Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

Mấy ai như ông Tản Đà?



Cách đây 132 năm, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã ra đời. Một nhân vật mở đầu cho nền thi ca Việt Nam hiện đại. Ông cũng là người ở giữa hai thế giới cổ kim, ngôn ngữ mà các nhà nghiên cứu văn học thường gọi “bình cũ rượu mới” hay “dấu gạch nối” của thời đại. 

Có lẽ khá nhiều phân tích, bình luận và các công trình văn học sử nói về Tản Đà, khen che, tôn vinh thậm chí đả phá Tản Đà ngay khi ông còn sinh thời. Chính ông nhận thức được lời khen che như thế nào, cho nên những năm cuối đời ông sống với tâm thế bình thường, không ồn ào giữa chốn thi ca đô hội, nơi mà các nhà thơ trẻ Việt Nam, hay cách khác, thuật ngữ văn học gọi là các nhà thơ Mới Việt Nam. Thật ra, có hay không có phong trào thơ mới, hay chỉ là hiện tượng “bách gia tranh minh” như sử cũ đã gọi. Trong hoàn cảnh, Tản Đà vẫn sống bình thản như một vị trích tiên, nặng lòng ưu hoài với nước non, tâm tư mãi chìm trong giấc mộng lớn nhỏ. 

Cả đời ông Tản Đà sống chết với nghề văn. Trong “Hầu trời”, ông khẳng định nghề văn và nghiệp văn dương thời mà ông theo đuổi: 

“Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực rất khó

Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều

Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”.

tôi còn nhớ một nhà nghiên cứu văn học Xô Viết, từng nói về tính chất của người làm nghệ thuật đại khái là mấy ai sống hết mình hay đem hết cả đời mình cho nghệ thuật chăng? Theo tôi, Tản Đà là người tiên phong lấy nghề văn là mục tiêu của đời ông, tức cả đời ông đã đem hết cho văn chương. Mỗi câu thơ của ông khi nói về nghề văn đều như một dạng tuyên ngôn: 

“Không thơ không rượu sống như thừa”

Nghề văn của Tản Đà đem lại cho ông đắng nhiều, ngọt ít. Tờ báo An Nam tạp chí, tờ báo quốc ngữ về văn học đầu tiên mà chính ông là chủ bút, cũng vào sinh ra tử, mấy lần đình bản, rồi lại tái bản. Sau đó là vĩnh viễn đóng cửa! Một kết cục khá buồn cho tinh thần lấy văn chương “khởi nghiệp như ông Nguyễn Khắc Hiếu ở thời đại Tây Tầu lộn xộn. 

Con người phong lưu như Tản Đà cũng bị cuốn theo những hấp dẫn của đô thị thời thực dân phong kiến, đôi khi chán ngán ông lại bỏ về thôn Đoài quê hương của ông với Tản Viên sơn và Đà giang. 

“Mạch nước sông Đà tim róc rách,

Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ”.

Tôi đọc trong Tản Đà - Những thanh âm Thực - Mộng” của Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, phần thuật truyện những món ăn của Tản Đà chế tác khi nhắm rượu, tôi mường tượng lại cả một thi sĩ như Tô Đông Pha uống rượu và tự chế tác đồ nhắm thời Tống. Rõ thật, ông là tái bản của Tô Thức đời Tống? Hay lại là phân thân của Lý Thái Bạch đời Đường! Một sự dung hợp tâm thái thơ ca và con người trong thi sĩ ở đất nước và thời đại mà cách các nhà thơ Đường Tống khá lâu, khá xa. Đó là con người dĩ kim vi cổ - theo tôi nhìn nhận là vậy. 

Nhớ lại gần chục năm trước, khi tôi mới vừa 16, 17 tuổi tôi đọc các bài thơ tình của Tản Đà, các giai thoại về ông tôi đã lỡ sa chân vào giấc tình mộng của ông vẽ nẻo. 

“Trận gió thu phong rụng lá hồng

Lá bay tường bắc, lá sang đông

Hồng bay mấy lá năm hồ hết

Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không!”

Đó là những cảm xúc mà chính tôi trải nghiệm trong hồn thơ lãng mạn của ông. Cũng ngần năm ấy, thi văn của ông tôi vẫn còn nhớ như in. Tản Đà đặt ra vấn đề về quốc gia, dân tộc:

Dân hai lăm triệu ai người lớn,

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Đến giờ có mấy ai thấm thía câu này hay chưa? Cũng có mấy ai lấy thơ văn của ông Tản Đà để chiêm nghiệm khoa học xã hội, chính trị bao giờ? 

Nhân kỷ niệm 132 năm ngày sinh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, tôi thấy lòng mình vọng đọng cho một đời văn như ông, một người văn chương làu kim cổ, có mấy ai vừa làm được thơ Hán và thơ chữ quốc ngữ như ông! Mấy ai vừa là dịch giả, vừa dùng thơ Hán tự sáng tác để bình phẩm tổng kết dịch phẩm của mình như Tản Đà hay mang đậm dấu ấn của thi nhân Đường Tống cổ điển và lấy đời mình làm đời văn chương hay chưa? 

Tôi nhớ ở quận 5 sài gòn, có con đường mang tên ông, đường Tản Đà,…

Tân sửu, hạ, Tác mộng trai. 

Trịnh Ngoã