cho chữ Nôm hoàn toàn giống chữ Hán về mặt loại hình” [NNS;21]. Điều này cũng không có nghĩa rằng chữ Nôm và
chữ Hán có cùng chức năng ngữ nghĩa như nhau, nếu quan sát tự dạng bên ngoài
thì chữ Nôm và chữ Hán hoàn toàn giống nhau về mặt loại hình, nhưng tính chất
và mục đích sử dụng của nó thì lại rất khác xa nhau. Cơ sở này theo quan điểm của
chúng tôi cũng chính là điểm khu biệt khái quát nhất của Hán và Nôm.
2.1.2. Mô phỏng các phương pháp tự học chữ Hán và chữ Nôm
Phương pháp tự học chữ Hán chính là những phương thức, cách thức tự nghiên
cứu, tự tiếp thu chữ Hán theo nhiều dạng thức: viết chữ Hán, làm quen với âm đọc
Hán Việt và giải thích nghĩa của chữ. Nói gọn hơn, chính là qui tắc tự học làm
quen với chữ Hán qua ba điểm: hình – âm – nghĩa. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu
về qui tắc tạo chữ trong chữ Hán, cấu trúc hình thể của chữ Hán và chữ Nôm để đề
ra một số phương thức, tiếp cận và làm quen với chữ Hán – Nôm.
2.1.2.1. Phương pháp tập viết chữ
Thứ nhất, trong chữ Hán – với tư cách là văn tự tượng hình được cấu tạo từ
các nét cơ bản gồm 10 nét chính. Các nét cơ bản nhất gồm tám nét: chấm, ngang,
sổ, chiết, móc, hất, phẩy, mác. Để thể hiện điều này cụ thể hơn trong cùng một
chữ Hán cụ thể, chúng tôi xin được sử dụng qui tắc “Vĩnh tự bát pháp” (永字八法) – tức tám qui tắc của chữ “vĩnh”. Qui tắc “vĩnh tự bát pháp” này chính là
sử dụng một chữ “vĩnh” để có thể thể hiện đầy đủ tám nét cơ bản nhất của chữ
Hán theo thể Khải thư, trong bản thân chữ “vĩnh” đã được cấu tạo đầy đủ nhất
các nét này như đã trình bày. Theo đó người người học có thể quan sát chữ
“vĩnh” làm nền tảng tiếp thu và ghi nhớ các nét của chữ và dần dần luyện tập viết
chữ Hán từ đơn giản cho đến phức tạp, theo nhiều phương pháp mà chúng tôi sẽ giới
thiệu sau.
Mô hình mô phỏng qui tắc “Vĩnh tự bát pháp”
![]() |
Trong đó:
(1) Nét chấm (點)
(2) Nét ngang (橫)
(3) Nét sổ (豎)
(4) Nét móc (鈎)
(5) Nét hất (提)
(6) (7) Nét phẩy (撇)
(8) Nét mác (捺)
|
|
Hình 2: Chữ “Vĩnh” (永) viết theo Khải thể
|
|
Từ tám nét cơ bản này, các dạng tự hình tự thể
chữ Hán dần dần pha trộn với nhau tạo thành nhiều nét khác trong các chữ Hán
khó, phức tạp hơn. Thật sự trong lịch sử văn tự học Trung Hoa, các nét cấu
thành của chữ Hán ban đầu xuất phát từ những nét vẽ và hình vẽ cơ bản trên Giáp
cốt văn (甲骨文) và theo quá trình chuyển biến
hình thể của chữ Hán: từ khắc vẽ trên xương thú, mai rùa đến chữ khắc trên đỉnh
đồng (金文), đến Triện văn (篆文) và dần đi đến Lệ biến và các
dạng tự thể quen thuộc sau này như Hành, Thảo và Khải. Đạt đến một thành tựu đỉnh
cao của cách viết Khải thư đã khiến cho hình thể của chữ Hán dần đạt đến mức độ
thẩm mĩ cao và khiến cho chữ Hán không còn quá khó học, khó viết và khó nhớ như
các dạng tự thể của trước thể Khải thư. Do Khải thư là một thư thể quan trọng
trong việc viết và học chữ Hán, cho nên một phần qui tắc chữ Vĩnh này góp phần
giúp cho người học mường tượng và nắm bắt rất hữu dụng các nét cơ bản của chữ
viết tượng hình đa dạng. Lịch sử thư pháp nước ta từng có những cách định danh
khá hoàn chỉnh về các thuật ngữ trong cách viết chữ của quan lại nho sĩ ngày
xưa, trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ có khái quát: “Từ đời Lê Trung Hưng trở về sau, những người đi học theo nghề khoa cử
viết theo lối chữ khải đời cổ, lại ngoa ngoắt thêm bớt làm sai đi đến nửa phần
gọi là lối chữ Nho. Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ
“nam”, bởi vì lúc đầu là phòng dân gian làm giả mạo, cho nên mới theo hoa văn
mà đặt ra một lối chữ việc quan. Ai học theo lối chữ ấy thì sáu năm một lần thi
trúng tuyển được sung vào làm chân thư tả ở trong các nha môn.” [Vttb;52]. Như thế, không chỉ riêng Trung Hoa – đất nước
khởi nguồn của chữ Hán, Việt Nam ta tuy chịu ảnh hưởng và sử dụng văn tự Hán
nhưng cũng rất đề cao tinh thần thư nghiệp, xem chữ viết là một dạng thức văn
hóa tinh thần và cách viết chữ, thể chữ viết đã tạo nên bản sắc rất riêng trong
vốn văn hóa dân tộc.
Theo bài giảng “Hán văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú dẫn ra từ sáu nét cơ bản như trên
và thêm “những nét phức hợp” bao gồm tám nét khác: “nét ngang móc; nét ngang gấp; nét ngang gấp móc, nét ngang gấp hất; nết
sổ hất; nét sổ móc, nét sổ gấp móc; nét mác móc” [Hvcs;
3]. Căn cứ theo các nét phức hợp này, chúng ta có các chữ Hán sau nhằm
mô phỏng các nét phức hợp này.
|
Chữ Hán
|
Âm đọc
|
|
寳, 家, 愛, 冠 (nét ngang móc, nét chấm,
...)
|
Bảo, gia,
ái, quán
|
|
詩, 村, 利 (nét sổ móc, nét chấm, nét ngang, nét sổ dọc,...)
|
Thi,
thôn, lợi
|
|
絶, 觀, 兄 (nét sổ gấp móc, ngang gập, phẩy,...)
|
Sắc,
quan, huynh
|
Bảng 14: Các nét phức hợp
trong các chữ Hán hợp thể
Qui tắc “Vĩnh tự bát pháp” này cũng là một trong
những cách giúp cho người học chữ Hán ban đầu nắm bắt nên cách viết chữ Hán
theo nét theo thứ tự. Theo đó, ta có những phương pháp viết chữ Hán theo trật tự
nhất định. Từ tổ hợp các nét bút thành một chữ Hán trong một khối vuông nhỏ nhắn
đương nhiên phải sử dụng các nét bút khác nhau và dùng nhiều phương pháp liên kết,
sắp xếp chúng lại với nhau để làm sao hình dáng của chữ vừa cân xứng, cân đối
và tạo được tính thẩm mỹ.
2.1.2.2. Qui tắc bút thuận
Khi thực hành viết chữ Hán, Nôm tất yếu phải tuân theo qui tắc bút thuận.
Bút thuận là một qui tắc được đặt để áp dụng cho các viết chữ Hán theo Khải
thư, trong đó được qui định rất chặt chẽ cách viết theo qui luật có trên, có dưới;
trái sang phải và trong ra ngoài. Ta có “bài ca bút thuận” được trích từ công
trình tổng hợp “Chữ Hán Trung Quốc” (中国汉字) của Hàn Giám Đường (Trung Quốc) đã lược dịch như sau:
“Viết chữ phải ghi nhớ bút thuận,
Nắm vững qui tắc bút có thần.
Ngang trước sổ sau trên rồi dưới,
Phẩy trước mác sau trái sang
phải,
Viết xong chính giữa rồi hai
bên.
Phải để chính giữa to và đậm,
Từ ngoài vào trong phải ghi nhớ
Vào nhà trước rồi mới đóng cửa.”
[CHTQHgđ;76]
Văn bản chữ Hán và Hán ngữ hiện đại có mối liên hệ thân sơ khá quan trọng,
trong đó điểm chung nhất giữa hai loại hình này chính là yếu tố chữ viết. Văn bản
Hán văn trong Văn ngôn sử dụng chữ Hán Phồn thể (繁體), văn bản Hán ngữ trong Bạch thoại sử
dụng đa phần là chữ Hán Giản thể (简体). Hai loại hình này tiếp thu và bổ trợ lẫn nhau trong
quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ, cho nên việc tiếp thu chữ viết cũng
không nằm ngoài phạm vi luyện tập chữ viết. Ở đây, chúng tôi tiếp thu một phần
lý thuyết trong các tài liệu giảng dạy Hán ngữ hiện đại để làm cơ sở dẫn giải
nên các yếu tố phương pháp luyện tập viết chữ Hán trong học phần Hán Nôm. Theo
tác giả Nguyễn Mạnh Linh trong “Từ điển nét chữ tiếng Trung”, viết đúng các yếu
tố nét chữ trong chữ Hán chính là “khắc
phục những sai sót trong quá trình học trước đây, như viết không đúng hình chữ,
viết sai thứ tự các nét, đọc không chuẩn,...” [Từ
điển nét chữ TQ;5]. Về cơ bản, chúng tôi xin đưa ra ban điểm cần chú ý
trong khi tuân thủ qui tắc viết bút thuận trong khi luyện tập viết chữ Hán như
sau:
(1) Khi viết các nét cơ bản (chấm, mác, hất, ngang, sổ,...) cần xác định điểm
bắt đầu và điểm kết thúc trong cùng một nét. Đối với các nét cần có sự uyển
chuyễn trong chiều dài của một nét cần chú ý đến độ nhấn bút và cự li mãnh khảnh
của nét bút để tạo nên sự hài hòa “chủ khách” trong đường đi di chuyển của nét
bút.
(2) Tập viết chữ Hán ban đầu nên theo Khải thư. Khải thư là một trong năm thư
thể chính của chữ Hán, nét của khải thư đơn giản và tinh gọn không như Thảo và
Triện. Vì thế, khi tập viết chữ Hán có thể sử dụng bảng “mễ tự cách” để luyện tập
viết chữ trong một ô vuông nhất định. Mễ tự cách (米字格) hay còn gọi là “mễ tự bản” (米字本), “điền tự cách” (田字格) bảng ô vuông được kẻ viềng theo dạng tự hình chữ “mễ” (米), “điền”
(田) để phân
chia các khu vực bộ phận của chữ Hán theo bố cục và giúp người tập viết chữ ban
đầu đạt được hiệu quả về sự cân đối nét chữ cũng như hình thể.
