Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2024

CON NGƯỜI MINH TRIẾT MANG TINH THẦN ĐẠO GIA
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ



TÓM TẮT 

Ảnh hưởng của tư duy Tam giáo trong sáng tác văn học Việt Nam thời kỳ trung đại rất minh hiện. Truyền kỳ là một trong những thể loại có mức độ ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của biểu hiện tinh thần con người minh triết mang dấu ấn của tư duy Tam giáo. Đặc biệt, hình ảnh con người với dấu ấn của tinh thần Đạo giáo hòa chung trong thân phận của kẻ sĩ Nho giáo thể hiện sự lựa chọn hướng đi của cuộc đời trong sự tác động của thời đại. Vì vậy, trong bài viết này qua việc khảo sát và phân tích hình ảnh con người minh triết mang tinh thần Đạo gia qua tập truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, nhằm làm rõ một cách nhìn khác về phương diện tư tưởng của kẻ sĩ Việt Nam thời kỳ trung đại trong mối giao thoa tư tưởng Tam giáo. 

Từ khóa: Tam giáo; truyền kỳ; Đạo gia; minh triết. 


1. Đặt vấn đề

Khởi đi từ triết thuyết của Lão Tử, Trang Tử, Đạo gia hình thành và phát triển mạnh mẽ với các triết phái khác nhau và có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa. Không những có ảnh hưởng tới đời sống chính trị, văn hoá - xã hội mà ngay cả trong văn chương cổ trung đại ở các nước đồng văn Trung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, dấu ấn của tư tưởng Đạo gia cũng biểu hiện rõ rệt qua việc xây dựng hình tượng con người trong tác phẩm văn học. Đặc biệt, trong văn học trung đại Việt Nam, tư tưởng Đạo gia đã có sự dung hòa với các hệ tư tưởng Nho, Phật, tạo nên những ảnh hưởng hết sức độc đáo đối với mối quan hệ chính trị, xã hội và góp phần hình thành kiểu dạng con người minh triết mang tinh thần Đạo gia. Bài viết này không chỉ khảo sát các dạng thức biểu hiện sinh động của con người minh triết trên tinh thần Đạo gia mà còn mong muốn làm sáng tỏ lằn ranh tư tưởng, sự giao thoa giữa con người minh triết mang tư tưởng Nho gia với con người minh triết mang tư tưởng Đạo gia qua hình tượng các nhân vật dật sĩ trong Truyền kỳ mạn lục

2. Nội dung 

2.1. Nhân vật và dấu ấn minh triết đạo gia

Con người minh triết là một trong những biểu hiện phong phú của thế giới nhân vật trong tập Truyền kỳ mạn lục. Trần Đình Sử khái quát về sự đa dạng của các hình thái nhân vật mang tư tưởng khác nhau đồng tại trong tập truyện: “Nhân vật của “Thánh Tông di thảo” và “Truyền kỳ mạn lục” đều là những người rất đỗi bình thường. Một người con quan gia đình sa sút đâm ra chơi bời, một gã đi buôn hiếu sắc, một học trò trọ học đa tình, một thanh niên khảng khái đốt đền, một ông quan bỏ quan chu du sơn thuỷ, một tiều phu ẩn dật, một kẻ hay thơ đa tình” (Tran, 1999, p.350). Bùi Duy Tân nhận định về thái độ của kẻ sĩ với tinh thần lánh đời, thể hiện quan điểm vô vi của Đạo gia trong tập truyện: “Nếu như ẩn dật là một thái độ tiêu cực, là biểu hiện của sự bất lực, là trốn đời để vui thú lâm tuyền, ngao du sơn thuỷ, thì sự phủ nhận kẻ đương quyền và khẳng định phẩm tiết của kẻ sĩ không ham danh lợi, không chịu luồn cúi, lại ít nhiều có mặt tích cực” (Bui, 1997, p.515). 

Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã mô tả một thể giới nhân vật đa dạng, từ nhà Nho mẫu mực cho đến nữ nhi, quân - thần, tăng lữ, nữ nhi, đồ sinh,… Tất cả hiện lên là hình ảnh của con người thời trung đại với dấu ấn biểu hiện của thế giới tư tưởng của Nho, Phật và Đạo gia cùng xuất hiện trong cõi trần tục, hoặc đôi khi trong thế giới hư cấu thiên đường, ma quỷ. Đa phần hình ảnh con người minh triết, sáng suốt trong truyện đều có xuất thân từ Nho gia và hầu như từng kinh qua chốn quan trường, khoa cử Hán học nhưng các nhân vật này đều có khuynh hướng chung là trở về với tư tưởng của Đạo và có thể hiện rõ dấu ấn của con người ẩn dật. 

