Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

QUAN NIỆM THI TỬU CỦA TẢN ĐÀ QUA BÀI THƠ NGÀY XUÂN THƠ RƯỢU




Tản Đà là một trong những nhà thơ tên tuổi lớn của thơ ca Việt Nam thời kỳ hiện đại. Ông được mệnh danh là dấu gạch nối giữa hai thế kỷ, là thi sĩ đặt nền móng cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Sinh ra trong giai đoạn mà nền văn chương cổ điển đi đến hồi kết, đời sống văn nghệ có nhiều thay đổi, phong trào Thơ Mới lên ngôi và phát triển đẩy nhà thơ vào chỗ lãng quên với đời sống văn chương đương thời.
Buồn bã và chán nản, Tản Đà với tài năng thi ca thiên bẩm, ông tìm vào trong giấc mộng thơ ca và rượu. Tuy sống ở thời hiện đại, nhưng tâm hồn và cốt cách con người thể hiện qua thơ ca của ông có sự qua lại giữa cổ điển và hiện đại. Tâm hồn hiện đại đó chính là cái tôi mà ông đặt vào thơ và cá tính ngông nghênh của một thi sĩ giữa hai thời đại. Trong đó, “rượu” như một chất xúc tác để hồn thơ của Tản Đà bay bổng và làm cho những tâm sự của ông càng hiện hữu. Nhiều sáng tác thơ của ông, rượu như một người bạn và là một yếu tố nghệ thuật làm nên phong thái đặc biệt của thi sĩ. Bài thơ “Ngày xuân thơ rượu” được Tản Đà gửi gắm niềm tâm sự về cuộc đời và quan niệm cá nhân về mối quan hệ thơ ca và nhân thế.
Tản Đà đưa ra quan niệm rất đặc sắc của cá nhân ông về thơ và rượu trong hai câu đầu đề: “Không thơ không rượu sống như thừa”. Sáng tác thơ ca có thể được xem như tài năng thiên bẩm mà nhà thơ hình thành được từ quá trình ý thức và trải nghiệm trong đời sống lẫn nghệ thuật ngôn từ, đối với Tản Đà, thơ ca trong đời sống của ông là một phần vô cùng quan trọng. Cùng với rượu, ông xem đó như là một quan niệm sống lẫn sáng tác:
Trời đất sinh ta rượu với thơ
Không thơ không rượu sống như thừa
Khác với thi tiên Lý Bạch thời Đường, Tản Đà có thể xem là một “trích tiên” thời hiện đại. Trong thơ ca, chất xúc tác “tửu” làm cho thi nhân thêm nồng nàn thi ý, trong ngữ cảnh bài thơ, thơ ca và rượu mà Tản Đà thốt lên có thể được xem như một tuyên ngôn cá nhân ông về quan hệ thi tửu được xuất phát từ câu cách ngôn “thi bằng tửu hữu” (詩朋酒友, thơ rượu cùng phải có bạn đi chung).
Một trong những nguyên nhân mà số phận của thi sĩ Tản Đà phải lui chân về quê tại Ba Vì sống thời gian an nhàn, xa lánh với những thay đổi của dòng chảy xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX lẫn trong đời sống văn nghệ bấy giờ. Ông chọn cho mình thơ rượu và sáng tác giải trí, đồng thời cũng là dòng tâm sự của ông với sự nghiệp của mình.
Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ.
Công danh và sự nghiệp của Tản Đà theo dòng chảy thời gian và biến đổi xã hội khiến ông mấy lần lao đao. Không thành công ở kỳ thi năm 1909 (Kỷ dậu), lần lượt làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh và sáng lập nên tờ báo chuyên về văn học đầu tiên nước ta An Nam tạp chí (1926). Tính cách ngông nghênh, phong cách làm báo làm tài tử nên tờ An Nam tạo chí xem như gắn liền với văn nghiệp của ông cũng bị khai tử vì túng thiếu tài chính. Mượn rượu giải sầu, Tản Đà tóm gọn chặng đường của đời mình qua hai câu thực mang chủ đề cốt yếu: “công danh” như “mùi men nhạt” và “sự nghiệp” như “nét mực mờ”. Phải chăng đây chính là sự tổng kết chặng đường mà ông nếm trải trong sự ngán ngẩm và bất thành của một người mang tư tưởng thời đại.