![]() |
![]() |
![]() |
|
Bảng “mễ tự cách” dùng tập viết chữ
Hán – Nôm
|
Các chữ Hán được thể hiện trong bảng
“mễ tự cách” theo Khải thư
|
Chữ “vĩnh” (永) được thể hiện trong trật tự của “mễ tự cách”
|
Hình 3: Bảng “Mễ tự cách” dùng trong luyện viết chữ Hán
Chữ Hán hiện
nay theo hình khối vuông, đa số được viết theo chuẩn Khải thư, và hình thể của
chữ chính do các nét bút cơ bản và những nét bút biến thể cấu thành. Các nét
bút của chữ Hán không có hình tròn như chữ Hàn Quốc hay chữ Nhật Bản, chữ Hán
cũng rất ít hình vòng tròn, duy chỉ có nét phẩy và nét mác là có độ cong nhất định.
Nhìn chung cơ bản là đường thẳng, cho nên khi áp dụng qui tắc bút thuận và luyện
tập viết chữ trong “mễ tự cách”, người học cần hết sức chú ý đến độ vuông của
chữ và độ thẳng của nét chữ. Nắm vững qui tắc về nét, qui tắc bút thuận thì việc
thực hiện tốt bài tập đánh số nét và xác định số nét của chữ Hán, Nôm rất thuận
tiện và dễ dàng. Xác định đúng số nét của chữ là cơ sở để có thể sữ dụng tốt tự
điển Hán – Nôm tra cứu các âm, hình dáng, nghĩa của chúng.
2.1.2.3. Phương pháp tự học chữ
Hán – Nôm
Như phân tích trong chương thực trạng, chúng tôi
không đề cao phương pháp học chữ Hán Nôm nào là tối ưu nhất cho người học.
Nhưng xét trong cơ sở có thể áp dụng rộng rãi và gần gũi dễ dàng đạt hiệu quả
cho người học nhất, chúng tôi xin triển khai theo phương pháp “chiết tự” hay
còn gọi chính trong nguồn gốc cấu tạo của phương pháp này chính là “Lục thư” –
tức truy ra phương pháp từ cấu tạo của chữ Hán – Nôm.
Trong
“Thuyết văn giải tự” (説文解字) của Hứa Thận, phương pháp “Lục thư” được ông trình bày một cách khoa học
và dẫn giải để học chữ Hán rất dễ dàng và cho đến ngày nay “giải thích nghĩa của chữ trong Thuyết văn giải
tự, đã giúp cho chúng ta hiểu được kết cấu của chữ Hán và nắm vững nghĩa gốc của
chữ, đem đến rất nhiều tiện lợi” [CHTQHgđ; 55].
Dựa vào cơ sở của thuyết Lục thư, chúng tôi xin đề ra một số cách học, ghi nhớ
và minh giải chữ Hán – Nôm như sau:
-
Học chữ Hán theo kết cấu hình thể đồng dạng, ta
bắt đầu từ những chữ Hán đơn thể và biến đổi dần dần đến chữ hợp thể hay còn gọi
là phức thể.
Thí dụ, ta có sự chuyển biến sau bắt
đầu từ chữ “nhân” (人):
|
人
|
大
|
夫
|
天
|
太
|
犬
|
|
Nhân >người
|
Đại >lớn
|
Phu >chồng
|
Thiên >trời
|
Thái >lắm
|
Khuyển >chó
|
Từ một thủ đơn giản biểu thị ý nghĩa:
·
Bộ “thảo” (艸)
|
草
|
花
|
菜
|
菊
|
茶
|
萬
|
葉
|
|
Thảo>cỏ
|
Hoa
>hoa
|
Thái>rau
|
Cúc>hoa
cúc
|
Trà>trà
|
Vạn>mười
ngìn
|
Diệp>lá
|
·
Bộ “môn” (門)
|
門
|
間
|
問
|
聞
|
悶
|
閒
|
闖
|
閣
|
閡
|
閭
|
|
Môn>cửa
|
Gian
>khoảng
|
Vấn
>hỏi
|
Văn
>nghe
|
Muộn>
buồn
|
Nhàn>
rãnh
|
Sấm>xông(vào)
|
Các
>gác
|
Ngại
>vùi
|
Lư>
cổng
|
-
Ghi nhớ chữ Hán trên cơ những từ đồng âm nhưng dị
nghĩa.
Trên cơ sở những chữ đồng âm, thí dụ ta có chữ
“âm” trong chữ Hán gồm những từ đồng âm có dùng chung một bộ kiện.
Ví dụ 1: trường hợp của chữ “âm” – đồng âm
|
音
|
陰
|
阴
|
瘖
|
愔
|
喑
|
侌
|
|
A1
|
A2
|
A3
|
A4
|
A5
|
A6
|
A7
|
|
Tiếng
|
Cõi âm, tối
|
Chữ giản
thể của A2
|
câm
|
Tươi tỉnh
|
câm
|
Tương tự
như A2
|
Ví dụ 2: trường hợp của “quang” – đồng âm
|
光
|
桄
|
洸
|
胱
|
觥
|
觵
|
銧
|
|
B1
|
B2
|
B3
|
B5
|
B6
|
B7
|
B8
|
|
Sáng
|
Cái suốt
(đồ vật)
|
Hùng dũng
|
Bong bóng
(bộ phận
cơ thể)
|
Cái chén
|
Tương tự
như B6
|
Nguyên tố
hóa học [Ra]
|
Trên cơ sở những chữ Hán đồng âm nhưng khác nhau
về nghĩa, ta thấy chúng có mối quan hệ gắn chặt với nhau về bộ kiện đi chung với
nhau. Trong bộ kiện của chữ Hán, có những bộ kiện đi chung để tạo chữ và có chức
năng biểu thị ý nghĩa rất lớn. thí chữ 好 (hảo) do hai bộ kiện là chữ Hán đơn thể biến
hình mà thành là 女 (nữ) và 子 (tử) – hai bộ kiện này đều là
thiên bàng; chữ 誰 (thùy) do hai bộ kiện thành
chữ là 言 (ngôn) và 隹 (chuy) tạo thành.
Đối với chữ Nôm, một số lượng chữ Nôm cũng tạo
chữ theo phương pháp này, nhưng trong chữ Nôm, phụ kiện làm chức năng là thành
tố chỉnh âm nhiều hơn biểu thị ý nghĩa, thành tố biểu thị ý nghĩa đa phần là một
chữ Hán đơn thể. Thí dụ, chữ 𢒂 – chín (số 9) do bộ kiện 彡 (sam) và chữ 九 (cửu) hợp thành; chữ 爫 – làm, do việc giản lược chữ trong nguyên thể
chữ 爲, tức chỉ mượn bộ trảo phía nửa
trên của chữ để chỉ toàn thể ý nghĩa, thì trường hợp này không thể gọi là bộ kiện
được vì đây là nguyên thể chữ mà thành. Giáo sư Nguyễn Ngọc San đã dẫn ra trường
hợp của chữ 爫 – làm như sau: “về chữ 爫 thường được xếp vào ô hội ý như đã biết P. Schneider
xếp vào ô đọc theo nghĩa, có lẽ làm ông cho rằng nó viết tắt từ chữ 爲. Quả thực chữ 爫 là chữ viết tắt nhưng không
phải từ chữ 爲 mà là từ chữ 濫 (lạm).” [NNs;47].
-
Bộ thủ trong chữ Hán biểu thị một lượng ý nghĩa
tượng hình rất lớn, nhờ vào bộ thủ chữ Hán – Nôm mà người tìm hiểu, tiếp xúc với
văn bản Hán – Nô có thể truy ra được nghĩa, cấu tạo và hài thanh cách đọc. Học
và ghi nhớ chữ Hán bằng phương pháp ghi nhớ các bộ thủ cũng nhằm giúp tối ưu
hóa việc tri nhận chữ viết trong thời gian đầu tiếp xúc với học phần. Dần dần,
vốn chữ Hán và việc ghi nhớ âm Hán Việt tăng dần và bản thân người học có thể tự
phân biệt được các cụm từ, từ chữ Hán có kết cấu âm đọc đồng âm, khác nghĩa.
Thí dụ, ta có thể phân biệt được hai chữ Hán đồng
âm sau qua việc tra ra hình dạng của chữ viết, trong khi đó viết bằng chữ Quốc
ngữ thì ta khó có thể phân biệt nghĩa và phải phụ thuộc vào văn – ngữ cảnh
trong văn bản.
|
清
|
聲
|
青
|
|
Số nét, bộ thủ
|
||
|
11 nét, bộ
氵(thủy)
|
17 nét, bộ耳 (nhĩ)
|
8 nét, bộ青 (thanh)
|
|
âm Hán Việt
|
||
|
Thanh>
trong
|
Thanh>
âm thanh
|
Thanh>màu
xanh
|
|
âm tiếng Quan Thoại (Pinyin – 拼音)
|
||
|
/qīng/
|
/sheng/
|
/qīng/
|
Bảng 15: Phân biệt chữ Hán đồng
khác nghĩa qua phương pháp tra hình dạng chữ viết
Phân biệt chữ đồng âm, cận âm trong chữ Nôm nhờ
vào quan sát bộ thủ cấu tạo:
|
𠄼
|
𢆥
|
箇
|
𩵜
|
臞
|
鴝
|
|
Năm
>số 5
|
Năm
>năm
tháng
|
Cá
>cá
nhân
|
Cá
>con
cá
|
Gù
>gật
gù
|
Gù
>chim
bồ câu
|
|
Bộ thủ
|
|||||
|
五 (ngũ)
|
年 (niên)
|
竹 (trúc)
|
魚 (ngư)
|
月 (nhục)
|
鳥 (điểu)
|
Như trên, ta thấy ba chữ Hán đồng âm cùng âm
“thanh” nhưng khi viết ra bề mặt tự dạng thì rõ ràng sự khác nhau là dễ nhận biết.
Trong các cụm thành ngữ Hán Việt, cát ngữ, phúc ngữ trong các câu đối hoành phi
sau khi được phiên âm Hán Việt thì từ đồng âm rất dễ gây hiểu lầm trong sự suy
đoán nghĩa. Thí dụ cụm cát ngữ “sinh ý hưng long”, chữ “long” nếu không thể hiện
bằng chữ Hán thì đa số sẽ được qui ra nghĩa là “rồng” trong nguyên thể chữ 龍 hay 竜. Đã có trường hợp giải nghĩa sai hai chữ “hưng
long” mang đến cách diễn đạt ngô nghê thiếu logic: “Hưng Long mang ý nghĩa
con sẽ như loài rồng mạnh mẽ, trí tuệ tinh anh, mang đến hưng thịnh, sung túc
cho cả gia đình” [huggies]. Nhưng thực ra chữ “long” trong
cụm cát ngữ này là “隆” có nghĩa là sự thịnh đạt lớn
lao – khi mang chức năng từ loại “hình dung từ” (形容詞 – Hán ngữ hiện đại), khi là động từ (動詞) có nghĩa là “sưng tấy lên”
(nguyên văn: 𦂽起头上隆起一个包). Vì vậy, trong cụm “sinh ý
hưng long” - 生意興隆 có nghĩa là mua bán phát đạt.