Khái quát về chiều hướng tư tưởng bao trùm của tập truyện, Truyền kỳ mạn lục là sản phẩm văn chương của tinh thần thi học Nho - Phật và Đạo cùng kết hợp. Con người minh triết trong tập truyện ở mỗi cá nhân đều có dấu ấn xuất phát từ một hệ tư tưởng mang tính chất qui củ, có nguồn gốc từ kẻ sĩ quan phương của Nho giáo phong kiến. Phạm Thế Ngũ từng nhận định về thế giới tư tưởng của các nhân vật trong tập truyện này rằng: “Trên hết cả, qua toàn thể tập truyện, chúng ta lại có thể nhận ra những chiều hướng tư tưởng sâu xa của tác giả và của thời đại. Tư tưởng ấy đánh dấu sự tranh chấp hay nói đúng ra là sự phối hợp, sự điều hoà giữa hai khuynh hướng Khổng và Phật Lão vào giai đoạn Lê suy ở nước ta” (Pham, 1996, p.190). Nhân vật trong tập truyện là sự thể hiện của tinh thần Tam giáo hợp lưu rõ nét, tuy nhiên, nhìn từ góc độ con người minh triết, những dật sĩ trong Truyền kỳ mạn lục có xu hướng nghiêng nặng về phía tư tưởng Đạo gia khi quyết định lựa chọn một giải pháp sáng suốt để an thân, bảo thân trong thời đại nhiễu nhương. Họ có biểu hiện xa rời, thoát li khỏi tư tưởng Nho giáo, quyết định rẽ sang Đạo giáo như một cách ứng xử phù hợp với nhu cầu trở về với bản ngã. 

Khảo sát một số truyện có hình tượng con người minh triết mang tư tưởng Đạo gia, có thể thấy rõ thái độ, xu hướng thoát li thế sự của Nguyễn Dữ. Xu hướng đó ẩn hiện trong các lớp đối thoại, thể hiện qua sự vay mượn hình ảnh, biểu tượng từ thế giới loài vật, quỷ thần, tiên thánh, nhân vật lịch sử để biểu lộ quan điểm của Đạo gia. Các nhân vật dật sĩ trong Truyền kỳ mạn lục có một điểm chung là đều trải qua quá trình nhận thức, tiếp cận với tư tưởng của Đạo gia. Nhân vật trung tâm trong Từ Thức hôn tiên lục Na Sơn tiều đối lục là hình tượng kẻ sĩ từng kinh qua chốn quan trường với những định chế qui củ của Nho giáo phong kiến. Từ Thức là một điển hình với lai lịch xuất thân từ dòng dõi khoa bảng, cha làm quan “Đại thần”; riêng chàng cũng từng đi thi, đỗ đạt, làm quan. Người tiều phu núi Na vốn dĩ là ẩn sĩ trong núi, nhưng tư duy và tầm giác ngộ của nhân vật cho thấy ông là người có tầm kiến văn quảng bác về đời sống chính trị đương thời qua lời đáp thoại với Hán Thương. Tựu trung, hai nhân vật trong hai truyện ngắn đều có tri thức quảng bác, đều là những kẻ sĩ quan phương. Tuy nhiên, khái niệm minh triết để chỉ hai con người thì mỗi nhân vật có những phương diện khác nhau để thể hiện góc độ tư tưởng minh triết đối với nhân sinh như thế nào. Tạm thời, khái niệm “minh triết” trong hai nhân vật này có thể nhận định qua: Tư tưởng xuất thế, trở về với bản ngã tự do tự tại của chính mình; không gian sinh hoạt và không gian tư tưởng, đồng thời phải kể đến đó là cứu cánh của họ khi đang tồn tại với tư cách là ẩn sĩ, người tham gia vào thế giới tự nhiên của tư tưởng Đạo gia. 

Khác với hai hình mẫu nhân vật Từ Thức và người tiều phu núi Na, các nhân vật khác trong tập truyện thuộc thế giới phi nhân gian như trường hợp cáo và vượn hoá thân thành người đối đáp với Hồ Quý Ly trong truyện Đà giang dạ ẩm ký cho thấy biểu hiện của thế giới nhân vật thuộc loài vật nhưng lại bác cổ thông kim, có tư duy biện luận, nhằm bảo vệ cõi thiên nhiên vốn là nơi ẩn cư của các giống loài sinh linh khác. Tuy nhiên, hình tượng và ngôn ngữ hai nhân vật này mang ý nghĩa hàm ẩn cho tiếng nói về bản thể của tự nhiên là vững bền, không nên xâm phạm mà trái với đạo tự nhiên. 

Nói chung, các nhân vật dật sĩ trong Truyền kỳ mạn lục đều từng là những trí thức Nho học, do vấp phải những chướng ngại từ xã hội mà qui sơn ở ẩn, thoát vòng cương toả. Hành trình trở về với tự nhiên của họ là hành trình trở về với tư tưởng Đạo, mượn Đạo giáo để làm phương tiện thanh lọc bản thân, xa lánh trần thế dung tục. 

2.2. Hình thái của Đạo trong hình ảnh con người minh triết trải nghiệm

Con người minh triết theo triết phái của Đạo gia luôn gắn với với bản chất tự nhiên hoá, hướng về thế giới tự nhiên. Vốn dĩ xem trần thế là nơi gieo rắc nỗi ưu phiền nên từ sớm đã qui ẩn nương mình về với núi rừng u tịch gắn với không gian hành đạo nhằm hưởng thú tiêu dao. Đó là hình tượng con người thâm nhập vào thế giới của Đạo bằng cách trở về với hình thái ban đầu của thế giới tự nhiên, ở đó, con người nương nhờ, mô phỏng tự nhiên mà hoà hợp, lấy xu hướng xuất thế làm chủ đạo. 