Quê hương Tản Đà với núi Tản Viên và dòng sông Đà, nơi gợi cho thi nhân với biết bao cảm hứng. Nhưng cũng chính không gian hùng vĩ và gần gũi này lại là nơi trở về của ông sau những chìm nổi của số phận. Trong cách nhìn của ông, dòng Đà giang và Tản lĩnh xuất hiện mờ ảo, như chính cách nhìn của ông về số phận của mình viễn tưởng và xa xôi, vô định:
Mạch nước sông Đà tim róc rách
Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ
Cũng dòng nước đó, sông Đà vẫn chảy theo qui luật tự nhiên, nhưng chính dòng chảy đó tượng trưng cho sự thay đổi về thời gian và bối cảnh, tương đồng với sự nghiệp của Tản Đà cũng thay đổi nhanh chóng. Non Tản hùng vĩ, xa xôi nên cách nhìn của nhà thơ đối với biểu tượng này cũng lơ mơ và bất định. Cấu thức hình ảnh thơ này của Tản Đà gần giống với cấu thức trong thơ Trần Nhân Tông qua câu “vân sơn tương viễn cận” (mây và núi như gần với nhau). Xét trong mối quan hệ giữa hai mối liên hệ: nhà thơ và hoàn cảnh hiện tại của ông, thì ý nghĩa của hình ảnh mây núi xa xôi, biểu trưng cho ước mơ muốn thay đổi của ông. Chẳng đâu khác hơn đó là ước mơ muốn làm thay đổi ý thức dân tộc và hoàn cảnh đất nước. Một ước mơ cao cả mà một thi nhân lãng mạn và ngôn nghênh như ông vẫn ấp ủ.
Khép lại sự nghiệp buồn bã của mình, trở về với quê hương thanh bình, mượn thơ mượn rượu bầu bạn tiêu sầu. Phong cách và quan niệm nghệ thuật của Tản Đà vô cùng độc đáo và mang dáng dấp của một thi tửu thật thụ:
Còn thơ còn rượu còn xuân mãi
Còn mãi xuân còn rượu với thơ.
Tản Đà tận hưởng mùa xuân qua thơ và rượu. Đó cũng chính là hành trình trải nghiệm của nhà thơ với cuộc đời nghệ thuật của mình. Thơ - rượu và mùa xuân như hòa quyện vào trong tâm hồn thi sĩ: mùa xuân gợi tứ cho cảm thức thi nhân, rượu làm chất xúc tác cho thơ ca thêm nồng nàn ý vị. Khép lại bài thơ, một lần nữa Tản Đà khẳng định giá trị và bản chất của mối quan hệ thi tửu với thời gian: mùa xuân sẽ tiếp nối và còn mãi nếu còn thơ và rượu, đó cũng phải chăng chính là mùa xuân trong tâm hồn người nghệ sĩ yêu thơ và yêu sự nghiệp mà chính bản thân ông theo đuổi, xem thơ ca như là cuộc đời chính mình.
Tản Đà qua đời và để lại sự nghiệp văn chương đồ sộ và giá trị. Chính ông là một trong những nhà thơ đặt nền móng cho thơ ca hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu. Pha lẫn cổ điển và hiện đại, chất xúc tác nghệ thuật trong thơ Tản Đà làm cho phong cách sáng tác của ông độc đáo và mang dấu ấn thời đại rất lớn.Và chính cá tính ngông nghênh và lãng mạn làm nên diện mạo chính ông và chính diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại thời kỳ 1900 – 1930 rất lớn: vừa lãng mạn vừa hiện thực và vừa đổi mới.

Canh tý niên, thu nguyệt, Cần Thơ, Ninh Kiều, Trịnh Ngõa nhị thập tứ tuế.