Đây chỉ là trong số một trong những ví dụ nho nhỏ để có thể làm tiền đề để người
học ban đầu tiếp xúc với văn bản, lần lượt phân biệt các từ đồng âm, đồng nghĩa
để có thể sử dụng từ ngữ Hán Việt chính xác nhất có thể, từ đó nắm vững các
phương thức tạo từ của từ gốc Hán Việt trong văn bản Hán văn cũng như tạo lập
văn bản tiếng Việt. Trong đó đảm bảo tốt các yêu cầu về chính tả, văn phong và
phong cách nghĩa chức năng của từ. Từ chính điểm này, nếu người học vận dụng
phương pháp ghi nhớ chữ theo bộ thủ và tự dạng thì việc sử dụng và giải nghĩa từ
Hán Việt đồng âm, cận âm sẽ đạt được hiệu quả trong viết lách, tạo lập văn bản.
-
Ghi nhớ, phân tích từ đa âm và đa nghĩa trong chữ
Hán và chữ Nôm bằng phương pháp tra tự điển.
Thứ nhất, trong chữ Hán có nhiều chữ có thể có từ hai âm đọc trở
lên và ở mỗi âm đọc sẽ có cách tạo nghĩa khác nhau, tùy vào chức năng từ loại
mà nó biểu đạt. Thí dụ chữ 上 có hai âm đọc là “thượng” và “thướng”, theo Hán Việt tự điển (Thiều Chửu
2009), khi chữ 上 làm chức năng từ loại tính
từ thì đọc là “thượng”, như 上部 – thượng bộ: bộ (bên) trên hay 上卷 thượng quyển. Khi chữ 上 làm chức năng từ loại động từ thì đọc là “thướng”,
như 上堂 – thướng đường: lên thềm hay 上書 – thướng thư: dâng tờ thư,...
[TĐHVTc; 2].
Áp dụng để có thể giải nghĩa và phiên âm đúng một
văn bản chữ Hán, ta cần hết sức chú ý đến âm đọc và nghĩa mà từ điển đã quy định,
không nên cảm tính vào thành tố âm đọc đã quen thuộc. bởi vì trong chữ Hán Nôm
chỉ cần một chữ đã thay đổi bộ kiện hay bộ thủ đi thì âm đọc và nghĩa đã hoàn
toàn khác nhau.
Thí dụ, trong một ngữ liệu Hán văn, khi cần tra tự điển để có thể phiên âm đúng
và dịch nghĩa của văn bản thì người tiếp cận văn bản cần nắm được khái niệm chữ
Hán có vấn đề đa âm đọc. Cần phân biệt những trường hợp độc âm (tức chỉ có một
âm) và đa âm (từ hai âm trở lên) và nắm được các chức năng từ loại xuất phát từ
thành tố âm đọc. Chúng ta thử quan sát một đoạn ngữ liệu sau bằng chữ Hán
nguyên bản sau:
遊九龍江
葉伯農
江楓漁火繞炊湮
阡陌連綿遍綠川
魚米之鄉天獨厚
水上泛舟聽管弦
[Mgtt3; 58]
Phiên âm:
Du Cửu Long Giang
Diệp Bá Nông
Giang phong ngư hỏa nhiễu xuy (xúy) yên (nhân),
Thiên mạch liên miên biên (biến) lục xuyên.
Ngư mễ chi hương thiên độc hậu,
Thủy thượng (thướng) phiếm chu thính quản huyền.
Dịch nghĩa:
Chơi sông Cửu Long
Diệp Bá Nông
Cây phong bên sông và lửa chài
khói tỏa bay,
Bờ ruộng liên miên màu xanh trải
khắp sông này.
Trời hậu đãi chỉ độc cho quê
hương của lúa và cá này,
Con thuyền nổi trên sông nghe
tiếng sáo đàn.
Trong phần dịch nghĩa, chúng tôi đã dựa trên cơ
sở những từ được in đậm – nghiêng trong phần phiên âm để từ đó tra nên nét nghĩa
tương đương nhất. Thiết nghĩ việc lược dịch, phiên chuyển từ nguyên văn chữ Hán
sang phiên âm và nghĩa tiếng Việt, nhất nhất cần phải tích lũy được một số kiến
thức và có một quá trình tiếp cận với văn tự Hán Nôm lâu dài, nhưng trong học
phần Hán Nôm, các giải pháp được đề ra cũng nhằm làm nền tảng cho người học,
cho sinh viên tự nghiên cứu và có thể phát triển các kỹ năng tư duy trong văn bản
trong ngôn ngữ tiếng Việt bằng các thủ thuật có thể thực hiện tại chỗ và sẵn
có.
Một phương pháp khác, khá phổ biến và mang nhiều
ý nghĩa văn chương hơn, đó là phương pháp “chiết tự”. Thực sự đây là một trong
những cấu tạo của Lục thư trong chữ Hán, giúp người tiếp nhận văn bản Hán Nôm
có thể hiểu rõ sâu hơn về ba phương diện: hình – âm – nghĩa của chữ, và từ đó
có thể nắm được nghĩa khái quát của cả văn bản.
Trong bài giảng “Hán văn cơ sở”, tác giả Tạ Đức Tú đã dẫn ra phương pháp học này
trong bài thơ “Chiết tự” của Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Qua đó, người học chữ
Hán nền tảng cơ sở sẽ hiểu sâu hơn về kết cấu và diễn biến cấu tạo của chữ Hán
qua phương pháp chiết tự. Từ một chữ Hán đơn hay hợp thể cơ sở, kết hợp thêm với
một bộ thủ để hàm ý chuyển sang một nét nghĩa mới hay chuyển thành tố âm đọc
sang một dị âm khác – cũng nhằm vào trong tính chất đa âm của chữ Hán.
Thí dụ
|
Nguyên văn chữ Hán
|
Phiên âm
|
|
折字
(1) 囚人出去或為國,
(2) 患過頭時始見忠。
(3) 人有憂愁優點大,
(4) 籠開竹閂出真龍。
|
Chiết tự
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu
thì thủy kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu
ưu điểm đại,
Lung khai
trúc sản, xuất chân long.
|
[VVH; 124]
Trong bài thơ “Chiết tự”, phương thức tách chữ, thêm chữ hoặc thêm bộ kiện,
bộ thủ được diễn biến trong các chữ đầu dòng thơ và chữ cuối cùng mỗi dòng thơ
chính là thành quả của quá trình tách – chiết chữ đó. Ta có:
Dòng (1), chữ nhân sau khi bỏ chữ
đi chữ nhân trong bộ bi thêm chữ hoặc thành chữ quốc.
Dòng (2), chữ hoạn sau khi bỏ đi một bộ khẩu thành chữ trung (trung
thành).
Dòng (3), chữ nhân thêm một nét ngang thành chữ đại.
Dòng (4), chữ lung bỏ đi bộ trúc trên đầu còn lại chữ long (rồng).
Chúng tôi trong quá trình thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau,
trong nước và ngoài nước và các bằng hữu nghiên cứu về Hán ngữ, Hán tự hiện đại
hiện nay, một số tài liệu đa phần được trích yếu theo cách nghiên cứu của tiếng
Hán và chữ Hán giản thể cho nên việc giải thích từ vựng cũng chỉ dừng lại ở một
mức độ nhất định, khó có thể định hướng nghiên cứu sâu hơn vào trong chính nội
thể các khái niệm ngôn ngữ học. cách giải thích đa nguồn nhưng chủ yếu chũng chỉ
bám vào một số tài liệu tin cậy về các chuyên gia ngôn ngữ, nghiên cứu về Hán
Nôm hiện nay và một số tác giả như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn
Khuê,...
2.1.3. Nhận dạng các dạng Thư
thể trong chữ Hán – Nôm
Thư thể (書體) chính là các dạng chữ viết
hay các kiểu chữ của chữ tượng hình được thể hiện khác nhau trong chữ Hán và chữ
Nôm qua các thời kỳ hình thành và phát triển của các cách viết qua các triều đại
sử dụng chữ tượng hình. Đối với chữ Hán, các thư thể đã trải qua quá trình hình
thành từ chữ tượng hình thuở ban đầu trên Giáp cốt (甲骨) rồi Kim văn (金文). Cho đến ngày nay chữ Hán – Nôm đã được định
hình và hiện thị như trên văn bản tin học. Các thư thể chính đó là: Triện thư (篆書), Lệ thư (隸書), Khải thư (楷書), Hành thư (行書), Thảo thư (草書).
Theo tác giả Trần Đình Hữu (Trung Quốc) thì “các kiểu chữ thường dùng của thư pháp Trung
Quốc có khoảng 10 loại” [TpTQ; 20]; trong đó
các thể chữ Khải – Hành – Thảo là những thư thể thường dùng trong cuộc sống hằng
ngày trong các văn bản viết tay, các dạng tự thiếp của thư pháp và thể hiện
trong mỹ thuật. Các thư thể còn lại rất ít sử dụng , chỉ còn có thể bắt gặp
trong nghệ thuật viết thư pháp Hán Nôm, trong đó Triện thể còn được sử dụng để
khắc dấu ấn cho đến ngày hôm nay. Chúng tôi trên cơ sở nghiên cứu và trích yếu
từ góc độ thư pháp xin trình bày mô phỏng một số đặc điểm của các thư thể sau:
2.1.3.1. Khải thư (楷書)
Đây là kiểu chữ thông dụng và ổn định sử dụng
lâu dài nhất trong chữ Hán cũng như chữ Nôm. Đặc điểm của Khải thư là nét chữ
chuẩn mực, bố cục nghiêm ngặt, tốc độ viết các nét chữ tương đối chậm. Hình
dáng dễ nhìn và rất dễ phân biệt, chữ Khải thường dùng trong các văn bản hành
chính, các sắc phong của triều đình phong kiến, bia mộ chí, các ấn phẩm sách vở.
![]() |
漢喃字典
Thể chữ Khải thư được sử dụng trong in ấn và
trên màn hình máy tính hiện nay
|
|
Hình 4: Chữ Hán Khải thể mô phỏng theo phong
cách của nhà
thư pháp Liễu Công Quyền đời
Đường
|
|
2.1.3.2. Hành Thư (行書)
Hành thư xuất hiện sau khải thư, xuất phát từ
nhu cầu ghi nhanh với một tốc độ vừa phải nhưng rất đảm bảo hiệu quả mĩ thuật
trong đường nét. Hành thư là thư thể đứng giữa cân đối giữa Thảo và Khải thư;
giữa các nét bút thường có sự liên đới nhất định, vận bút đơn giản nhẹ nhàng và
tương đối dễ nhận dạng mặt chữ. Hành thư thường dùng trong việc viết thư tay hằng
ngày và các biển chữ cần tạo nên cá tính nghệ thuật. Tác phẩm “Lan đình thiếp” 蘭亭帖của Thư thánh Vương Hy Chi 王羲之 là một trong những tác phẩm
thư pháp về chữ Hành thư mẫu mực hiện nay còn lưu giữ tại bảo tàng Cố Cung Bắc
Kinh Trung Quốc.