Tâm thái xuất thế là một xu hướng của hành trình con người trở về với căn bản của Đạo gia. Nếu như kẻ sĩ Nho giáo lấy tâm thái nhập thế làm chủ yếu thì ngược lại, Đạo gia chủ trương trở về với chính bản ngã, với trạng thái tự nhiên nhất của mình để đạt đuợc trạng thái chân như, tịnh tâm dưỡng thần. Trong Đạo đức kinh, các chủ trương trở về với bản ngã cũng được Đạo gia đúc kết, đề cao, chẳng hạn như Chương 32, Đạo pháp tự nhiên, Chương 4 lấy ý niệm của nhan đề Hoà quang đồng trần làm cốt yếu. Trang Tử trong Nam Hoa kinh cũng đề cao tinh thần minh triết của con người đã liễu giải được quy luật của nhân sinh, đề cao trí tuệ, lòng nhân, vị trí trọng yếu của tự nhiên đối với nhận thức con người là cái đẹp lâu dài, vững bền, coi “đạo trời” là cốt cán chi phối cho mọi sự vật ở thế gian. Những chủ trương này của Đạo gia nhằm tác động đến đời sống tinh thần con người cuộc sống an nhiên tự tại, xa lánh cõi trần đã gây ra nhiều khổ đau cho con người, vốn là nguyên nhân của phiền não, thắt chặt con người trong vòng danh lợi. 

Nhân vật Từ Thức (truyện Từ Thức hôn tiên lục), người tiều phu núi Na (truyện Na sơn tiều đối lục) và Viên - Hồ (truyện Đà giang dạ ẩm ký) đều có xu hướng trở về với bản thể của tự nhiên, lấy bản ngã làm gốc và dùng thân để hoà hợp với tự nhiên, hoặc thâm nhập vào thế giới của Đạo một cách tự nguyện, như là cứu cánh của kiếp nhân sinh. Từ Thức trong vai trò là một vị quan, đã tỏ rõ nghĩa khí khi cứu một cô gái ở cảnh chùa vì lỡ tay vin cành mẫu đơn. Chán nản với quy củ chốn quan trường, chàng tỏ rõ chí hướng quy ẩn, không tham danh áo mũ của mình: “Ta không thể vì số lương năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong áng lợi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phụ gì ta đâu vậy. Bèn cởi trả ấn tín, bỏ quan mà về” (Nguyen, 2013, p.125). Không chịu “buộc mình trong áng lợi danh”, Từ Thức hiểu rõ những định chế hà khắc khiến cho lớp Nho sĩ quan phương trở nên lệ thuộc, thậm chí hèn kém khi phải sống cuộc đời “Áo xiêm ràng buộc lấy nhau - Vào luồn ra cúi công hầu mà chi” (Nguyen, 1979, p.148). Người tiều phu núi Na coi núi rừng là nhà, lấy lối sống với hạng ngư tiều canh mục là bạn: “Hàng ngày, trong động có người tiều phu gánh củi đi ra, đem đổi lấy cá và rượu, cốt được no say chứ không lấy một đồng tiền nào(Nguyen, 2013, p.164). Viên và Hồ lạc quan nơi thâm sơn u viễn: “Chúng tôi nương mình bên cành khói, náu vết chốn hàng mây, ngủ thì lấy cỏ làm đệm êm, khát thì lấy nước suối làm rượu ngọt, vương chân có hoa lá, kết bạn có hươu nai, chỉ biết ăn bách nhai tùng, ngâm trăng vịnh gió, ngõ hầu mới khỏi vướng lưới trần” (Nguyen, 2013, p.212).

Hai nhân vật Hồ và Viên (cáo và vượn hoá thân thành Tú tài và Xử sĩ) là hiện thân của thế giới tự nhiên, là tiếng nói hiển ngôn của loài vật và cả cây núi - vốn dĩ tự nhiên là một trong những quy phạm của Đạo gia quan niệm về tinh thần đại mỹ, lấy tự nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp trong đời sống, hoặc nương theo tự nhiên mà tuỳ ứng với vạn sự trên đời. Hai nhân vật Viên và Hồ không có nguồn gốc xuất thân từ chốn quan trường và kinh qua Nho học phong kiến, tuy nhiên trong đối thoại giữa nhân vật với Hồ Quý Ly cho thấy mức độ am tường đối với thế sự đạt đến trình độ bác cổ thông kim, khiến Hồ Quý Ly sinh nghi. Lời nói của hai nhân vật với Hồ Quý Ly đều là những biểu hiện của con người với ý thức bảo vệ chốn núi rừng, giữ gìn đặc tính sẵn có của bản thể tự nhiên, biểu lộ rõ nét cốt cách con người luôn hướng về “đạo pháp tự nhiên”: “Đời xưa đuổi loài tế tượng là để trừ hại, mà mở cuộc mưu siêu là để giảng võ. Chuyện đi săn ở Vị Dương, là vì một ông già không phải gấu cũng không hùm. Vì sự phô phang quân lính mới có cuộc đi săn ở Vu Nhâm. Vì sự phô phang cầm thú mới có cuộc bắn ở Trường Dương. Nay thì không thế, đương mùa hạ mà giở những công việc khổ dân không phải thời, giày trên lúa để thoả cái ham thích săn bắn, không phải chỗ; quanh đầm mà vây, bọc núi mà đốt, không phải lẽ, ngài sao không tâu với thánh minh, tạm quay xe giá, để khiến người và vật đều được bình yên!” (Nguyen, 2013, p.209). Những luận cứ trong tranh biện của hai nhân vật Viên và Hồ xuất phát từ tình cảm gắn kết với thế giới tự nhiên, với không gian thuần khiết nơi muôn loài quần tụ, coi trọng tinh thần “kính thiên” của quan niệm đạo trời chi phối vạn vật. Lời của nhân vật Hồ (cáo) biện luận thể hiện tinh thần minh triết, sáng suốt của con người nhân ái: “Đó là tôi thương những giống chim hèn muông yếu và xin nài cho chúng. Chứ còn những giống tinh khôn lanh lên thì tự nhiên chúng biết xa chạy cao bay đàng nam núi Nam, đàng bắc núi Bắc, há chịu trần trần một phận ấp cây đâu” (Nguyen, 2013, p.209).

Bằng ngôn ngữ đối thoại, biện luận sắc bén nhuốm màu Đạo gia, nhằm can ngăn hành động của vua Trần Phế đế qua nhân vật gián tiếp Hồ Quý Ly, thông điệp của nhân vật Viên và Hồ muốn gửi gắm đến vua tôi nhà Trần rằng: Mọi loài vật trong thế giới tự nhiên đều được xem là thiên khí của vũ trụ, là nguồn gốc của xã hội loài người và đây là không gian lý tưởng cho dật sĩ trú ngụ. Quan niệm “vạn vật giai chủng dã” của con người minh triết Đạo gia xem mọi vật đều chung một giống loài mà thành. Nam Hoa kinh thiên “ngụ ngôn” có đề cập đến quan niệm này: “Vật gì cũng do cái “chủng” sinh ra, rồi biến đổi hình trạng mà thành một loài khác, trước sau nối nhau như một vòng tròn, không biết đâu là đầu mối” (Zhuang, 1994, p.472). Phải chăng trong chính lời của nhân vật xử sĩ họ Hồ hàm chứa ẩn ý của Nguyễn Dữ muốn phê phán thái độ hành xử tàn nhẫn với tự nhiên của Trần Phế Đế; mượn hình ảnh con cáo trong lốt người để biểu lộ tư duy coi trọng mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đồng thời cũng là đề cao tinh thần lánh đời, và thái độ bảo vệ không gian ẩn dật của mình trước mối nguy xâm hại của quan quân Trần Phế Đế. Câu thơ thất ngôn của Hồ xử sĩ ca ngợi cuộc sống thanh nhàn nơi núi rừng và đề cao chí hướng của tầng lớp dật sĩ: 

“Tiếng bặt bờ Tương gào bóng xế,

Lệ tràn đất Sở khóc dây cung.

Tôi lên rừng, bác vào hang núi,

Tìm chốn yên thân cũng một lòng” (Nguyen, 2013, p.215).

Ba truyện ngắn với các hình ảnh nhân vật đều có chung biểu hiện tuyệt đối lấy con đường trở về ẩn dật làm mục đích, quyết lánh xa bụi trần, không đối kháng mà ngược lại còn thể hiện tiếng nói bảo vệ tự nhiên. Khác với lối nhập thế của nhà Nho mẫu mực, với mục tiêu là kinh bang tế thế, trung quân ái quốc, biểu hiện không quan tâm thế sự của các nhân vật dật sĩ, vì vậy mà toát lên với tinh thần cao khiết, diện mạo thong dong, thư thái của Đạo gia. 

Phải chăng hiện tượng cáo quan ở ẩn của nhiều Nho sĩ để quay về với tinh thần xuất thế của Đạo gia xuất phát từ căn nguyên chủ yếu đó là chán nản với chính trị đương thời, với những hiện tượng bất thường trong đời sống đạo đức phong kiến khi vua quan, quần thần và ngay cả những mối quan hệ vua tôi, phu thê, phụ tử đều có dấu hiệu rạn nứt. Những mối quan hệ này là rường cột của đạo đức phong kiến, là sợi dây trói buộc con người vào vòng quản giáo và chung thân phải cống hiến cho nền chính trị Nho giáo phong kiến, mà ở đó vị vua là người thâu tóm quyền lực của chế độ quân chủ. Từ Thức là người có dấu hiệu nhận ra những vết rạn nứt này ngay trong lòng xã hội ông đang sống và chính cá nhân ông khi đang bất mãn với chế độ quan trường và ngay cả tư tưởng tiếp nối về công danh mà phụ thân ông quan niệm: Thân phụ thầy làm đến Đại thần mà thầy không làm nổi một chức Tri huyện hay sao!” (Nguyen, 2013, p.125). Chí lập thân của ông giữa xã hội phong kiến và thái độ bất mãn với tư tưởng quy củ mang tính chất tiếp nối làm cho Từ Thức từ con người là kẻ sĩ phục vụ cho triều đình phong kiến, dần trở nên chán nản và thoái bước. Đây cũng là một trong những dấu hiệu cho thấy tinh thần minh triết giác ngộ của chính bản thân Từ Thức trong truyện, đánh dấu quá trình chuyển biến tư tưởng của người trí thức từ Nho sang Đạo.

Đới với nhân vật tiều phu núi Na, ta không rõ nguồn gốc xuất thân của vị tiều phu ẩn sĩ này, chỉ biết rằng ông là người gắn bó với vượn hạc trong rừng sâu núi thẳm: “Núi có cái động, dài mà hẹp, hiểm trở mà quạnh hiu, bụi trần không bén tới, chân người không bước tới. Hàng ngày, trong động có người tiều phu gánh củi đi ra, đem đổi lấy cá và rượu, cốt được no say chứ không lấy một đồng tiền nào. Hễ gặp ông già, trẻ con dưới đồng bằng lại nói những chuyện trồng dâu, trồng gai một cách vui vẻ. Ai hỏi họ tên, nhà cửa, tiều phu chỉ cười không trả lời. Mặt trời ngậm núi, lại thủng thỉnh về động” (Nguyen, 2013, p.164). Hình ảnh con người gắn liền với mây núi, non tiên với những thú vui thoát tục xa lánh thế sự gần với tâm thức triết lý của phái thần tiên - một nhánh của Đạo giáo, tuy nhiên, hình ảnh con người tự do, không vướng bụi trần tương tự như Từ Thức là một đồng dạng về kiểu người thoát tục tuy sống trong thế giới phàm trần nhưng tinh thần thì không vướng vào những lao khổ của cõi trần ai. 