[TPTQ;11]
Hình 5: Tác phẩm Lan Đình tự tập
(蘭亭帖) kiểu chữ
Hành thư của Vương Hy Chi (Phùng Thừa Tố đời Đường mô phỏng lại)
2.1.3.3. Thảo thư (草書)
Thảo thư là cách viết kết hợp giữa các nét chữ bằng một nét liền bút và hầu
như rất ít có sự hồi phong (hồi bút), Thảo thư chủ trương giản lược các nét của
chữ viết đến mức tối giản nhất. Cách viết của Thảo thư đã “phá vỡ đi hình khối vuông của chữ Hán, đường nét múa uốn lượn, nét bút
nối liền, sinh động mà khí thế” [CHTQHgđ; 46].
Thảo thư có nhiều cách viết thể hiện khác nhau, tùy định tính nghệ thuật của
người viết. Thực sự, thảo thư là cách viết do tự hình thành trong quá trình đào
luyện chữ viết, trong quá trình đó con người theo đuổi tính mĩ học trong đường
nét của bút lông và mực mà tạo nên Thảo thư. Các loại Thảo thư thường gặp là Cuồng
Thảo, Chương thảo và Kim Thảo. Một trong những tác phẩm chữ Hán được viết dưới
dạng Thảo thư – Cuồng thảo nổi tiếng nhất trong lịch sử Thư pháp đó là “ Tự tự thiếp” của Hoài Tố (đời Đường) hiện còn đang lưu giữ tại Bảo
tàng Cố Cung Đài Bắc – Đài Loan.

Hình 6: Một phần tác phẩm “Tự tự thiếp” kiểu chữ Cuồng thảo
của Hoài Tố, đời nhà Đường [TpTq; 79]
2.1.3.4. Triện thư (篆書)
Sau khi kết thúc giai đoạn Giáp cốt văn và Kim
văn, chữ Hán bắt đầu có sự tiến triển thành thư thể thống nhất, trong đó Triện
thư là thư thể được bắt đầu sử dụng chính thức vào đời nhà Tần, sau khi Tần Thủy
Hoàng thống nhất thiên hạ trong đó có chữ viết và các đơn vị đo lường. Triện thư
bao gồm hai loại: tiểu triện và đại triện. Tiểu triện “là một thể chữ rất đẹp , hình thể chữ nhật vuông vức, kết cấu đối xứng
ngay ngắn, nét bút tròn lượn tuyệt đẹp, nét đậm nét nhạt nhìn vô cùng đẹp mắt”
[CHTQHgđ; 38], và tiểu triện chính là thư thể được
sử dụng chính vào đời Tần. Trong đó, nếu truy ra nguồn gốc thì chữ trên Giáp cốt
chính là nguồn gốc của Triện thư sau này. Hiện nay, chữ Hán ngày càng giản thể
hóa “Triện thư sẽ rất khó nhận biết mặt
chữ, nhưng lại mang một sức hấp dẫn về nghệ thuật và cảm giác thần bí” [TpTQ; 21], riêng ngày nay, chữ Triện vẫn còn sử dụng
để khắc trên con dấu thư pháp, ấn chương thư họa. Bia tiến sĩ ở Văn miếu Hà Nội
đa phần có khắc chữ Triện trên phần đầu đề của bia đá nhằm tạo cảm giác trang
trọng và tính thẩm mĩ sang trọng.
![]() |
![]() |
|
Hình 6: Bản
dập bia đá chữ Đại triện
|
Hình 7: Các ấn chương sử dụng
trong thư họa
|
2.1.3.5. Lệ thư (隸書)
Lệ thư là thư thể phát triển nên từ dòng dõi của
Triện thư, và là thế hệ thứ hai của Triện thư. Lệ thư chủ yếu sử dụng rộng rãi
từ đời nhà Hán, nét bút của Lệ thư bắt đầu chuyển biến từ độ dày của chữ Triện
sang nét mảnh và có hình dáng “đầu tằm đuôi én”. Hình dáng của Lệ thư hơi dẹp
và có độ rộng hẹp nhất định. So với các thư thể khác thì Lệ tương tự như Triện
được dùng khắc trên thẻ tre (竹簡 trúc giản) và trong nghệ thuật thư pháp là chủ yếu.
![]() |
|
Hình 8: Bản thư pháp viết mô phỏng theo Lệ thư
|
Nhìn chung, đa số ngày nay ở Việt Nam ta ngoài
giới nghiên cứu Hán Nôm và những nhà thư pháp am tường về các thư thể này. Cho
nên việc sinh viên ngành Văn học khi học học phần Hán Nôm chưa thể phân biệt được
đâu là Khải thư và Thảo thư như trong khảo sát thì cũng là bình thường. Bởi để
có thể nhận dạng các thư thể này cần có niềm đam mê nghiên cứu chữ Hán, Nôm và
các dị dạng hình thể cũng như quá trình biến đổi của nó. Và một phần các thư thể
này có liên quan mật thiết với việc tin học hóa Hán Nôm cũng như nghệ thuật thư
pháp.
2.1.4. Phân biệt chữ Hán và chữ Nôm
2.1.4.1. Đặc điểm và cách nhận dạng chữ Hán và chữ Nôm
Chữ Hán và chữ Nôm là hai khái niệm rất rạch ròi
về nghĩa và mục đích sử dụng. Chữ Hán được đọc theo âm Hán Việt ở tại Việt Nam
và được đọc theo nhiều âm đọc của các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa và văn tự
Trung Hoa. Chữ Nôm là loại chữ viết cùng hình dáng tượng hình như chữ Hán nhưng
chức năng chính của chữ Nôm là dùng ghi âm tiếng Việt, do người Việt Nam sáng tạo
nên từ cơ sở nền tảng là chữ Hán. Theo giáo sư Nguyễn Ngọc San thì chức năng
chính yếu của chữ Nôm từ khi ra đời tự bản thân nó đã khẳng định được mục đích
của ngôn ngữ tiếng Việt: “cùng với sự
phát triển của nhu cầu ghi chép nền văn hóa Việt, chữ Nôm cũng càng ngày càng
phát triển và tự hoàn thiện để việc ghi chép tiếng Việt được hữu hiệu hơn.” [Nns;21]. Như thế,
với một văn tự là chữ Hán dùng làm công cụ ghi chép ngôn ngữ, tuy nhiên chính
chữ Hán cũng nhằm vào chức năng ban đầu thay thế cho việc ghi chép lại những sự
việc mà nước ta chưa có chữ viết và chữ Hán và tiếng Việt sau giai đoạn tiếp
xúc với tiếng Hán thì hai lại ngôn ngữ này có chung đặc điểm chính là loại hình
ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, có thanh điệu và phù hợp với việc sữ dụng chữ
Hán để ghi âm và biểu thị sự việc. Do vậy, đến ngày hôm nay trong một văn bản
văn tự tượng hình trong học phần Hán Nôm, nếu không tách bạch rõ ràng thì sinh
viên, người học rất khó phân biệt đâu là chữ Hán và chữ Nôm. Nguyên nhân chính
do vấn đề đồng loại về loại hình (hình khối, biểu ý) giữa hai văn tự nhưng tính
chất và cấu tạo cũng như mục đích sử dụng thì khác xa nhau.
Chữ Hán và chữ Nôm tương đồng nhau về mặt loại
hình, khác về mục đích và tính chất sử dụng: Chữ Hán là những ký tự đã được cố
định và rất ít có sự phân chuyển, biến hình như chữ Nôm. Chữ Hán có cách viết
và cách đọc rất hệ thống và mặc định. Trong khi đó, chữ Nôm với rất nhiều tiểu
loại cấu tạo và khả năng biểu đạt nghĩa của đơn vị từ tiếng Việt rất cao nên nó
có khả năng phân hóa thành các tự dạng không thống nhất với nhau về mặt lịch đại
văn tự. Cách viết chữ, phương thức tạo chữ chưa thật sự đồng nhất, do đó hệ thống
âm đọc đôi khi rất phức tạp và rất khó hiểu, do phải truy âm đọc và nghĩa theo
kiểu vừa đọc vừa đoán.
Thí dụ: các chữ Hán như 詩 (thi – thơ), 觀 (quan – xem), 皮 (bì – da) là những chữ Hán mặc
định về nghĩa và các thành tố âm đọc, đôi khi có sự biến âm đôi chút như chữ
“quan” có hai âm là “quán” và “quan”, và các âm đọc này chỉ đọc khác nhau về dấu
khi bản thân từ có sự chuyển biến về mặt từ loại trong văn cảnh. Lấy thí dụ một
trường hợp của chữ 詩, nếu thể hiện nghĩa thuần Việt
của chữ này bằng tiếng Việt – tức sang chữ Nôm thì ta có:
- 詩 (thi) nghĩa là “thơ”, ta có chữ “thơ” bằng chữ Nôm có các tự dạng theo
các cách cấu tạo, gồm: 初 [F1]; 他 [F2]; 舒 [F3]; 詩 [F4]; 𠽔 [F5]; 𡮲 [F6]; 𦭟 [F7]
|
Ký hiệu
|
Âm Hán Việt (â.HV)
|
Âm Nôm
(â.N)
|
Dạng cấu tạo chính
|
|
[F1] 初
|
sơ
|
|
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
|
|
[F2] 他
|
tha
|
tha, thơ,
thà, thè
|
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
|
|
[F3] 舒
|
thư
|
thư, thơ
|
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
|
|
[F4] 詩
|
thi
|
thi, thơ
|
Mượn chữ Hán, đọc chạy âm
|
|
[F5] 𠽔
|
|
thơ, thưa
|
Chữ Nôm, nguyên từ chữ 疎(sơ), thêm bộ “口”(khẩu) biểu ý
|
|
[F6] 𡮲
|
|
thơ
|
Chữ Nôm, nguyên từ chữ 詩 (thi), thêm chữ “小” biểu ý
|
|
[F7] 𦭟
|
|
thơ
|
Chữ Nôm, nguyên từ chữ 他 (tha), thêm bộ “艸”(thảo) biểu ý
|
Bảng 16: So sánh cấu tạo của chữ Nôm giữa chữ
Nôm mượn từ chữ Hán với
chữ Nôm sáng tạo
Trong đó, chúng tôi tìm ra được một dạng cấu tạo
khác, hay nói chính xác hơn cách viết giản thể hóa nét chữ của chữ mang ký hiệu
[F7] 𦭟. Chữ [F7] được chúng tôi tra cứu từ Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu
(2009), thì chữ “𦭟” được giản thể hóa nét từ nguyên thể chữ “葹” (thi), nếu đi chung chung với chữ “菤” (quyển) thì hàm nghĩa chỉ một
loại thực vật [TđHvTc; 833]. Như vậy, chúng ta
thấy rõ ràng trong nội hàm một chữ Hán khi được dịch, được phiên chuyển nghĩa
sang chữ Nôm thì bản thân nó có thể biến hóa ra hai, ba trường hợp: một, từ bản
thân là chữ Hán, để biến chuyển thành chữ Nôm thì nó có thể mượn từ nguyên thể
chữ Hán, sau đó biến đổi thành gốc âm đọc Hán Việt sang thành âm Nôm (trường hợp
từ F1 đến F4); hai, để thể hiện nghĩa của nó sang nghĩa thuần Việt và tạo chữ độc
lập, chữ Nôm có thể lấy một chữ Hán nguyên thể có thành tố âm đọc gốc Hán Việt
tương đồng về phụ âm để biểu âm, lấy một bộ thủ hay một chữ Hán đơn thể có hàm
nghĩa chỉ sự vật biểu ý (trường hợp F5 và F6);
Cuối cùng, có thể lấy một trong cụm từ Hán Việt độc lập, tách ra thành một
đơn vị từ đơn tiết và lấy nó làm chữ Nôm biểu thị âm đọc (trường hợp F7).