Hình ảnh con người gắn chặt với tự nhiên, tâm thái du nhiên tự tại càng tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn của con người sống hài hoà với bản thể tự nhiên. Đây cũng là một trong những dạng thể nghiệm sâu sắc với đời sống tư tưởng thoát tục trong tinh thần của Lão giáo mà chính từ nguồn gốc các Đạo sĩ xưa nay tìm đến. Không gian hành đạo của các vị thuần đạo sĩ đó là những ngọn núi cô phong, u sơn tĩnh cốc, cùng với những điều kiện tự nhiên thích hợp và sẵn có nhất để tiêu dao thoả chí cầu đạo, tự làm vui bản thân và thanh lọc tâm hồn. Trang Tử trong Nam Hoa kinh, thiên Trí bắc du từng nói về cái đẹp của thiên nhiên trời đất là tinh thần triết học “đại mỹ”: “Trời đất tuyệt đẹp mà không nói, bốn mùa tuần hoàn theo một luật rõ ràng mà không nghị luận, vạn vật sinh thành theo một trật tự mà không biện thuyết. Thánh nhân trở về bản nguyên cái đẹp của trời đất, thấu được đạo lí của vạn vật. Bậc chí nhân vô vi, bậc thánh nhân không tạo ra cái gì là vì theo phép tắc tự nhiên của trời đất” (Zhuang, 1994, p.397 - 398).

Tinh thần của Đạo gia coi trọng vị trí của thiên nhiên, cho nên trong suy tư tìm về với chính cái đẹp của tâm hồn, Đạo gia chủ trương lấy cái đẹp của trời đất gốc. Trong thiên Trí bắc du của Nam Hoa kinh đề cập đến tinh thần cái đẹp vĩnh viễn, bất biến cho nên người tìm cầu về Đạo để lánh trần thường có xu hướng tìm đến những không gian núi non, u tịch cao ráo mà dựng lều, miếu tu thân. Mặt khác, trong cung cách hành xử của con người trở về với căn bản của Đạo gia hướng đến cái tĩnh của sự vật, phân định lằn ranh hư thực trong tâm tưởng để ứng xử với tự nhiên, từ đó sống hoà nhập bản ngã vào tự nhiên. Nam Hoa kinh, phần Ngoại thiên, thiên thứ 13 Thiên đạo có đoạn: “Thánh nhân yên lặng, không phải vì coi sự yên lặng là lặng, mà vì lòng mình không bị vạn vật làm náo động” (Zhuang, 1994, p.287). Hay sự phát hiện về nguồn gốc của sự vật qua tinh thần “vô vi”: “Hư tĩnh, điềm đạm, tịch mịch, vô vi là gốc của vạn vật” (Zhuang, 1994, p.288). Các nhân vật có biểu hiện minh triết tinh thần Đạo gia đều ở trong tâm thế lấy trạng thái tĩnh để nhận thức cái động của trần thế. Từ Thức bỏ chốn quan trường, tìm đến bể Thần Phù hưởng thú tiêu dao, thâm nhập vào cõi tiên thoát tục; người tiều phu núi Na nhất quyết không hợp tác với đương triều mà còn hoàn toàn biến mất vào cõi tĩnh; Viên và Hồ lấy tư tưởng “vô vi” mà bảo vệ, khuyên can “hữu vi” của con người thế tục. Chính những biểu hiện này mà tư duy Đạo gia luôn có chiều hướng phát triển ngôn hành của nhân vật minh triết. 

Tuy nhiên, đặc tính của con người minh triết mang tinh thần Đạo gia trong Truyền kỳ mạn lục có những điểm dị biệt với các ẩn sĩ thuần Đạo ở Trung Hoa. Không gian hành đạo của các hệ phái Đạo gia thường chọn là những nơi cố định, mang tính cộng cư đạo hữu. Chẳng hạn, các Đạo sĩ lấy dãy núi Hoàng Sơn ở tỉnh An Huy nơi hành đạo của các Đạo nhân xưa, trong đó có cả thi tiên Lý Bạch, một nhà thơ được xem có tư tưởng gần với Đạo gia nhất cũng từng đưa vào thi phẩm của mình hình ảnh Hoàng Sơn, hành trình mộng thành tiên thoát trần. Do vậy, đối chiếu với tinh thần của ẩn sĩ trong lịch sử phong kiến Việt Nam nói chung hay trong điển hình tác phẩm Truyền kỳ mạn lục vì nhiều nguyên do địa lý, lịch sử, chính trị mà không có được những đặc thù như Đạo gia Trung Hoa, nên chỉ chọn tạm những nơi phù hợp nhất với bản thân mà lánh mình. Trường hợp Từ Thức và người tiều phu núi Na là một trong những điển hình cho thấy nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục có xu hướng lánh đời, tìm đến không gian gắn với thiên nhiên vĩ đại, lấy cái đẹp của tự nhiên mà noi theo. 

Nhân vật Từ Thức và tiều phu đều có sự trải nghiệm vô cùng đặc biệt này, điểm giống nhau giữa hai nhân vật chính là tinh thần trải nghiệm với thế giới tự nhiên. Từ Thức cảm nhận sự thanh lọc của tâm hồn khi rời xa chốn quan trường, dựng lều trên núi: “Một hôm Từ Thức dậy sớm trông ra bể Thần Phù ở phía ngoài xa vài chục dặm, thấy có đám mây ngũ sắc đùn đùn kết lại như một đóa hoa sen mọc lên, vội chèo thuyền ra thì thấy một trái núi rất đẹp” (Nguyen, 2013, p.125). Nhân vật tiều phu trong bài ca trên núi của mình thể hiện vẻ đẹp thanh tao u nhã của tự nhiên - nơi mà nhân vật gắn bó với cả hành trình xuất thế qui ẩn: “Núi Na đá mọc chênh vênh/ Cây tùm um, nước long lanh khói mờ/ Đi về hôm sớm thẩm thơ/ Mình dư áo lá, cổ thừa chuỗi hoa/ Non xanh bao bọc quanh nhà/ Ruộng đem sắc biếc xa xa diễu ngoài” (Nguyen, 2013, p.166).

Hai nhân vật đều tự nguyện gắn mình với thế giới cách xa nhân gian, đồng thời, cũng có những sở thích gắn với hoàn cảnh của tự nhiên, một biểu hiện rõ nét của tinh thần hiện sinh trong thế giới xa rời cõi tục. Từ Thức lấy cảnh vật thiên nhiên làm xúc cảm làm thơ, khi từ quan thì mang theo thơ túi rượu bầu vào trong núi sâu tự do tự tại: “Vốn yêu cảnh hang động ở huyện Tống Sơn nhân làm nhà tại đấy để ở. Thường dùng một thằng nhỏ đem một bầu rượu, một cây đàn đi theo, mình thì mang mấy quyển thơ của Đào Uyên Minh, hễ gặp chỗ nào thích ý thì hí hửng ngả rượu ra uống. Phàm những nơi nước tú non kỳ như núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga, không đâu không từng có những thơ đề vịnh” (Nguyen, 2013, p.125). Người tiều phu núi Na lấy nhã thú nơi thâm sơn làm bạn: “Chống gậy trèo lên thì thấy một cái am cỏ, hai bên tả hữu trồng mấy cây kim tiền, chen lẫn những cây bích đào hồng hạnh, tất cả đều xanh tốt đáng yêu. Trong am đặt một chiếc giường mây, trên giường để đàn sáo và chiếc gối dựa. Hai bên vách đông tây đều chát keo trắng và đề hai bài ca, một bài là “Thích ngủ”, một bài là “Thích cờ” (Nguyen, 2013, p.167).

Chính trong hành trình xa rời thế tục thị phi, tìm về với bản chất của Đạo và trải nghiệm trong điều kiện tự nhiên; chính trong cuộc sống hài hòa, tương hỗ, cộng sinh, gắn bó với tự nhiên, con người minh triết trong Truyền kỳ mạn lục mới có thể an thân, dưỡng thân, giữ mình thoát khỏi vòng danh lợi, công danh phù phiếm.

2.3. Ấn tượng về lằn ranh giao thoa giữa “tiên - phàm” và lý tưởng của con người minh triết

Thế giới biểu tượng của Đạo rất đa dạng và gần gũi. Lão Tử quan niệm tự nhiên là gốc của mọi cái đẹp, nên việc mô phỏng theo những bản chất của tự nhiên trong hành trình trải nghiệm của con người khi tìm về với chính mình cũng là cốt lõi mà Đạo sĩ hướng đến. Trong hành trình trải nghiệm này, tất yếu lằn ranh giữa thế tục và cõi tiên sẽ nảy sinh trên mối quan hệ tìm cầu của người trải nghiệm. Con người minh triết trên tinh thần Đạo gia trong Truyền kỳ mạn lục cũng từng có những trải nghiệm lạ lùng ở lằn ranh giữa hai thế giới tiên – phàm ấy. Những cuộc tiếp xúc giữa hai thái cực đối nhau này trong tư duy âm - dương của Đạo thể hiện qua nhân vật tác phẩm cho thấy lằn ranh về tư tưởng giữa con người nhập thế và xuất thế, sự tương phản giữa hai dạng nhân vật Nho sĩ và Đạo sĩ trong cách đối nhân xử thế hoặc thể hiện quan điểm cá nhân. 

Hai nhân vật Từ Thức và người tiều phu núi Na là hai con người trải nghiệm trong hành trình tìm về với thế giới cõi tiên mà chính ở cõi trần tục họ đã cố tình xa lánh. Cõi tiên được qui phạm thành hình ảnh như trong văn học Trung Hoa từng mô tả hay ngay trong tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử đề cập đến là thế giới hư tĩnh, vô vi. Trong văn học cổ điển Trung Hoa, thế giới tiên đó là cõi thiên thai, đào nguyên, bồng lai, tiên cảnh,… nơi con người rũ hết mọi cám dỗ của thế tục để sống trong cõi thánh, đắm mình trong hư vô và tận hưởng những xúc cảm của sự giác ngộ mang lại, chẳng hạn cõi Đào nguyên trong thơ Đào Tiềm, thế giới thiên thai của hai nhân vật Lưu Thần và Nguyễn Triệu,... Trong Truyền kỳ mạn lục, người tiều phu trong là một điển hình. Tiếp chuyện với nhân vật Hán Thương - viên quan của triều Hồ, nhân vật tiều phu để lộ nên những tư tưởng và mô tả cho Hán Thương nhìn thấy được cảm giác thoát tục của chính ông: “Bèn mời Trương ở lại làm tiệc thết, cơm thổi bằng hạt điêu hồ, canh nấu bằng rau cẩm đái, lại còn có mấy món rau suối khác nữa. Canh khuya chuyện trò, đều là những nghĩa lý đáng nghe cả, nhưng không một câu nào đả động đến thời sự” (Nguyen, 2013, p.173 - 174). Trong đáp thoại giữa nhân vật tiều phu và Hán Thương ấy đã có những lằn ranh va chạm giữa thế sự của Hán Thương mang từ đời sống xã hội hiện thực và pha lẫn với không gian cõi tiên của người tiều phu. Chính người tiều phu là người không hề gợi nhắc việc nào đến đời sống thế tục, thể hiện độ lạc quan của con người đã đạt được cảnh giới của tự nhiên và vô vi. 