Trên đây là sự phân tích và tổng hợp chỉ ra một
vài trường hợp cá biệt và có thể thấy được tính chất và phương thức tạo chữ và
tạo nghĩa của chữ Nôm như thế nào. Tuy nhiên, trong bản thân so sánh giữa sự
khác biệt giữa hai loại văn tự Hán và Nôm cũng cần được đặt trên một cơ sở cân
xứng hơn: cơ sở loại hình ngôn ngữ và cơ sở loại hình văn tự. Và để chỉ ra được
sự khác biệt giữa hai loại chữ viết này cơ bản nhất theo chúng tôi có một số
cách thức phân biệt như sau:
(a) Theo giáo sư Nguyễn Ngọc San,
khi phân biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm, “trước
nhất những chữ Hán xuất hiện trong văn bản Nôm mới là chữ Nôm, nghĩa là nó vừa
xuất hiện trong văn bản Hán vừa xuất hiện trong văn bản Nôm” [NNs;34]. Dẫn theo lý thuyết trong công trình “Lý thuyết
chữ Nôm, văn Nôm” của giáo sư Nguyễn Ngọc San xin trích dẫn phương pháp tách biệt
chữ Hán và chữ Nôm trong công trình này qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1:
phân định phạm vi giao thoa của chữ Hán và chữ Nôm [NNs;34]
Theo đó ta có, vòng A là các chữ Hán có trong
văn bản Hán văn; vòng B là các chữ Nôm có trong văn bản Nôm. Phạm vi trong
khoang I gồm các chữ Hán không xuất hiện trong văn bản Nôm, phạm vi khoang II gồm
các chữ Nôm không bao giờ xuất hiện trong văn bản Hán. Cuối cùng, phạm vi
khoang III là các chữ Nôm đã được tạo ra từ việc chuyển hóa từ chữ Hán ở giữa
phạm vi khoang I và II.
Thí dụ: Chữ Hán có thể biến chuyển
qua lại giữa chữ Hán và chữ Nôm tức vừa làm chức năng trong hai loại văn tự.
“NỖI NIỀM ĐÊM VẮNG
𠓇𦝄照𠓀牀
𨕭坦擬罗霜
仰頭𥉫𦝄𠓇
儈頭𢖵圭鄕
Sáng trăng chiếu trước giường,
Trên đất nghĩ là sương.
Ngẩng đầu trông trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê hương.
KHUYẾT DANH – Bản B” [Đtqâcb; 228]
Như thế trong văn bản trên, ta tách ra được các chữ Hán được mượn dùng
chuyển hóa âm đọc sang âm tiếng Việt: 照,牀坦擬罗霜仰儈頭圭鄕 là các chữ Hán được mượn
nguyên thể và đọc chệch âm. Đây là các chữ Hán trong văn bản Nôm, và các chữ
còn lại chính là chữ Nôm được tạo ra từ cơ sở một bộ thủ biểu ý và một chữ Hán
làm thành tố âm đọc. Cách chữ Nôm này hay nói một cách khác là sự điều chỉnh âm
đọc để chuyển hóa thành tiếng Việt mang chức năng ghi âm. Và các chữ Nôm này
chính là thành phần được nằm trong phạm vi khoang III trong sơ đồ trên.
Cách thức thực hiện phương pháp này có thể dựa vào việc tra tự điển chữ
Nôm hay tự điển Hán Việt. Tuy nhiên, sau khi sinh viên, người học đã học cấu tạo
của chữ Hán, các thành tố các tiểu loại cấu tạo chữ Nôm thì việc tách chiết các
bộ thủ và các chữ của chữ Hán – Nôm là một việc rất dễ dàng thực hiện. trong đó
chỉ cần nhìn và quan sát kỹ các bộ thủ của chữ để tìm ra được sự phân định
chính xác nhất.
(b) Căn cứ vào dặc điểm hình thể của
chữ Nôm và chữ Hán, chúng tôi tạm thời tách biệt chữ Nôm thành hai loại chính để
có thể ứng dụng vào trong việc phân biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm. Bao gồm: một,
chữ Nôm mượn từ nguyên chữ Hán đọc chạy âm, mượn nghĩa và không mượn âm hoặc mượn
cả âm lẫn nghĩa; hai, chữ Nôm sáng tạo từ việc ghép giữa một chữ Hán biểu âm và
một bộ thủ biểu ý.
|
(1) Chữ Nôm mượn từ chữ Hán
|
(2) Chữ Nôm sáng tạo
|
|
Đọc chạy âm, chệch âm để nhằm chuyển từ chức năng biểu ý của chữ thành
chức năng biểu âm. Chữ mượn nghĩa, không mượn âm nhằm việc hướng đến tạo nên
định hướng âm đọc thống nhất cho chữ đó trong văn bản Nôm.
|
Thành tố
biểu âm có chức năng điều chỉnh âm đọc của chữ Nôm chính xác; định hướng âm
tiết cho cách đọc.
|
|
Ví dụ
|
|
|
棹trạo>chèo; 腰yêu>eo; 鉑bạc>bạc;
沫mạt>mát; 㕑 trù> chùa; 東西南北>
đông tây nam bắc,...
|
𠸛 tên; 𥄬 ngủ; 𢆥 năm (năm tháng); 𠄼 năm (chữ số 5); 𦓅>già; 抉>quét;
𢯦>lay (lung lay)
|
Bảng 17: So sánh đặc điểm giữa chữ Nôm mượn từ
chữ Hán và chữ Nôm sáng tạo
Trong (1), những chữ Nôm được tạo ra từ chữ Hán
có một điểm chung nhất đó là thành tố âm đọc Hán Việt được sử dụng để tạo nên những từ Hán Việt và sử dụng
chính thức trong tiếng Việt ta và chính từ điểm này, các từ có chứa yếu tố Hán
Việt đã Việt hóa qua việc vay mượn. Theo đó, truy về nguồn gốc của việc vay mượn
trong tiếng Hán, theo giáo sư Nguyễn Văn Khang thì “có thể phân loại từ mượn Hán thành hai loại: từ mượn Hán theo con đường
khẩu ngữ và từ mượn Hán theo con đường sách vở (bác học)” [Ng.vKhang; 102]. Theo phân tích của chúng tôi trên cơ
sở phân biệt giữa loại hình văn tự, chúng tôi suy luận rằng chỉ có thể qua con
đường sách vở tức sự tiếp nhận bác học nên mới xảy ra sự vay mượn và tiếp xúc với
từ - chữ Hán theo âm đọc Hán Việt song song. Từ đó, phương thức tạo chữ trong
chữ Nôm đã được hình thành qua đặc điểm vay mượn âm – nghĩa của chữ Hán để tạo
nên chữ Nôm và một số lượng chữ Hán làm chữ Nôm không thông qua giai đoạn tạo
chữ sáng tạo.
Như vậy, phương pháp chủ yếu trong phương pháp (b) này chính là quan sát bộ
thủ cấu tạo và nhận diện được đâu là những chữ Hán làm chức năng âm đọc, mượn
nghĩa để làm chữ Nôm; những chữ Hán được cấu tạo – kết nối với nhau theo hình
thức chỉnh âm – biểu ý thì đó là chữ Nôm.
(c)
Ngày nay, việc tin học hóa Hán Nôm trong phân
ngành Hán Nôm cũng như học phần Hán Nôm cần thiết hơn bao giờ hết. Nếu như
chính vào chi tiết mà chúng ta vô tình phủ nhận đi các phương thức nhập liệu
Hán Nôm “truyền thống” như viết bằng tay, phân định chữ Hán – Nôm bằng các thủ
thuật thường thì có lẽ đây là một góc nhìn chủ quan, thiêng lệch. Trong cách
phân định giữa hai loại văn tự này, chúng tôi ứng dụng từ việc tách chiết chữ
Hán Nôm qua thủ thuật tin học đơn giản nhằm giúp cho tiến độ học tập của sinh
viên, công việc nghiên cứu phân định chữ viết được nhanh chóng hơn.
Thí dụ: cho hai đoạn ngữ liệu sau,
hãy phân định đâu là chữ Hán đâu là chữ Nôm.
Đoạn (a1)
春遊蓮潭 - 劉子彬
黄昏践約小橋西,
漫步花間夜色迷.
繾綣兩情唯月見,
三盟海誓證椰堤.
[Mgtht; 48]
Đoạn (a2)
“𩙋𦹳篭帳錦
𣌝𤏬論茄鐄
㙴玉花𨅮𦬑
湖𤄯𦹵鄧香
樓高𡥵𡛔𢱖
𣘃碧㗂𪃿㘇
桃李𣈜春卒
宮仙餒𢖵傷”
[Đtqâcb;182]
Quan sát hai văn bản trên (a1) và (a2), ta thấy
hai dạng phông chữ (font) chữ Hán Nôm có sự khác nhau rõ rệt. Trong hệ điều
hành Win.7 và Word 2003 khi thực hiện nhập văn bản Hán Nôm thì chữ Hán sẽ có
hình dạng theo chuẩn Khải thư, chữ Nôm sẽ theo dạng Tống thể phỏng theo dạng viết
tay hay Hắc thể bản chữ in. Chúng ta có thể quan sát sự khác nhau giữa các thể
chữ sau:
|
喃
|
喃
|
漢
|
|
Tống thể
(songti hay細明體_HKSCS-ExtB)
|
Hắc thể
(Heiti hay Simhei)
|
Khải thể
(kaiti)
|
|
Hình thức
hiển thị của chữ Nôm
|
Hình thức
thể của chữ Nôm
|
Hình thức
thể hiện của chữ Hán
|
Sử dụng phương thức nhập liệu Hán Nôm Hanokey 3.0 của Tống Phước Khải trong
Word 2003 (W.03) thì chữ Nôm không thể nào thể hiện được hình dạng của mình
trong font Khải thể. Qua bảng trên, ta thấy rõ ràng giữa hình dáng của chữ 喃 (Nôm) và 漢 (Hán) có sự khác nhau rõ ràng về font chữ. Như thế,
đối chiếu vào hai đoạn ngữ liệu trong (a1) và (a2), ta rõ ràng nhận diện ra văn
bản (a1) là văn bản chữ Hán và (a2) là văn bản Nôm; trong văn bản (a2) thì các
chữ Nôm được mượn từ nguyên thể chữ Hán không qua quá trình tạo chữ của chữ Nôm
là những chữ được hiển thị theo dạng Khải thư (kaiti), còn chữ Nôm sáng tạo thì
chỉ hiển thị dưới định dạng của Tống Thể (songti hay細明體_HKSCS-ExtB) và Hắc thể (Heiti hay Simhei). Cho nên
nếu dựa vào đặc điểm thể chữ trong tin học ta có thể dễ dàng nhận dạng và phân
biệt đâu là chữ Nôm và chữ Hán một cách nhanh chóng.
Một cách khác để có thể nhận dạng và cũng là
phương pháp trra tự điển Hán Nôm trực tuyến hay ngoại tuyến trong điện thoại thông
minh hay trên bàn phím viết tay của máy tính dưới chế độ “中文手写” (Trung văn thủ tả - zhongwen shouxie) – tức bàn phím viết tay thì khi
ta viết tay một chữ Hán – Nôm vào màn hình sẽ hiển thị ra ngay chữ mà ta cần nhập.
Nếu chữ viết nhập vào là chữ Hán thì hệ thống tự khắc nhận biết và cho ra chữ,
nếu nhập vào chữ Nôm sáng tạo không vay mượn từ chữ Hán thì hệ thống sẽ không
thể cho ra được tự dạng.
Thí dụ để nhập liệu chữ 名 (danh) và chữ 𠸛 (tên) trong màn hình điện thoại
thông minh (IOS) dưới chế độ “中文手写” ta chỉ thấy ảnh của chữ名 hiển thị nên đúng chữ cần nhập; còn chữ Nôm 𠸛 thì hệ thống lại cho ra chữ
không đúng.
![]() |
![]() |
|
Chữ Hán名 (danh)
|
Chữ Nôm 𠸛 (tên)
không thể hiện trên bàn phím IOS chữ Hán
|
Hình 5: Mô phỏng bàn phím viết tay chữ Hán trong
điện thoại thông minh (IOS) và cách phân biệt Hán – Nôm bằng phương pháp nhập
liệu
2.1.4.2. Vận dụng vào dạng bài
tập sử dụng chữ Nôm
Trong dạng bài tập sử dụng chữ Nôm để chuyển ngữ từ chữ Quốc ngữ sang chữ
Nôm hay đơn giản viết một đoạn văn bằng chữ Nôm giới thiệu về bản thân,... đều
cần đến các kĩ năng sử dụng chữ Nôm mượn từ chữ Hán trong thành tố chuyển âm đọc
hoặc sáng tạo nên chữ Nôm hay mượn chữ Nôm đã được định hình từ trước. Sau đây,
chúng tôi mô phỏng một dạng bài tập điển hình trong học phần chữ Nôm trong cách
vận dụng kiến thức về chữ Hán, Nôm cũng như sử dụng khả năng tạo chữ, chọn chữ
Nôm trong phương pháp nhập liệu Hán Nôm.
·
Viết một đoạn văn ngắn bằng chữ
Nôm giới thiệu về môn Văn học Việt Nam trung đại bằng chữ Nôm, có chú thích lại
bằng chữ Quốc ngữ.
Chữ Nôm:
門文學中代罗沒學份𤁘專梗文學在場大學芹詩. 低罗門學哏連貝仍𢏿建識衛𡦂漢𡦂喃供如各人物𤁘歷史越南時中代如阮廌陳興道吧各詩豪𡘯, 試喻如阮攸, 陳濟昌,胡春香。尋曉衛各這治文章藝術𤁘學份供正罗尋曉𠁀𤯨藝術𧵑吒翁些𤁘過去。正仍之節呢麻生員語文𣎏體積縲建識衛文學史朱本身吧發輝伮𤁘格𥆾㵋𥻙。
Chú thích chữ Quốc ngữ:
Môn văn học trung đại là một học phần trong
chuyên ngành Văn học tạo trường đại học Cần Thơ. Đó là môn học gắn liền với vốn
kiến thức về chữ Hán chữ Nôm cũng như các nhân vật trong lịch sử Việt Nam thời
trung đại như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo và các thi hào lớn, thí dụ như Nguyễn
Du, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương. Tìm hiểu về các giá trị văn chương nghệ thuật
trong học phần cũng chính là tìm hiểu về đời sống nghệ thuật của cha ông ta
trong quá khứ. Chính những chi tiết này mà sinh viên Ngữ văn có thể tích lũy kiến
thức về văn học sử cho bản thân và phát huy nó trong cách nhìn mới mẻ.
Dạng bài tập vận dụng và viết đoạn văn bằng chữ
Nôm, hay một hình thức khác là dịch từ ngữ liệu Quốc ngữ sang chữ Nôm là một
bài tập khá thú vị, giúp khả năng tư duy cho sinh viên và khả năng tạo từ, lựa
chọn chữ viết chính xác nhất trong từng bộ thủ, trong từ thành tố âm đọc Hán Việt,
kỹ năng phân biệt các từ và cụm từ gốc Hán để từ đó có thể rèn luyện được khả
năng chính tả, sử dụng tiếng Việt ngày một tốt hơn. Thực tế, nếu truy ra khả
năng viết đúng và dùng đúng từ tiếng Việt thực sự rất cần đến kiến thức Hán Nôm để
giải thích xác đáng. Nhiều từ Hán Việt chỉ có thể viết đúng khi tra tự điển và
dẫn ra được hình thể của chữ viết mới có thể chắc chắc, thí dụ từ “sáng lạng” nếu
viết như thế này là sai chính tả và sai cả nghĩa tạo từ. Từ này âm đọc tương tự
như thuần Việt nhưng thực sự nó là yếu tố Hán Việt, từ nguyên học của từ này
trong hình thể chữ Hán là “燦爛” tức “xán lạn” mới chính xác. Mặt khác, dựa vào kỹ năng tra tự điển để
hiểu đúng nghĩa từ nguyên học của các thì mới có thể dùng đúng, thí dụ từ “cứu
cánh” nếu hiểu thông thường thì “cứu” là cứu giúp, “cánh” là đôi cánh (tay) tức
giúp đỡ nhau, nhưng thực sự “cứu canh” trong hình thể chữ Hán là “究竟”, đọc là cứu cánh hay cứu
kính đều đúng, có nghĩa là “cuối cùng”.
2.1.5. Phân biệt chữ Hán – Nôm giản thể và chữ Hán phồn
thể
2.1.5.1. Chữ Hán Phồn thể và Giản thể
Chữ Hán Phồn thể tức là chữ Hán được sử dụng từ khi hình thành và cơ bản đã
hoàn thành từ trong quá trình tạo chữ. Chữ Hán Phồn thể hay còn được gọi là chữ
Hán Chính thể (正體). Theo Từ Hải
Hán điển, thì từ “chính thể” được viết gọn từ cụm “chính qui thể tự”
(nguyên văn: 正規的體字) – tức chữ Hán chính thống không cải biến qua quá
trình giản hóa nét viết. Theo trang web
điện tử “Bake.baidu.com” (百科) thì chữ Hán phồn thể đã bắt
đầu được giản thể hóa từ những năm 50 của thế kỷ 20 trong cuộc cải cách văn tự
của chính phủ nước Trung Hoa mà dần hình thành.
Nguyên văn tiếng Trung Quốc:
“繁体中文即小篆演变为隶书(之后又出现楷书、行书、草书等书法)后产生的中文书写体系,目前已有二千年以上的历史,直到20世纪一直是各地华人中通用的中文书写标准。1950年代开始中华人民共和国官方在繁体中文的基础上所做的简化形成了新的中文书写标准,即简体中文。简体中文主要由传承字以及1950年代以后中华人民共和国政府开始推行的简化字所组成” [https://baike.baidu.com/item/繁体字]
Tạm dịch:
Tiếng Trung
Phồn thể tức là từ chữ Tiểu Triện đã diễn biến từ Lệ thư mà thành (sau này xuất
hiện Khải, Hành và Thảo thư cho đến nghệ thuật thư pháp). Sau đó sản sinh các
thể hệ chữ viết trong tiếng Trung Quốc. Cho đến nay, đã có hơn 2000 năm lịch sử,
đến thế kỷ 20, nó đã là một thứ thể chữ tiêu chuẩn cho cộng đồng người Hoa trên
toàn thế giới. Năm 1950, nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa đã bắt đầu giản lược
chữ viết Phồn thể từ cơ sở giản hóa mà hình thành nên chữ viết tiếng Trung Quốc
tiêu chuẩn, tức Giản thể Trung văn. Chữ Giản thể chủ yếu do kế thừa từ việc cải
cách văn tự năm 1950 về sau trong thể chữ viết của chính phủ nước Trung Hoa
thúc đẩy mà hình thành cho đến hôm nay.
Nhưng trong thực tế, qua các sách vở tư liệu Hán Nôm, chữ viết giản thể đã
bắt đầu hình thành từ trong quá khứ do nhu cầu viết nhanh và thói quen viết chữ
của con người. Một số chữ Hán phức thể quá phức tạp khi viết gây mất thời gian
nên việc viết chữ viết tắt, giản hóa nét đã bắt đầu từ đó. Có những chữ viết tắt
như chữ giản thể ngày hôm nay trong tiếng Hoa hiện đại mà chúng ta thường thấy đã xuất hiện từ rất
lâu từ các các chữ Hán rất phức tạp. Thí dụ, chữ 體 (thể) đã được viết là 体; chữ 數 (số) đã được viết là 数; chữ漁 (ngư) viết là 渔; chữ 班 (ban) viết là 班; chữ簡 (gian) viết là 简,... Tức dựa vào cơ sở giản hóa các từ bộ thủ, hình bàng mà
thành. Theo tác giả Tạ Đức Tú trong “Văn
chương khoa cử Việt Nam” thì vấn đề các chữ viết có sự lẫn lộn thư thể với nhau
là do “nét bút thay đổi của các vùng phù hợp với tính cách người bản xứ. Vì vậy,
sự khác hình của văn tự Hán giữa các thời kỳ thực ra là sự thay đổi chất liệu
viết tạo nên nét của chữ Hán” [VCKCVNtdt; 8]. Đây
cũng chính là một trong những quan điểm nghiên cứu về văn tự dị hình mà chúng
tôi đang trăn trở trong các sách vở Hán và Nôm. Chữ dị hình gây ít nhiều khó
khăn cho người nghiên cứu trong việc tra cứu và thể hiện nó trên màn hình máy
tính điện tử hiện nay.
Sau đây là một số điển hình của sự tương quan giữa
cấu tạo chữ Hán giản và phồn thể:
|
Hình dạng chữ
|
Số nét
|
Âm đọc
|
Đặc
điểm cơ bản nhận dạng
|
|
|
G
P
|
黄
黃
|
11
12
|
Hoàng
|
Chữ (G) có 4 nét:
ngang, sổ, sổ ngang.
Chữ (P) có 5 nét:
ngang, sổ, sổ, ngang, ngang.
|
|
G
P
|
谣
謠
|
12
17
|
Dao
|
Khác nhau trong bộ thủ
言 - 讠
giữa một cách viết tắt và không tắt; phần trên bên phải là bộ trảo 爪
|
|
G
P
|
觀
观
|
25
06
|
Quan
|
Khác nhau giữa chữ雚được viết thành chữ 又;và bộ
見 được
viết tắt là见
|
|
G
P
|
宝
寳
|
8
19
|
Bảo
|
Chữ (G) được viết gồm
bộ miên 宀 và chữ ngọc 玉; chữ (P) gồm có chữ珎 và bộ bối 貝
|
|
G
P
|
书
書
|
4
10
|
Thư
|
Chữ (G) được giản lược
các nét từ cách viết Thảo thư
|
|
G
P
|
马
馬
|
4
10
|
Mã
|
Chữ mã (P) bao gồm bộ
hỏa灬bên dưới, chữ (G) chỉ có một nét ngang.
|
(Ghi chú: trong bảng ký hiệu “P” là phồn thể; “G” là giản thể)
Bảng 18: Minh họa đặc điểm khác biệt giữa chữ Hán giản thể
và chữ Hán phồn thể
Ta có một số chữ ví dụ sau làm dẫn chứng trong các chữ Giản thể và Phồn thể
-
Chữ Hán Phồn và Giản thể
|
Phồn thể
|
Giản thể
|
Âm đọc
|
|
學
|
学
|
Học
|
|
陳
|
陈
|
Trần
|
|
問
|
问
|
Vấn
|
|
陽
|
阳
|
Dương
|
|
國
|
国
|
Quốc
|
|
體
|
体
|
Thể
|
|
輝
|
辉
|
Huy
|
|
會
|
会
|
Hội
|
|
雲
|
云
|
Vân
|
-
Một số chữ Nôm được viết dạng giản thể, tức giản
lược nét hay Thảo hóa từ các nét trong chữ Hán mà thành.
|
Chữ Nôm nguyên thể
|
Chữ Nôm giản thể
|
Âm đọc
|
|
閣
|
阁
|
Gác
|
|
𨴦
|
𨵣
|
Cửa
|
|
𡮆
|
𡭜
|
Mọn
|
|
纙
|
罗
|
là
|
|
𠃩
|
𢒂
|
chín
|
Điểm chung nhất của hai loại
chữ Hán – Nôm phồn thể và giản thể là chính các bộ kiện hay bộ thủ từ trong chữ
đã tự thân nó giản lượt nét, biến hình từ quá trình thảo hóa chữ viết. Thí dụ
ta có các bộ thủ sau biến hình từ quá trình giản lượt nét:
|
言
|
讠
|
誰>谁(thùy); 語>语 (ngữ); 詠>咏 (vịnh)
|
|
門
|
门
|
問>问 (vấn); 悶>闷 (muộn); 聞>闻 (văn)
|
|
灬
|
一
|
馬>马 (mã); 鳥>鸟 (điểu); 漁>渔 (ngư)
|
|
糹
|
纟
|
紅>红 (hồng);結>结(kết);緶>缏 (biền)
|
Bảng 19: Sự biến hình của một
số bộ thủ giữa chữ Hán phồn thể và giản thể
Chính nhờ vào các phần bộ thủ,
bộ kiện biến hình này mà các chữ Hán Nôm rườm rà ngày càng đơn giản và tinh gọn
hơn rất nhiều. Trong vấn đề chữ viết giản thể, còn chứa đựng vấn đề chữ viết dị
thể, chữ viết dị thể là cách viết khác của chữ Hán, Nôm trong cách thể hiện và
âm đọc. Chữ dị thể vẫn đảm bảo yêu cần về nghĩa và thành tố âm tiết. Nhưng chủ
yếu chữ viết giản thể hóa được chấp nhận trong các Hán ngữ hiện đại, trong tiếng
Trung Quốc hiện nay. Chữ phồn thể vẫn toát lên vẻ đẹp hình khối riêng biệt của
nó đã lưu giữ hơn mấy ngàn năm nay. Chữ giản thể cho phép cách viết tay trong tốc
ký để đạt được hiệu quả nhanh gọn, nhưng không vì thế mà ở các vùng lãnh thổ và
các nước sử dụng chữ Hán như Đài Loan, Hồng Kông, và một số nước Đông nam Á vẫn
còn sử dụng chữ viết Phồn thể như một thói quen từ trong quá khứ.
3. Một số đề xuất từ phương tiện học tập và định hướng môn học
3.1.
Phương tiện – công cụ học tập và giảng dạy
Nhìn chung, hiện nay học phần Hán Nôm trong chương trình đào tạo ngành Văn
học nói riêng và các ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung đã đạt được nhiều
thành tựu đáng nổi bật. Các công trình nghiên cứu ở cấp độ cơ sở tại các trường
đại học lớn ở Đồng bằng Sông Cửu Long nghiên cứu về văn tự và văn hóa Hán Nôm
cũng đã dần hình thành, trong đó có các ấn phẩm là luận văn tốt nghiệp đại học,
cao học về chuyên ngành Văn học, Văn học Việt Nam tại trường đại học Cần Thơ đã
nâng bước nghiên cứu Hán Nôm lên một tầm mới. Đa phần các hướng nghiên cứu này
tập trung vào nghiên cứu các tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam, sưu tầm,
phiên âm dịch nghĩa các tư liệu Hán Nôm tại địa phương,... Đó là những cách thức
thực hiện mang tính lợi ích hai mặt: một mặt giúp việc tự nâng cao vốn kiến thức
văn hóa trong môi trường đại học, mặt khác giúp việc bảo tồn gìn giữ tư liệu chữ
viết của dân tộc. Hiện nay, học phần Hán Nôm trong chương trình đào tạo ngành
Văn học hiện còn gặp một số bất cập, khó khăn đến từ bản thân người học, từ những
lí do khách quan như trong phần thực trạng chúng tôi đã trình bày. Trong đó các
phương tiện hỗ trợ học tập giúp học phần đạt chất lượng tốt hơn đến từ việc ý thức của người học. Tức bản
thân người học phải tập trung vào những điểm chính yếu của môn học, và cải thiện
thái độ học tập đối với chuyên môn.
Trong nhiều vấn đề về phương tiện học tập, vấn đề cơ sở vật chất luôn là
hàng thứ yếu, trong phần này chúng tôi chủ trương đề xuất các giải pháp căn cơ
từ cơ sở vật chất như phòng học, công cụ hỗ trợ giảng dạy và các thiệt bị liên
quan.
-
Hướng bảng viết trong phòng học nên đảm bảo đúng hướng trong hướng quan sát
của người học, nếu như các chữ viết trên bảng bị nghiêng lệch trong tầm nhìn của
người học thì sẽ gây nên nhiều vấn đề phát sinh trong việc tri nhận chữ viết. Nếu
một chữ viết trên bảng hay trong giáo trình bị mất nét, thiếu nét hay bị nhòe –
điều này vô hình chung tạo nên việc viết sai từ ngay ban đầu và sau này sự chỉnh
sửa sẽ rất khó khăn bởi đã hình thành nên thói quan như quán tính.
-
Máy chiếu hình ảnh, projector nên đảm bảo còn trong thời gian hạn hay ở
trong độ tuổi sử dụng, bởi nếu máy chiếu gặp vấn đề trục trặc sẽ ảnh hưởng đến
ít nhiều chất lượng hình ảnh phát trên màn ảnh, chữ sẽ hiển thị nhỏ và bị lỗi định
dạng gây khó khăn trong việc sao – ghi chép của sinh viên.
Ngoài ra, còn
rất nhiều các nguyên nhân khác, trong đó đến từ các đầu sách giáo trình, tài liệu
tham khảo trong học phần Hán Nôm tại thư việc hiện đang rất ít, các đầu sách
nghiên cứu hiện đang tồn tại dưới dạng sách “nghiên cứu tại chỗ”. Một phần do
sách là bản in trước năm 1975, sách quá thời gian lưu trữ,... Vì vậy, để phong
phú hóa các tài liệu tham khảo, một mặt chúng tôi đề xuất với ban thư viện nhà
trường cần điều chỉnh và bổ sung thêm tài liệu trong kệ sách Hán Nôm, mặt khác
sinh viên phải là người chủ động trong việc tham khảo tài liệu trực tuyến trên
các trang web của thư việc, viện nghiên cứu Hán Nôm, bộ môn Hán Nôm các trường
đại học. Sau đây là các địa chỉ trực tuyến
mà sinh viên có thể tham khảo và tra cứu áp dụng do chúng tôi sưu tầm và sử dụng:
|
1.
|
Viện nghiên
cứu Hán Nôm Việt Nam: www.hannom.org.vn/
|
|
2.
|
Từ điển Hán
– Nôm trực tuyến, hội bảo tồn di sản Hán Nôm (會保存遺産漢喃) http://www.nomfoundation.org/nom-tools/Nom-Lookup-Tool?uiLang=vn
|
|
3.
|
Bộ môn Hán
Nôm, khoa Văn học và Ngôn ngữ (ĐHQG tp. HCM) www.khoavanhoc.edu.vn
|
|
4.
|
Công cụ nhập
liệu Hán Nôm: Hanokey các phiên bản Hanokey
2.0; Hanokey 3.0 và thiết bị vẽ
tay nhận dạng chữ Hán; phần mền vẽ tay nhận diện chữ Hán trên “Google translate” chế độ dịch tiếng
Trung và điện thoại thông minh (IOS,...)
|
3.2.
Tin học hóa Hán Nôm
Hiện nay việc học Hán Nôm không còn đơn thuần chỉ là việc ngồi viết tay lại
các văn bản Hán Nôm, một mặt việc ghi chép Hán Nôm theo phương pháp truyền thống
nhằm mục đích trong việc tri nhận chữ viết, làm quen với chữ Hán, Nôm trong thời
kỳ đầu tiếp xúc với môn học. Nếu như sinh viên là người có hứng thú với môn học
và có nguyện vọng muôn tiếp tục phát triển năng lực trong chuyên môn Hán Nôm nhất
nhất phải chú ý đến việc làm sao để có thể tin học hóa dữ liệu Hán Nôm. Biến
các tư liệu sống Hán Nôm trong đời thực thành dạng dữ liệu số có thể truy cập,
chia sẻ và lưu giữ một cách khoa học nhất nhờ vào các thủ thuật tin học đơn giản
ban đầu. Chúng tôi trong phần này, xin đưa ra một vài dạng lưu trữ, nhập liệu
Hán Nôm thông thường nhất có thể giúp cho sinh viên khi học học phần này có thể
sử dụng các phần mềm đánh chữ Hán Nôm trong máy tính cũng như sử dụng công cụ
nhập liệu khác.
3.2.1. Vấn đề phông chữ Hán – Nôm
trong bài giảng và giáo trình
Đa phần sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc nhận dạng chữ viết trong
bài giảng và giáo trình do mỗi một ấn phẩm tư liệu Hán Nôm được thể hiện dưới một
phông chữ khác nhau. Vả lại, trong giai đoạn đầu tiếp xúc với học phần, sinh
viên thường quen với chữ viết tay trên bảng của giảng viên giảng dạy nên khi tiếp
xúc trực tiếp với ngữ liệu Hán Nôm trong sách vở lại gặp nhiều khó khăn. Do mỗi
một phông chữ được qui định bởi chế độ hiển thị khác nhau nên việc quan sát các
nét bút có sự khác biệt trong thể chữ hiển thị, có thể chữ phỏng Tống thể, Hắc
thể, Khải thể,... nên sự đa dạng này cũng gây ít nhiều khó khăn trong việc học
tập, tra cứu. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thu thập được một số phông
chữ Hán – Nôm hiển thị trên máy tính và trong các sách vở, tài liệu được in nhiều
thể, đây là bảng liệt kê các điểm khu biệt của thể chữ hiện nay.
|
(1)SimSun
(2)(N)SimSun
(3)微軟正黑體 (vi nhuyễn chính hắc thể)
(4)細明體_HKSCS-ExtB (tế minh thể)
|
(5)標楷體 (Tiêu Khải thể)
(6) Kaiti
|
|
Thí dụ minh họa
|
|
|
(1)芹苴大學
(2)古文觀止
(3)湄江詩詞
(4)穗城會館
|
(5)永樂大典
(6)辭海詞典
|
|
·
Font số (1) (2) (4) giống nhau căn bản, dễ nhận
dạng, nhưng thiếu độ uốn và uyển chuyển.
·
Font số (3) thô – cứng, nét đều nhau, nhưng nếu
như quan sát kỹ thì Font này dễ gây sai lầm khi nhận dạng: chữ “詩” phần chữ “寺” chữ thổ 土bên trên lẽ ra viết như thế
không ổn, nên vô hình biến thành chữ sĩ 士 như thế đã sai. Nhưng do hình thể của lập
trình nên không thể nói rằng font chữ sai mà do cách lựa chọn font của người
dùng.
|
(5) – (6) giống nhau cơ bản, có thể xem là một, đường nét uyển chuyển
thể hiện tiêu chuẩn của chữ Khải thư rất rõ ràng. Dễ nhìn và nhận dạng.
Quan sát kỹ, Font “Kaiti” (khải thể) độ cao của chữ hơn so với “標楷體” (tiêu khải thể).
Hai font (5) và (6) này rất thích hợp cho
người học vì biểu thị đầy đủ và gần đúng với nét bút họa của bút lông.
|
Bảng 20: Phông chữ Hán – Nôm hiện nay trong Word 2003 và
2010
Từ tình hình các phông chữ có sự khác biệt lớn này, chúng tôi xin phép giới
thiệu các phông chữ này cho quý bạn sinh viên, thầy cô cùng hướng nghiên cứu
trong lĩnh vực Hán Nôm và cũng như các bạn có cùng đam mê nghiên cứu cải tiến dữ
liệu nhằm bảo tồn và phát huy vốn di sản chữ viết của dân tộc trong thời đại
công nghệ hiện nay.
3.2.2. Ứng dụng công nghệ trong việc tự học chữ Hán và chữ
Nôm
Ứng dụng công nghệ trong việc tra cứu nhằm phát triển khả năng tự học chữ
Hán, chữ Nôm là một trong những mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi khi thực hiện đề
tài này. Nhưng trong khả năng tin học và kiến thức về công nghệ và phần mềm hạn
hẹp, chúng tôi xin được phép hạn chế mục tiêu này lại trong khả năng nghiên cứu
của chúng tôi sẵn có – nằm trong vốn hiểu biết phổ thông thông dụng. Tham khảo
nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chủ yến từ Internet chúng tôi nhận thấy việc tự
học Hán Nôm qua Internet hầu như không khó, trên internet hầu như rất nhiều phần
mền tự học, tra cứu chữ Hán chữ Nôm, tự điển Hán Việt trực tuyến. Nhưng để có
thể lựa chọn một địa chỉ trực tuyến dễ dàng tra cứu và tin cậy thì có lẽ phải cần
có sự sàng lọc và cân nhắc. Sau đây là một vài địa chỉ tự học và tra cứu trực
tuyến Hán – Nôm mà chúng tôi sưu tầm được từ các chuyên gia Hán Nôm, từ chính
trong quá trình tra cứu và nghiên cứu của chúng tôi và đã đạt được hiệu quả nhất
định trong công trình này.
(1) Phầm mền tra cứu nét bút theo qui tắc bút thuận chữ Hán
Theo TS. Nguyễn Văn Hoài (bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học và Ngôn ngữ, đại học
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) được tiến sĩ giới thiệu phần mềm tra cứu nét chữ,
trình tự diễn biến qui tắc bút thuận của chữ Hán lần đầu trên mạng xã hội
Facebook cá nhân là phần mềm: 常用國字標準字體筆順學習剛 (Thường dùng quốc tự tiêu chuẩn
tự thể bút thuận học tập cương), địa chỉ: http://stroke-order.learningweb.moe.edu.tw/character.do

Hình 6: Giao diện ứng dụng tra cứu nét chữ chữ Hán
Cách sử dụng:
Bước 1: sau khi nhập địa chỉ này vào thanh công và vào đến màn
hình chính của trang web, người dùng có thể nhập chữ Hán bằng Hanokey vào thanh
tìm kiếm dưới dòng chú dẫn “請輸入要查詢的單子”
(xin nhập từng chữ vào để tra) vào ô
có dòng chữ “單字查詢” (đơn tự tra tuân) hàng đầu tiên.
Bước 2: Cuối cùng nhấp chuột vào dòng chữ 筆順播放 (bút thuận bá phỏng) ở trên góc trái màn hình. Chữ
đó sẽ được viết lần lượt theo từng nét.
Đặc điểm của phần mềm này chính là sự đa dạng trong việc tra được nhiều chức
năng và phụ thuộc vào nhu cầu tra cứu chức năng nào trong chữ Hán, nhưng nhược
điểm chính của nó là đây là phần mềm được viết bằng tiếng Trung Quốc – có thể
gây khó khăn ban đầu cho nhiều người dùng chưa biết tiếng Trung Quốc hiện đại.
(2) Tự điển Hán – Nôm trực tuyến
Từ điển
Hán – Nôm của Hội bảo tồn di sản Hán Nôm – liên kết với viện Nghiên cứu Hán Nôm
Việt Nam (會保存遺產漢喃) được thiết lập dưới dạng trực
tuyến và viết bằng tiếng Việt. Phần mềm cho phép người dùng khai thác tối đa dữ
liệu Hán Nôm, tra các từ chữ Nôm bằng phương pháp nhập chữ Quốc ngữ.

Hình 7: Giao diện ứng dụng tra cứu chữ Nôm bằng cách nhập
chữ Quốc ngữ
(3) Phầm mềm
tra cứu thư thể chữ Hán: 书法字典 – Thư pháp tự điển (shufazidian.com)
Đây là phầm
mềm cho phép người dùng tra cứu chữ Hán dưới dạng thể hiện ra nhiều thư thể
theo yêu cầu tìm kiếm của người dùng phần mềm trực tuyến. Gồm Khải – hành – lệ
- triện – thảo và Triện khắc ấn chương.

Hình 7: Giao diện ứng dụng
“Thư pháp tự điển” (书法字典)
Trong đó, để sử dụng người dùng cần nhập chữ Hán
vào khung cần tra và chọn các mục thư thể trong dạng biểu mục gồm: Hành thư (行书); Khải thư (楷书); Lệ thư (隶书); Triện thư (篆书); Thảo thư (草书) và Triện khắc ấn chương (篆刻).
Qua ba phương thức trực tuyến hỗ trợ tra cứu này
trong quá trình tự học, chúng tôi cũng không chủ trương người học hay sinh viên
quá phụ thuộc vào các phần trực tuyến này mà dần mất đi khả năng tri nhận chữ
Hán – Nôm theo phương pháp truyền thống, dẫu sao trong các trường hợp cấp bách
thì chữ viết tay vẫn đạt được một hiệu quả nghệ thuật nhất định và gây được thiện
cảm với người tiếp nhận mặc dù chưa chuẩn hay còn thiếu sót.
Chúng tôi hy vọng qua các phương pháp mà chúng tôi
trình bày này, người học và sinh viên trong chuyên ngành Văn học có thể tiếp nhận
trực tiếp và ứng dụng vào chính trong thời gian, quá trình học tập trong chuyên
ngành, góp phần phát triển năng lực bản thân cũng như kiến thức tích lũy được
trong quá trình học tập và rèn luyện chuyên môn.
4. Kết luận
Phương pháp tự học là một trong những hướng giúp ích cho sinh viên có thể tự
hình thành khả năng nghiên cứu và phát huy năng lực cá nhân rất lớn trong một
lĩnh vực nào đó. Học phần Hán Nôm là một trong những học phần đòi hỏi sinh viên
trong quá trình học tập cần phải nỗ lực rất nhiều trong giờ tự học và cả sau
này nếu tiếp tục gắn bó với chuyên ngành. Các phương pháp, cơ sở đề xuất các
phương pháp tự học nhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên.
Học phần Hán Nôm trong đề tài này của chúng tôi cũng nhằm vào một mục đích
đó là cải thiện hiệu quả phương pháp tiếp cận kiến thức Hán Nôm đã sẵn có từ
trước, nhưng đến đề tài này của chúng tôi nhằm phát triển những năng lực tiền đề
đó và định hướng căn bản các nghi vấn còn tồn nghi trong quá trình tiếp cận và
sử dụng kiến thức học phần của sinh viên ngành Văn học trong khi còn ngồi trên
ghế nhà trường và sau khi tốt nghiệp áp dụng vào trong nghề nghiệp có liên
quan. Trên nền tảng kiến thức sẵn có và hạn hẹp, chúng tôi đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập học phần Hán Nôm trong cơ sở sử dụng
chung trong kiến thức chuyên ngành. Các giải pháp này cũng chỉ là tương đối và
chủ yếu là cơ sở trong chuyên ngành không phải là Hán Nôm, cho nên việc áp dụng
cũng còn tùy vào nhu cần sử dụng từ phía sinh viên áp dụng.
Thiết nghĩ học tập là một quá trình, nghiên cứu và áp dụng cũng là một quá
trình mà trong đó vừa học hỏi và trao dồi và áp dụng thực tiễn. chúng tôi hy vọng
công trình này phần nào có thể giúp sức cho các bạn sinh viên còn đang trăn trở
với học phần Hán Nôm cũng như mối quan
tâm với vốn di sản chữ viết của dân tộc mà cha ông ta đã sử dụng và gìn giữ cho
đến ngày hôm nay. Phát triển học phần Hán Nôm cũng chính là đi vào quá trình
gìn giữ di sản quý báo này.
*Phần nháp của đề tài nghiên cứu khoa học năm 2017 TSV2017 - Nguyễn Khánh Duy CTU
Th.S. Nguyễn Mạnh Linh (2008), Từ điển nét chữ tiếng
Trung, NXB Hồng Đức, Hà Nội
Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh,
chi hội thơ cổ biên soạn (胡志明市各民族文學藝術協會,古詩分會(湄江吟社)編選) (2010), Mê Giang Thi Từ 湄江詩詞 3, NXB Lao Động, tp. HCM
Thiều Chửu (2009), Hán Việt tự điển (漢越字典), NXB
Thanh Niên, Hà Nội.
Chữ sinh ý hưng long https://www.huggies.com.vn/dat-ten-cho-be/H/H%C6%B0ng