Mượn lời của loài vật - chủ thể của tự nhiên để giao tiếp với loài người, Viên và Hồ đã có cuộc tiếp xúc với con người vô cùng tự nhiên, trong tâm thái hoá thân thành kẻ sĩ với hình ảnh đạo mạo đối đáp lý lẽ với Hồ Quý Ly về đạo tự nhiên. Đây không phải là cuộc tiếp xúc giữa tiên và phàm, là sự va chạm của thế giới con người với lòng ham muốn tột độ, với khát vọng chinh phục tự nhiên - biểu trưng qua cuộc đi săn của Trần Phế Đế. Lằn ranh của cuộc tiếp xúc, va chạm này là sự trải nghiệm để Nguyễn Dữ bộc lộ trực tiếp quan niệm của chính bản thân ông về mối quan hệ với hai phạm trù “hữu vi” và “vô vi” qua hai đại biểu giữa con người nhập thế (Hồ Quý Ly) và con người xuất thế ẩn dật (Viên và Hồ). Cuộc tiếp xúc giữa các nhân vật trong truyện Đà giang dạ ẩm ký cho thấy tinh thần minh triết thuộc về Viên và Hồ. Lời thơ của nhân vật tỏ rõ cách nhìn trong đời sống vô vi của thế giới tự nhiên, đề cao quan điểm lánh thân ẩn dật: 

“Khe trong suối biếc nước ngon lành, 

Đường thế chi màng đến lợi danh.

Hang đá dễ nương mình phóng khoáng,

Vòng trần khôn đặt bước chông chênh” (Nguyen, 2013, p.213).

Bản chất của tự nhiên là “vô vi”, gần với ý niệm “vô tri” và “vô dụng” của Đạo, vì vậy mà có thể thấy trong ý nghĩa chủ đề của truyện Đà giang dạ ẩm ký thông qua sự ẩn dụ của hình tượng. Loài vật hóa thành người, trình bày suy tư của con người minh triết, tỏ rõ nguyện vọng, quan điểm về lối sống thanh cao, để thể hiện tinh thần vật mà tiên thánh, người mà phàm tục.

Hình ảnh biểu hiện con người minh triết của Đạo gia qua nhân vật cụ thể là người tiều phu với cũng cùng với ý niệm “vô vi” rất minh hiện. Hán Thương là con người từ thế giới “hữu vi” - cuộc chuyện trò này vô tình là sự va chạm, giao thoa giữa tiên phàm cho thấy người tiều phu căn bản đã khước từ hết mọi ý niệm về đời sống thế tục. Thái độ kiên định khi Hán Thương ngỏ ý đến việc dời ông ra giúp việc triều chính, người tiều phu tỏ rõ sự kiên định của chính mình: “Tài ta tuy kém, so với người xưa chẳng bằng được, nhưng may lại giàu hơn Kiềm Lâu, thọ hơn Vệ Giới, no hơn Viên Tinh, đạt hơn Phụng Thiến, kể thì cũng đã được trời đất ban cho khá nhiều. Nếu lại còn tham cầu những cái ở ngoài phận mình, len lỏi vào đường làm quan, chẳng những xấu hổ với các bậc tiên hiền, lại còn phụ bạc với vượn hạc ở trong núi. Vậy xin ông đi đi, đừng nói lôi thôi gì nữa” (Nguyen, 2013, p.175).

Ngược lại, Từ Thức khi tìm đến động tiên, tương phùng với cố nhân, bằng lòng sống lại cõi thiên thai, có cơ hội lánh trần và gia nhập vào đời sống tiên thánh. Chính trong trường hợp này, Từ Thức là nhân vật thành công khi thực hiện được ý nguyện rời xa cõi trần, kết hôn với tiên thánh. Sự giao thoa tiên - phàm làm cho nhân vật Từ Thức từ một người phàm trần trở nên thanh khiết, bản chất của phàm trần xưa kia không còn nhờ vào tinh thần cầu đạo, không tham danh lợi chốn quan trường. Tuy nhiên, trong thế giới thiên thai mà Từ Thức đang trải nghiệm lại nảy sinh ra những ý nghĩ phàm tục, vẫn còn đâu đó những gợi ý về bản năng của con người trong thế giới phàm trần. Tuy mang tinh thần xa lánh qui ẩn, tìm được người xưa cùng chăn gối trong cõi tiên nhưng cũng chính trong cõi tiên ấy lại có những con người vẫn còn ý nghĩ so sánh với thế tục. Chẳng hạn, lời thoại của nhân vật Giáng Hương: “Thì ra tất cả các cõi trời đều có chuyện phối ngẫu cả. Cho nên ả Chức Nữ lấy chàng Ngưu Lang, nàng Thượng Nguyên tìm chàng Phong Trắc, Tăng Nhụ có bài ký Chu Tần, Quần Ngọc có bài thơ Hoàng lăng, cảnh khác nhưng tình cũng giống nhau, nghìn xưa vẫn như thế cả. Nay quần tiên ai về chỗ nấy, sống trong cảnh quạnh quẽ cô liêu, đó là vì lòng vật dục không nẩy sinh, hay là cũng có nhưng phải gượng đè nén?” (Nguyen, 2013, p.132). Phải chăng lời thoại của nhân vật này cũng chính là dấu hiệu cho thấy giữa con người hoàn toàn rũ bỏ lòng phàm, gia nhập vào thế giới tiên nhưng đôi khi tiềm thức về thế giới dục vọng cõi trần vẫn còn vọng đọng. Những ẩn ức về đời sống trần tục của con người vẫn chưa hoàn toàn tiêu diệt hết được, nên lằn ranh tiên - phàm vẫn đồng tại xưa nay như một nỗi ám ảnh day dứt trong đời sống tâm linh. Từ Thức là người vừa giác ngộ nhưng cũng vừa là dấu gạch nối phân vân giữa thái cực phàm tục và cõi tiên nên có vui với cảnh tiên đến mấy thì cuối cùng cũng động lòng phàm, mong muốn trở về quê cũ. Nhưng khi về đến quê nhà, nhận thấy mọi sự thay đổi thì sự hối hận về chính sự kiên định xuất thế của Từ Thức muộn màng. Do vậy, cuối truyện là hình ảnh Từ Thức lại một lần nữa bỏ vào núi sâu dứt bỏ hết mọi phiền muộn của đời sống thế tục vì sự giao thoa giữa hình ảnh con người vừa trở về từ cõi tiên với thế tục một lần nữa đã bất thành. Điểm giao thoa lại một lần nữa diễn ra trong hình ảnh con người nhận thấy cõi trần là biến động, đổi thay bởi “hữu vi” của con người, mà chính cõi tiên lại là cõi “vô vi” hư tĩnh. Điều này, cho thấy ý niệm về hình ảnh con người minh triết qua nhân vật Từ Thức chỉ là một dấu hiệu trở về với tư tưởng của Đạo gia khi kẻ sĩ phong kiến không thể hoà nhập được với thế cục. Hay như nhân vật tiều phu, vừa không thể chấp nhận được cuộc sống hiện thực của chính trị, đời sống quan trường tỏ rõ thái độ bất hợp tác với đời sống đương thời, tôn vinh đời sống lánh tục.

3. Kết luận

Xa rời tự nhiên, con người tiến những bước dài và nhanh trên hành trình văn minh hóa để rồi gánh chịu hệ lụy, đó là vướng sâu vào vòng danh lợi, tham vọng, thị phi đầy khổ não. Cho nên, triết học Đạo gia lấy an nhiên làm gốc và đề cao tinh thần trở về với tự nhiên. Những con người minh triết trong truyện Truyền kỳ mạn lục đều là những nhà trí thức chọn con đường ẩn dật, lấy vượn hạc làm bạn, cây núi làm nhà. Họ tự lánh mình vào thế giới tự nhiên như một giải pháp sáng suốt cho nhu cầu an thân, dưỡng thân, giữ mình hạnh toàn trong những biến động suy thoái của chế độ phong kiến đương thời. Xét từ góc độ này, con người minh triết trong Truyền kỳ mạn lục, phần nào đó, đã xa rời tư tưởng Nho gia để hướng về tư tưởng Đạo gia, xa rời vai trò của những con người vô ngã, con người công dân để cất tiếng nói của ý thức cá nhân đang bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ trong văn học.     



Trịnh Ngoã - Nguyễn Khánh Duy viết tháng 06/2021 tại Cần Thơ.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dinh, G. K., & Mai, C. C., & Bui, D. T.(1997). Van hoc Viet Nam (nua dau the ky X - nua dau the ky XVIII) tai ban lan 2 [Vietnamese literature (first half of tenth century - first half of eighteenth century) 2nd ed]. Hanoi: Education Publishing House.

Nguyen, K. C. (2020). Van hoc co Viet Nam Trung Hoa nhung huong tiep can [Approaches to classical Vietnamese and Chinese literature]. Ho chi Minh City: Ho Chi Minh City General Publishing House.

Nguyen, D. (2013).  Truyen ky man luc [Collection of Strange Tales] (Translated by Truc Khe Ngo Van Trien, 1st ed). Ho chi Minh City: Tre Publishing House.

Nguyen, D. (1979). Truyen Kieu [The Tale of Kieu]. Hanoi: Literature Publishing House.

Pham, T. N. (1996). Viet Nam van hoc su gian uoc tan bien (tap I) [A brief new compilation of the history of Vietnamese literature (the frist episode)]. Dongthap: Dongthap Publishing House.

Tran, D. S. (1999). May van de thi phap van hoc trung dai Viet Nam [Several poetic problems of medieval Vietnamese literature]. Hanoi: Education Publishing House.

Zhuang Z. (1994). Trang Tu va Nam Hoa kinh [Zhuang Zhou and Zhuangzi] (Translated, annotated and introduced by Nguyen Hien Le). Ho Chi Minh City: Cultural information Publishing House.


Không có nhận xét nào: