Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2020

THIÊN NHIÊN TRONG THƠ LÍ BẠCH


Hình ảnh có liên quan
...bài viết mang tính chất sơ khai, vụn vặt, cảm nghĩ cá nhân về thơ ca trong niềm vui thích....
1.      GIỚI THIỆU CHUNG
Ngày nay, trong đời sống nói chung và trong văn học nghệ thuật nói riêng thiên nhiên là đối tượng được con người chú ý và tập trung khai thác nhiều nhất. So với các phương diện đời sống khác như các hoạt động nhân đạo, tình cảm, giáo dục thì có những phương tiện thông tin truyền thông (truyền hình, báo chí, mạng xã hội – internet) phổ biến rất nhiều và chi tiết nhằm thực hiên nhiều chức năng khác nhau. Từ xa xưa, thiên nhiên luôn là đối tượng thẩm mỹ được con người cho là nguồn gốc của cái đẹp, và cái đẹp trong tự nhiên thiên là trường tồn vĩnh viễn so với các phạm trù mỹ học khác. 

Trung Quốc – nước láng giềng phương bắc của nước ta nổi tiếng với số lượng dân số đông nhất thế giới, bề dày lịch sử văn hóa huy hoàng và sự rộng lớn của lãnh thổ. Năm 2001, Trung Quốc đón hơn 84 triệu du khách nước ngoài, hàng tỷ người đã đến thăm nước này, hàng tỷ người vẫn xem đó là một ước mong. Phải chăng chính sự cuốn hút về văn hóa đặc sắc rất phương đông của quốc gia này như ẩm thực, kiến trúc văn hóa lịch sử, âm nhạc hội họa mà nó cuốn hút du khách không chỉ nội địa mà còn lan sang các nước khác. Theo sự khảo sát của nhóm chúng tôi từ nhiều nguồn tài liệu như sách, tạp chí, kênh truyền hình du lịch của nước ta và cả CCTV (kênh truyền hình TW Trung Quốc) thì nguyên nhân chính tạo nên sức hút du khách của nước này chính là thiên nhiên nhiên cảnh vật trù phú, hoa lệ và chính phong cảnh thiên nhiên đã gắn liền với đặc điểm khí hậu và những loại hình văn hóa, di tích thắng cảnh tạo nên sức hút không thể cưỡng. Nhằm đi tìm những gì tinh túy cuả thi ca cổ điển Trung Quốc chứa đựng bức tranh muôn màu của thiên nhiên diễm lệ, và lần dở nó ra thưởng thức và cùng sẻ chia với mọi người có cùng đam mê thi ca cổ.

   Thơ Đường – một loại hình văn học được phát triển mạnh mẽ dưới thời nhà Đường của Trung Quốc là một trong những điển hình tiêu biểu khi miêu tả cái hùng vĩ và mĩ lệ thiên nhiên, điều này chứng tỏ rằng ngay từ hơn 1300 năm về trước các nhà thơ Đường đã xem thiên nhiên là mục đích chính trong cuộc sống, sáng tác và dựa vào thiên nhiên để tạo nên những hình ảnh tượng trưng ước lệ, mơ hồ và đẹp đẽ nhất. Đó là tứ thảo, tứ quý, là phong cảnh Giang Nam non nước hữu tình, là kinh đô thành Lạc Dương của vương triều nhà Hán xưa, lầu Hoàng Hạc hay bãi cỏ Anh vũ bên bờ sông Trường Giang hung vĩ,… Tất cả cùng qui hợp trong thơ Đường và được những thi nhân sáng tạo cực độ và phô diễn chung các loại hình nghệ thuật khác như nhạc, họa,… Cụ thể trong bài nghiên cứu này, nhóm chúng tôi sẽ đi tìm và phân tích những bài thơ Đường của Thi tiên Lí Bạch và một số so sánh nho nhỏ trong thơ Việt Nam để thấy được vẻ đẹp cuốn hút, riêng biệt của thiên nhiên, văn hóa Trung Hoa được thơ Đường dưỡng nuôi và lưu giữ đến ngày hôm nay.

   Thiên nhiên là những gì được hình thành cố định và có sẵn trong quá trình kiến tạo tự nhiên, thiên nhiên vô cùng đa dạng phong phú tùy theo địa hình và đặc điểm khí hậu của vùng miền hay quốc gia đó. Từ đó hình thành nên thiên nhiên, cảnh vật trong cuộc sống. Trung Hoa là nước có thế mạnh về thiên nhiên, cảnh vật tương đối mạnh. Ở vùng núi Hồ Nam, phía nam tỉnh An Huy và tỉnh Chiết Giang có rất nhiều phong cảnh hữu tình, và biết bao thế kỷ qua trở thành đề tài sáng tác ưa thích của các thi nhân và các họa gia. Phong cảnh Trung Quốc mỹ lệ và tuyệt diệu không chỉ trong ngày xưa mà hiện nay nó vẫn còn giữ được nét nguyên sơ và hoang vu, bí hiểm, và đôi lúc rất lãng mạn, tình tứ khi nó được nhìn bằng cặp mắt của các thi nhân tài hoa. Cho nên, thiên nhiên đi vào trong thơ Đường là một qui luật tất. Thơ Lí Bạch có thể là một ví dụ rất tiêu biểu và sống động. Bài nghiên cứu này xin nói về nhà thơ Lí Bạch, một trong số vị đại thi hào lớn của Trung Quốc thời thịnh Đường. Và qua bài nghiên cứu này, nhóm chùng tôi trước mắt tìm hiểu khái lược về hoàn cảnh lịch sử thời nhà Đường (chủ yếu thời Lí Bạch) và cuộc đời, sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Lí Bạch. Đặc biệt, đi sâu vào tìm hiểu khai thác khía cạnh bức tranh phong cảnh thiên nhiên đa chiều và phản ánh đa dạng bộ mặt văn hóa thi ca ở Trung Hoa thời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) để đi đến mục đích sẻ chia những tri thức nhỏ nhoi mà nhóm tích nhặt được trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu. Qua đó cùng các bạn trẻ có cùng đam mê thơ ca, văn hóa Trung Quốc. Hi vọng đây sẽ là tài liệu thường thức cho sinh viên văn học nhằm cùng chia sẻ và trao đổi đề đi đến cách nhìn mới về một thể loại văn học nước ngoài – văn học Trung Quốc – thơ Đường mà ở chương trình phổ thông và trung học cơ sở có sự biên soạn của Nhà xuất bản Giáo Dục. Thiết nghĩ rằng thơ Đường sở dĩ được đưa vào chương trình học rất sớm(1) là có thể bước đầu làm quen cho học sinh với từ và âm đọc Hán Việt trong việc làm quen và tiếp nhận thơ Đường. Đồng thời, cũng là cầu nối cho việc học văn học Trung Đại Việt Nam một cách gần gũi và dễ cảm nhận nhất với hệ thống bản dịch các văn bản chữ Hán, chữ Nôm.

   Nay bài nghiên cứu này tập trung vào vấn đề chính mà đa phần những kiệt tác thơ Đường đã diễn tả hơn 1300 năm về trước, đó chính là thiên nhiên trong thơ Đường. Cụ thể là trong thơ của vị trích tiên lỗi lạc sống vào thời thịnh Đường - Lí Bạch (701-762). Như vậy, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin đi vào những nội dung chính. Bao gồm:

-Khái quát về các thể thơ Đường.
- Tóm tắt tiểu sử, sự nghiệp văn chương của Lí Bạch.
- Những vấn đề chính của bài nghiên cứu:
                     Khái quát sơ lược quan niệm thẩm mỹ của Tam giáo về tương quan con người và thiên nhiên – Thiên nhân hợp nhất thể hiện trong một số nhà thơ Đường.
2. Mối quan hệ giữa Lí Bạch và thiên nhiên. Quan niệm của Lí Bạch khi làm thơ về thiên nhiên.
3. Thiên nhiên trong thơ Lí Bạch phản ánh các phương diện tình cảm của con người rất sâu sắc.
4. Nỗi niềm hoài cổ với những bài thơ vịnh sử và các truyền thuyết dân gian được tạo dựng trên nền thiên nhiên rộng lớn.
5. Thơ Lí Bạch miêu tả thiên nhiên là sự kết hợp hài hòa giữa các loại hình nghệ thuật như âm nhạc và hội họa.
6. Sự tương quan giữa thiên nhiên trong thơ Đường và  Lí Bạch với thơ của các nhà thơ Việt Nam như Bà huyện Thanh Quan và Tản Đà.
- Kết luận.
                                                                                        
2.      KHÁI QUÁT THỂ THƠ CỔ PHONG VÀ THƠ ĐƯỜNG

    Đa phần các thể thơ Đường như thất ngôn bát cú, thất ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn tuyệt cú,... thì nhiều người cũng rất am tường, thậm chí những thể thơ này đến hiện nay vẫn là các công thức mà nhiều vẫn chọn để sáng tác thơ. Ở phần này nhóm chúng tôi xin được phép bỏ qua những thể thơ kể trên mà sẽ giới thiệu về một thể mà trong thơ Lí Bạch hay sử dụng. Đó là thơ Cổ phong.

   Cổ phong là lối thơ có từ những triều đại trước đó. Trong thơ cổ phong người ta chia làm hai loại cho dễ nhớ là: cổ phong ngũ ngôn và cổ phong thất ngôn

- Thơ cổ phong khác với thơ luật là ở chỗ chỉ cần vần chứ không theo luật bằng trắc.
- Thơ cổ phong có thể dài ngắn khác nhau, có bài ngắn gọi là đoản thiên bài dài thì goị là trường thiên. Số câu không qui định cụ thể, đoản thiên có thể có 4,6,8 câu hoặc trên 10 câu; trường thiên là những bài thơ dài, nghiêng về trần thuật hoặc biểu cảm trước một đề tài không dứt. Do đó, cũng phải có từng phần mạch lạc với nhau, cấu trúc hợp lí.

- Về thơ thất ngôn cổ phong thì các đạon mạch phải cho rõ ràng, ý nghĩa càng thêm thâm trầm, cao thoát nhiều ý vị ngoài bài thơ thì càng hay. Đôi khi thơ cồ phong cũng có những câu sáu lời hoặc hoàn toàn sáu lời, chẳng hạn:
Tình xuyên vĩnh lộ hà cục,
Lạc nhật cô chu giải huề.
                (Vô đề - Lưu Trường Khanh)
Tuy vậy, lối sáu chữ không được dùng phổ biến.Nhưng nếu So với thơ luật thì cổ phong phóng túng hơn, ít trói buộc niêm luật và câu chữ. Chính vì vậy mà tính hàm súc cô đọng, những khe khắc đòi hỏi về đối ngẫu, luật thơ âm nhạc,không tập trung như thơ luật. Thơ cổ phong có từ những triều đại trước như Hán, Tùy,.. cho nên về sau lối thơ luật thịnh hành hơn cả.

Trong bài viết Đặc trưng mĩ học thơ Đường, tác giả Lê Đức Niệm (tr.504) có những ý kiến nhận xét rất mới mẽ, phù hợp với đặc điểm trong thơ Đường về thiên nhiên của Lí Bạch như sau:

+ Kết cấu thơ Đường hết sức chặt chẽ, mỗi bài thơ giống như một bài toán giải đáp một vấn đề xã hội bằng hình tượng nghệ thuật (...) Do số chữ hạn định, nên các nhà thơ phải tìm tòi những tinh hoa của dân gian và những điển cố lịch sử của văn hóa thành văn;

+ Thơ Đường có phong độ một tâm hồn Á Đông, gắn tư tưởng tình cảm con người với thiên nhiên đất nước;

+  Tình cảm biểu hiện trong thơ Đường thực hiện muôn màu, muôn vẻ, có khi bồng bột bay bổng, có khi thâm trầm, uẩn khúc quanh co. “Như những dòng thác đổ dồn về một con sông lớn cuồn cuộn.
+ Những bài thơ Đường tựa như những đồ chơi làm bằng ngọc ngà, chạm trổ rất tinh xảo, trau dồi bóng bẩy, càng ngắm càng thấy đẹp, chơi bao lâu cũng không thấy chán (Trần Trọng Kim).

   Qua những ý kiến tham khảo trên cho chúng ta một cách nhìn về thể thơ Đường rất đậm màu sắc Trung Hoa, mà cụ thể là phản ánh diện mạo ngôn ngữ của Trung Hoa (thời Đường) và chính điều này mà làm cho việc đọc thơ Đường của người Việt trở nên mượt mà và êm ái hơn rất nhiều theo cách đọc của âm Phổ thông Trung Quốc hiện nay. Âm đọc Hán Việt đã chứng minh được sức sống thơ Đường cùng tồn tại song song trong nền văn học Việt Nam qua biết bao thế kỉ.

3. TÓM TẮT TIỂU SỬ, SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
3.1.           Tóm tắt tiểu sử
Lí Bạch (701-762), tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên Cư sĩ ra đời vào năm Trường An Nguyên niên – Đường Vũ Hậu, triều Võ Tắc Thiên. Quê hương ông ở huyện Lũng Tây (Tứ Xuyên), nay là tỉnh Cam Túc. Suốt thời thơ ấu ông được mẹ dạy cho chữ Tây Vực, cha dạy Kinh thi và làm thơ, đến năm 10 tuổi thì thông thạo và thích làm thơ.

Lí Bạch ra đời vào những năm cực thịnh của thởi đại nhà Đường, người ta thường lấy bài thơ sau Ức tích của Đỗ Phủ làm dẫn chứng
.
                                              Nhớ xưa thời Khai Nguyên thịnh trị,
                                               Ấp nhỏ có vạn nhà,
                                               Lúa gạo có nhiều trắng xóa…
   Gia đình giàu có cho nên từ nhỏ Lí Bạch đã tha hồ đi đây đó cùng cha. Ông tỏ ra chí hướng của ông sau này là thơ túi rượu bầu chứ không phải là chốn quan trường, chỉ thong dong tiêu sái. Năm 10 tuổi, ông say mê học kiếm thuật; năm 15 tuổi có bài phú ngạo Mã Tương Như nổi tiếng; 16 tuổi nổi danh khắp Tứ Xuyên,..

   Sau khi hai năm lên núi Đái Thiên Sơn làm đạo sĩ sống cuộc sống ẩn dật, khoảng năm hai mươi tuổi ông hạ sơn và đi tiêu du khắp chốn. Năm 20 tuổi, ông đi hết nước Thục, ông lại vể với gia đình và chuẩn bị tiền cho cuộc du hành sắp tới.

   Năm 723, Lí Bạch đeo một bầu rượu lớn, chống kiếm lên đường viễn du, trong khoảng 3 năm ông đã tham quan hầu hết cảnh đẹp Trung Hoa như: Hồ động Đình, Kim Lăng, Dương Châu, Giang hạ,..

   Năm 726, ông kết duyên cùng cháu gái của Hứa Tướng CôngVân Mộng; 30 tuổi, tiếng tăm vang vội đến triều đình nhưng ông không chịu nhận. Năm 724, ông từ giã vợ con và lên đường viễn du đến Giang Tô, Sơn Đông,… Niên hiệu Thiên bảo 742, ông gặp nhà thơ Hạ Tri Chương, trở thành đôi bạn rượu thơ thân thiết. Ông được họ Hạ tiến cử lên vua Đường Minh Hoàng, vua nghe danh đã lâu nên rất thích và vời ông vào cung chuyên giữ việc thảo thư từ, giữ việc cơ mật của triều Đình.

   Năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say sỉn suốt ngày, bị Dương Quốc Trung dèm pha, Dương Quí Phi cũng phát ghét nên khiến cho nhà vua rất xử, mặc dù rất yêu mến ông. Lí Bạch nhận thấy được đó, cộng thêm bất mãn về triểu đình, lòng đam mê du lãm đang nổi dậy. Ông liền từ biệt vua Đường. Đường Minh Hoàng rất buồn, nhưng không giữ chân ông được, lúc ra đi nhà vua tặng cho ông rất nhiều của cải nhưng thi nhân không nhận. Cuối cùng trao cho ông quyền uống rượu miễn phí bất kì tửu quán nào, và tiền rượu do ngân khố chi trả.

   Năm ông 56 tuổi, ông bị liên quan đến vụ tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân nên ông phải tội đi đày. Năm 758, trên đường đi đày , Lí Bạch may mắn được tha bổng, ông liền đáp thuyền đến Hán Dương, tiếp tục cuộc ngao du. Do tuổi già sức yếu nên ông đến Đang Đồ, ở nhờ nhà anh là Lí Dương Băng. Năm 762 ông qua đời trong cơn bệnh, để lại một dư âm vang dội và nhiều tác phẩm bất hủ. Ông được người đời sau tôn là Thi Tiên.

3.2.  Sự nghiệp văn chương
   Nhà thơ Bì Nhật Hưu thời Vãn Đường nói rằng: Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần,… lỗi lạc dị thường, không phải lời của thế gian, thì có thơ Lí Bạch.

   Do tính tình phóng túng, nên rất khó tìm được những bản gốc ghi chép thơ của ông,biết đến nhiều là do bạn bè, dân gian yêu mến thơ của ông nên chép lại. Năm 762, sau khi Lí Bạch mất thì anh họ của ông thu thập lại chỉ còn 1/10 so với người ta truyền tụng. Đến nay, thơ ông còn trên dưới 1000 bài và được đánh giá rất cao. Nổi tiếng nhất trong dân gian thì có: Thanh Bình điệu, Hiệp khách hành, Tương tiến tửu, Hành lộ nan,…

   Khác với thơ Đỗ Phủ, thơ ông ít đụng chạm đến thế sự mà thưởng tập trung vào chủ đề như: vấn vương hoài cổ, tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tình yêu và tình bạn, tình quê hương,..Nhưng nhiều nhất vẫn là về rượu.

   Lối thơ của ông thường là Cổ phong – rất được yêu thích, ngoài ra còn có tứ cú và bát cú.

4. NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH
   Trước khi vào những nội dung chính của bài nghiên cứu, nhóm chúng tôi xin khái quát sơ lược về những quan niệm của Tam giáo (Nho giáo, Phật Giáo, Đạo giáo) để nhằm mục đích tìm ra những đặc điểm tương quan trong quan niệm của nhà thơ Lí Bạch về thiên nhiên trong sáng tác của ông cũng như những sáng tác của những nhà thơ đương thời với Lí Bạch cũng như sau này.
4.1.           Khái quát sơ lược quan niệm thẩm mĩ của tam giáo về thiên nhiên – Thiên nhân hợp nhất thể hiện trong một số nhà thơ Đường.
   “Quan niệm về vũ trụ và quan niệm về đạo đức “Thiên nhân hợp nhất”, tư tưởng của tam giáo (Nho gia, Phật gia và Đạo gia) giao hòa với nhau, tạo thành một chuẩn mực cho tư tưởng và hành vi của mọi người. Nhờ đó lòng kính trọng Trời, kính trọng Đức, tu thân và thương dân; các lý niệm đạo đức như thế bắt rễ sâu vào nhân tâm.”(2) Định nghiã trên của hai tác giả Trí Chân, Minh Huệ nhằm giải thích cho quan niệm chung của ba tôn giáo lớn tồn tại ter6n đất Trung Hoa lâu đời và có tầm ảnh hưởng rất lớn trong giới văn học, nghệ thuật và thể hiện trong văn hóa của Trung Hoa lâu đời. Ở đây, nhóm tìm hiểu về khái niệm này xin phép được trích dẫn định nghĩa trên để làm nền tảng cho sự kiến giải theo suy nghĩ và cách nhìn nhận của nhóm, đồng thời cũng là cách nhìn chung vể những kiến giải mang chất “tuổi trẻ” ngày nay. Nhưng trong phần kiến giải của nhóm xin chỉ giải thích theo dòng chảy của quan niệm này thể hiện trong thơ Đường.

   Xét về bình diện thơ của các nhà thơ Đường về quan niệm “thiên nhân hợp nhất” thì nhìn chung tác giả có cách thể hiện riêng tùy theo con đường hấp thụ tư tưởng của mỗi nhà thơ. Ví dụ như ở Lí Bạch, ông tiếp thu tinh thần Đạo giáo rất cao, ông luôn có tư tưởng cầu tiên học đạo, mặc dù cả đời ông sống như ẩn dật. Lí Bạch chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của học thuyết Trang Tử và tư tưởng thần tiên. Nhưng không phải như vậy mà ông cả đời ẩn dật, ông chống kiếm viễn du và bị vấp phải nhiều chướng ngại vật cho con đường chính trị, cho nên viễn du nhưng hoài bão đó ông vẫn nung nấu. Chất “thiên nhân hợp nhất” của thơ ông là ở chỗ đặc tả thiên nhiên nhưng vẫn có hình dạng và tâm tư con người trong đó. Thiên thiên luôn là sợi dây gắn kết để ông thả vào đó những suy nghĩ có chút gì đó rất tư tưởng “vô vi” của Đạo giáo.

   Điều này có sự giống nhau với Thi Phật Vương Duy, Vương Duy được người đời tôn là thi Phật bời vì thơ ông đậm chất Thiền, nhẹ nhàng và nhiều bài có đề cập đến “duyên nghiệp” và sự ngắn ngủi kiếp người. Nói đến chất thiên nhiên trong thơ Vương Duy thì như Tô Thức nhận định thi trung hữu họa; họa trung hữu thi (trong thơ có họa; trong họa có thơ) ý nói chất sinh động, không gian có người – thiên nhiên hợp nhất:

Nhân nhàn quế hoa lạc,
Dạ tĩnh xuân sơn không.
Nguyệt xuất kinh sơn điểu,
Thời minh tại giản trung.

4.2.           Mối quan hệ giữa Lí Bạch và thiên nhiên. Quan niệm của Lí Bạch khi làm thơ về thiên nhiên.
4.2.1.     Mối liên hệ giữa thiên nhiên và Lí Bạch.
4.2.1.1.          Thiên nhiên và ông có sự liên kết rất chặt chẽ, thiên nhiên đã gắn với Lí Bạch ngay khi còn trẻ và tạo đà cho Lí Bạch h́nh thành nên phong cách sáng tác trong mảng thơ về phong cảnh

   Theo bài viết về Cuộc đời Lí Bạch trong quyển Đến với thơ Lí Bạch, trước năm ông hai mươi tuổi Lí Bạch có một người bạn thân là Đông Nghiêm (ẩn sĩ ở Dân Sơn – Tứ Xuyên). Lí Bạch rất thích cuộc sống như thế và ông ở lại Dân Sơn và tiếp xúc với Đạo Giáo – có tác dụng tích cực hình thành tư tưởng và tính cách của ông sau này. Chính chi tiết này đã bồi dưỡng cho ông lòng yêu tự do, theo đuổi tính cách giải phóng và thích du hành đậy đó thưởng lãm những cảnh đẹp của đất nước. Sau năm hai mươi tuổi, ông bắt đầu đi chơi, thưởng thức cảnh đẹp đất Thục; mùa thu năm 26 tuổi đến núi Nga Mi diễm lệ của tỉnh Tứ Xuyên, có một bài thơ ông viết về vẻ đẹp dịu dàng của ngọn núi xinh đẹp này:

Nga Mi sơn nguyệt bán luân thu
Ảnh nhập Bình Khương giang thủy lưu.
Dịch nghĩa:
Trăng mọc trên núi Nga Mi nửa vầng mùa thu,
Ánh chiếu xuống dòng Bình Khương nước chảy lưu.

Và từ những năm 726 – 742, ông đã du lịch qua rất nhiều miền của dất nước,… Như thế, ta thấy ở tính cách Lí Bạch có một điều kiện rất tiên quyết đó là những chuyến du hành qua các miền đất có phong cảnh thiên nhiên trù phú, hào sảng tạo điều kiện cho hồn thơ, chén rượu của ông thêm ngọt ngào mê li.

    Như đã trình bày, chính sự tiếp xúc với Đạo Giáo đã châm ngòi cho tình yêu tự do, theo đuổi tính cách giải phóng cá nhân. Ông thích múa kiếm, thích rượu và dĩ nhiên thơ ca chiếm giữ một vị trí không thể thiếu trong cuộc đời chống kiếm viễn du của thi nhân. Ông có một tư tưởng hiệp khách to lớn, trong giai đoạn ông còn trẻ do gia đình là thương gia giàu có nên ông mang một số tiền lớn và xa nhà thực hiện những chuyến viễn du dài hạn cho nên Lí Bạch dễ dàng thực hiện một số hành động hào hiệp và kết giao với nhiều bạn bè nổi tiếng như nhà thơ Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên và chính những cuộc say sưa gặp gỡ với những nhà thơ lớn đương thời tạo nên hồn thơ hết sức hào phóng, thoải mái và mở ra một chiều rộng về không gian trong khung cảnh mà ông diễn đạt. Chẳng hạn như trong bài Tuyên Châu tạ diểu lâu tiễn biệt thư Thúc Vân có những câu miêu tả rất thần về phong cách thưởng rượu, làm thơ: 
+Trường phong vạn lí tống thu nhạn (Muôn dặm gió thu đưa cánh nhạn) - (1);
+ Dục thượng thanh thiên lãm minh nguyệt (Muốn bay lên trời xanh thưởng lãm trăng sáng) – (2).
   Do hạn chế về độ dài văn bản mà nhóm khó có thể trình bày hết một số bài thơ, nhưng chỉ điểm qua hai câu thơ này và qua một số từ như trường phong; vạn lí; Thanh thiên lãm minh nguyệt, cho người đọc một cảm giác êm ái,bay bổng thả hồn cùng vần thơ mượt dịu. Bằng cách kết hợp từ rất đơn giản, Trường phong ta có được nghĩa là một cơn gió dài, “vạn lí” ta có được chiều dài xa xăm và mờ nhạt. Hai yếu tố kết hợp từ này ở câu thơ (1) ta cảm nhận cái phiêu bồng trong bản dịch “Muôn dặm gió thu đưa cánh nhạn”. Thực sự nội hàm trong hai từ thu nhạn cũng cho thấy được cái hay về mặt âm điệu; cái đẹp về hình ảnh: cánh chim nhạn theo cơn gió trời lao luyến ngàn dặm bay bổng theo chiều không gian vô định. Nếu ở câu (1) là miêu tả sự vật thiên nhiên theo bề rộng của đất trời mùa thu thì câu (2) chính bởi yếu tố “dục” (“dục” ở đây nghĩa là mong muốn, ước mong) cái khao khát của chính thi nhân đã làm nên vẻ đẹp bề sâu trong sự thức tỉnh về vẻ đẹp thiên nhiên, cái tinh túy nhất của vũ trụ muôn đời. Đó là vầng nguyệt. Cái hình ảnh “minh nguyệt” xuất hiện rất nhiều trong thơ của ông, trong bài Tĩnh dạ tứ thì ánh trăng của sự ướt mong, nhớ nhung quê cũ – chăng đó cũng là ước mong. Nhưng cái ước mong khát khao trong “dục thượng thanh thiên lãm minh nguyệt” còn dữ dội hơn nhiều,bằng nhãn quan của một người từng đi trăm núi nghìn sông nhà thơ họ Lí đã không ít lần chạm mặt ánh trăng và cái ướt vọng “tróc nguyệt”(bắt trăng) về làm cuả riêng mình vẫn không sao thực hiện được. Thực tế thì rất phủ phàng, không ai cho ông một đôi cánh tiên để bay lên thưởng nguyệt, thời đại của ông không cho phép ông thực hiện hoài bão mang tính ảo mộng ấy. Nhưng thực tế là vậy, thì ngay chính trong thơ ca ông tha hồ mặc sức bay bổng mở rộng trí tưởng tượng của mình với không – thời gian vô hạn. Tất cả được xây dựng trên nền của thiên nhiên, trên cái bao la vẻ đẹp tinh hoa của vũ trụ đất trời mà Lí Bạch thu gom hết vào thơ ca của mình
4.2.1.2.  Thiên nhiên với sự mênh mông đi vào trong thơ Lí Bạch khiến cho nó đẹp, rạng rỡ như thế giới thần tiên, siêu phàm thoát tục. 

   Ở điểm này, thủ pháp lãng mạn được phát huy cao độ. Bằng trí tưởng tượng Lí Bạch đã vẽ ra một thế giới non nước hữu tình thênh thang rộng lớn, khác với các hình ảnh thiên nhiên thường thấy trong thơ tả cảnh thiên nhiên của các tác giả khác như Đỗ Phủ: thiên nhiên thường ít được “xanh tốt” như của Lí Bạch, mà trái lại đó là những chuỗi sầu da diết, tang tốc một mùi vị sầu muộn nặng trĩu. Trong bài Thu hứng, có đoạn:

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

Đến nỗi tùng cúc là hai loại thực vật nằm ttrong danh sách tứ thảo và nó được đặt trong thơ của họ Đỗ thì lại mang một màu sắc khác, đượm buồn và thê lương. Tùng cúc đã hai lần nở bụi mà lại nhỏ lệ trước cảnh sắc thu không hoang vắng. 

   Ở Lí Bạch hầu như không khí thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn vui vẻ, hào hứng thoát tục. Thiên nhiên trong thơ ông chỉ là những sự vật hết sức bình thường nhưng qua ngôn ngữ tài tình của ông thì nó bỗng nhiên ra nhẹ tênh bay bổng. Như bài Tảo phát bạch đế thành sau:
Triêu từ Bạch Đế thải vân gian,
Thiên lí Giang Lăng nhất nhật hoàn.
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất tận,
Kinh chu dĩ quá vạn trùng san.
Dịch thơ:
Sớm từ Bạch đế thành mây,
Muôn dặm Giang lăng tới một ngày.
Vượn hót ven sông nghe rỉ rã,
Thuyền qua muôn núi nhẹ như bay.
                          (Tương Như dịch)

    Bài thơ này được ra đời sau khi sự kiện Lí Bạch bị đi đày ở Dạ Lang (đời vua Đường Túc Tông 756), nửa đường gặp may được tha bổng. Ông đáp thuyền đi ngay Giang Lăng nhân lúc vui mừng mà làm ra bài này. Có phải chăng thi nhân hứng khởi vừa được tự do tự tại nên những chữ trong bài tứ tuyệt trên đều nhẹ tênh –“không trọng lượng”. Những từ như “thành mây”, và khoảng đường dài được rút ngắn chỉ trong bảy chữ “Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn” một không gian nhẹ hững, một quãng đường nhanh chớp mắt như có phép màu trong miêu tả không gian thời gian vụt qua nhưng gía trị nghệ thuật mà nó để lại thâm sâu và tạo ra chiều suy tưởng của độc giả thế hệ sau là không nhỏ. Lí Bạch đi thuyền đến Giang Lăng và bài thơ tuyệt diệu ở chỗ chỉ ngồi trên một chiếc thuyền nhưng tốc độ nhẹ và đi hàng nghìn dặm. Đặc biệt, hai câu thơ cuối mang đầy âm thanh khí vị của bờ sông vắng giữa lòng núi non tráng lệ:
Vượn hót ven sông nghe rỉ rã,
Thuyền qua muôn núi nhẹ như bay
.

   Hai “lưỡng ngạn” và chiếc thuyền du hí của vị Trích Tiên Thái Bạch ở chính giữa như làm thành điểm nhấn cho núi rừng của thành Bạch Đế. Lí Bạch cảm nhận thanh âm hoang dã của loài vượn núi ẩn nấp trong cây xanh bằng tâm thái ung dung tự tại, và nó biến thành khúc nhạc trong trẻo của thiên nhiên bất tận như tán thưởng chúc mừng cho Lí Bạch vừa thoát ách nạn. Một niềm vui hân hoan như thế, một tâm trạng hào hứng và phóng đãng đã làm cho mọi âm thanh, hình ảnh lọt vào tầm mắt của thi nhân đều hóa nên đẹp đã và mơ mộng như một bức tranh có nhạc.

   Trở lại về lịch sử lúc Lí Bạch sống ở kinh thành Trường An, ông được vua Huyền Tông ân sủng, đặc cách cho biết bao qui tắc trong cung và được bổng như một vị quan to. Nhưng có lẽ sau vụ ồn ào về Dương Quí Phi và Dương Quốc Trung đã làm cho ông thoái nản. Đặc biệt là sau khi ông rời khi Trường An và tiếp tục cuộc du lịch dài ngày của mình. Lí Bạch đã có ý thức chính trị rất sớm, mong ước được kinh ban tế thế nhưng điều này lại không dễ dàng thực hiện được khi triều đình vua thì ham mê nữ sắc; quan thần thì mưu đồ thao túng (bọn Dương Quốc Trung, Cao Lực Sĩ) và sau này thì loạn An Lộc Sơn xảy ra,... bao nhiêu biến cố và những sự phiển toái trước mắt đó đã khiến cho một kiếm khách như ông cũng phải buồn và chán. Trong bài Sơ xuất Kim Môn tầm Vương thị ngự bất ngộ, vịnh bích thượng Anh Vũ ông than thở rằng:

Năng ngôn chung kiến khí,
Hoàn hướng Lũng Tây phi.
Dịch nghĩa:
Có tài nói tiếng người nhưng rốt cuộc bị người đời ruồng bỏ/ Đành bay về Lũng Tây.

   Cho nên trước hoàn cảnh này, Lí Bạch chỉ có thể gửi gắm hoài bão của mình vào động tiên. Dùng ngòi bút của mình, ông viết về thế giới thần tiên và chủ yếu miêu tả trên nền thiên nhiên là chính, thực tế xã hội đã lạnh nhạt với ông thì trong mộng tưởng ông tha hồ cho hoài bão của mình bay xa không ai cấm đoán. Trong đó, nếu phải kể về nhân tố làm nên sự lãng mạn, dày đặc của của vẻ đẹp thiên tiên của ông biểu trưng cho một hình ảnh về những thắng cảnh của “Trung Hoa cẩm tú”, thì yếu tố thiên nhiên phải là thành phần chính nhất. Những núi non trùng điệp, những áng mây thấp thoáng trên đỉnh núi, tiếng suối chảy... Tất cả cùng hòa cùng vào khúc “ngâm lưu biệt” uyển chuyễn, tự do phóng khoáng trong Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt

Vân thanh thanh hề dục vũ,
Thủy đạm đạm hề sinh yên
Dịch nghĩa:
Mây xanh xanh hề mưa chớm,
Nước mờ mờ hề khói un.

   Và những cảnh mơ mòng trong cơn mơ chở đẩy tư tưởng hành lạc, thoát tục:

Nhật nguyệt chiếu diệu Kim Ngân đài/ Nghê vi y hề phong vi mã/ Vân chi quân hề phân phân nhi lai há/ Hổ cốt hề lam hồi xa/ Tiên chi nhân hề liệt như ma...
Dịch nghĩa:
Ánh trời ánh trăng ngấn bạc vàng/ Mặc áo ráng hề cưỡi ngựa gió/ Thần trong mây hề bời bời bay xuống đó/ Hổ đánh đàn hề loan đầy xe/ Người tiên đông hề đông gớm ghê.

   Bài thơ Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” theo ý kiến nhận định của Phan Bách Tề thì “toàn bài thơ dựa giấc mộng, bố trí những cảnh hư ảo, để gửi gấm tình cảm nhớ nhung.”; “lấy cảnh tiên mộng du các núi non xinh đẹp nổi tiếng để viết lên tình cảm mãnh liệt của nhà thơ đối với nơi rạng rỡ và thế giới thần tiên. Từ những phân tích và nhận định trên cho thấy rằng giữa sự nghiệp sáng tác của Lí Bạch nhân tố thiên nhiên phong cảnh không thể nào không có, không phải chỉ riêng nhà thơ họ Lí “độc tôn” về sáng tác thơ thiên nhiên, nhưng thiên nhiên từ trong nguồn cơn thi ca của nhà thơ tuôn trào ra một cách tự nhiên nhất. Tuôn trào ra một cách tự nhiên nhất như thế không có nghĩa là nó bị thô thiển, khuôn sáo trong những hình ảnh gợi tả lu mờ, gây cảm giác khó liên tưởng cho người tiếp nhận, và chính từ cái đẹp tự nhiên căn nguyên nhất của thiên nhiên trong tư duy sáng tạo của Thi tiên Lí Bạch đã biến hóa cái thiên nhiên nguyên thủy của vùng đất “Thần Châu” (trong quan niệm Đạo giáo) thành cái diễm lệ đặc trưng cho phong cảnh thiên nhiên Trung Quốc, chẳng hạn một số ý thơ trông như nghệ thuật vườn cảnh đời nhà Minh, ngự hoa viên trong Hoàng thành Cố cung – Tử Cấm Thành, hay những quang cảnh thoáng đãng của Tây Hồ, sông Tần Hoài,.vv…Nhưng đặc biệt là công lao của nhà thơ đã chuyển thiên nhiên từ trạng thái động thành cái tĩnh trong không gian; cái bất di bất dịch của thời gian trong quá khứ thành cái của hiện tại của nhà thơ qua con mắt nghệ thuật chuyển tải bằng cái thần cái hồn thơ tiên.

4.2.1.3.          Quan niệm của Lí Bạch khi làm thơ về thiên nhiên.
Theo học giả Mao Thủy Thanh (Trung Quốc) trong bài viết nghiên cứu Thơ thiên nhiên của Lí Bạch thì khi làm thơ về đề tài thiên nhiên ông thường chú ý lồng ghép các chủ đề vào thay vì tách riêng ra làm một đề tài sáng tác riêng biệt. Như vậy, chúng ta thấy được đây cũng là một đặc điểm trong quan niệm sáng tác của ông. Tuy tác phẩm viết về thiên nhiên có hạn chế, nhưng cách viết thường thể hiện những địa điểm riêng biệt gắn với từng chủ đề. Ví như cảnh thiên nhiên bắt đầu trong một số bài thơ thường là miêu tả cảnh biên tái trước:

“Minh nguyệt xuất Thiên Sơn,
Thương mang vân hải gian.
Trường phong kỉ vạn lí,
Xuy độ Ngọc Môn Quan
(…)
                 (Quan Sơn nguyệt)
Dịch nghĩa:
Vừng trăng ra núi Thiên Sơn,
Mênh mang nước bể mưa nguồn sáng soi.
Gió đâu muôn dặm chạy dài,
Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn
(…)
                                   (Tản Đà dịch)

    Phải chăng lúc bình sinh và lúc còn trẻ của Thi tiên họ Lí sống trong cảnh cực thịnh của triều Đường nên đối với cái nhìn của ông về biên thùy trong quá khứ luôn dày đặc cái nhìn hoài cổ, lãng mạn. Cũng theo Mao Thủy Thanh, “nhà thơ Lí Bạch có tay nghề cao trong sáng tác thơ biên tái”. Và trong đoạn đầu bài Quan sơn nguyệt trên, hình ảnh “vừng trăng” lạnh ngắt xuất hiện trên núi Thiên Sơn cô độc, hoang vu âm thầm như ngàn năm chưa gặp mặt người. Không như ánh trăng trong Điểu minh giản của thi Phật Vương Duy lại mát mẻ, thân thuộc, mặc dù cũng làm cho “chim núi hãi hùng”: 
       
Nguyệt xuất kinh sơn điểu
thời minh tại giản trung

Dịch thơ: Trăng lên chim núi giật mình
 Tiếng kêu thủng thẳng kêu quanh khe đồi
– Ngô Tất Tố dịch.

    Ánh trăng nơi biên thùy là vậy, lạnh lùng, không quen biết. Biên tái là nới cách rất xa kinh thành, có ngọn núi cao Thiên Sơn, mây trắng phủ đỉnh quanh năm, gió tuyết mịt mù,… là nơi thường xảy ra các cuộc mâu thuẫn giữa Hán tộc và các bộ tộc bên phía bắc Trường thành vạn lí và cũng là nới mà nàng Mạnh khương khóc chồng đến nát thành đổ đất…

   Tiếp theo, loại thơ mà theo Mao thủy Thanh nói về Lí Bạch là miêu tả vùng xa kinh thành, đi đến được đầy gian khó như bài thơ Thục Đạo nan. Ở phần này, chúng tôi xin chủ yếu theo quan điểm của học giả họ Mao nhưng không hoàn toàn như vậy bởi vì Lí Bạch luôn có sự phân biệt rạch ròi trong sáng tác giữa các chủ đề trong tổng thể sáng tác. Như ý kiến đã dẫn, Thục Đạo nan không hoàn toàn miêu tả cái “không khí thê lương, làm kinh động hồn phách”, mà theo toàn bộ thiên nhiên trong bài thơ thì đó là không gian của rừng rậm hoang vu, nhưng không hoang tàn, bí hiểm nhưng không bí mật. Dẫu biết rằng các học giả Trung Hoa dày công nghiên cứu về thiêm nhiên trong thơ thi hào họ Lí, nhưng ở góc nhìn mới, chúng tôi xin được phép nhìn nhận vấn đề ở một bình diện của tuổi trẻ, của tư duy mới và đang bắt đầu trưởng thành. Thục Đạo nan tuy trong hình thức vẫn ám ảnh người nghe bằng thứ âm thanh động, nhưng hình ảnh thì hoàn toàn tự nhiên, tự tại của cảnh núi rừng ngàn năm vẫn đứng yên như thế. Đa dạng và muôn sắc màu mà con người vừa đi trong đất Thục chưa cảm nhận hết, chỉ mới ngỡ ngàng và ngạc nhiên.
Hoàng Hạc chi phi thượng bất đắc quá,
Viên nhứu dục độ sầu phan viên.

   Tiếp theo, không gian đậm màu văn hóa và khung cảnh thiên nhiên thì đầy ắp tâm trạng, tình cảm con người cũng rất được Lí Bạch dành rất nhiều màu sắc, bút mực để trang hoàng thêm vào bức tranh thiên nhiên to lớn. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên với bao nhiêu tâm trạng mà ý nằm ngoài lời mà thi nhân chưa nói hết,  lầu Hạc vẫn đứng trơ với sông Trường Giang lẳng lặng trong cái bóng hoàng hôn đẩy cánh buồm vô định.

Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.
Dịch: cánh buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng
sông bên trời.

                         
(Ngô Tất Tố dịch)

   Khó có thể tìm thấy một nhà thơ nào của Trung Hoa lẫn Việt Nam xem thiên nhiên là một tình yêu vĩnh cửu, một mối “tình yêu ruột thịt” trong sáng tác của mình. Nếu như nói Nguyễn Tuân của văn học Việt Nam theo chủ nghĩa “xê dịch” ở thời hiện đại, thì Lí Bạch ở đời nhà Đường có thể là những người đầu tiên, tiên phong theo chủ nghĩa “xê dịch” này và có những phát kiến nghệ thuật vô cùng tuyệt diệu trong thơ về mảng thiên nhiên trong cuộc du hành dài hạn.

   Lí Bạch yêu thiên nhiên say đắm, tuy số lượng bài về thiên có hạn chế nhưng có thể nói trong đó cả một tình yêu rộng lớn của ông dung nạp vào. Sáng tác thiên nhiên của ông luôn có hình bóng ánh trăng – người tình chung thủy nhất của bài Nguyệt hạ độc chước:

+ Cử bối du minh nguyệt,                 cất chén mời trăng sáng
   Đối ảnh thành tam thân.                Mình với bóng là ba.
+ Tạm bạn nguyệt tương ảnh           Tạm cùng trăng với bóng
  Hành lạc tu cập xuân.                    Chơi xuân cho kịp mà.
Ánh trăng là bạn của thi nhân trên mọi nèo đường, cùng ông sẻ chia những khoảnh khắc đẹp khi một mình đứng dưới bầu trời khuya. Khi đó thiên nhiên vũ trụ chỉ có ông làm nên cái hợp nhất Tạm bạn nguyệt tương ảnh.
    Trong Cổ lăng nguyệt hành, ông ví vầng trăng như một tấm gương sáng giữa bầu trời đêm tối soi lòng người. Như vậy, giá trị của thiên nhiên vũ trụ qua bàn tay nghệ thuật của ông đã biến từ cái tĩnh lặng già cõi ngàn năm thành cái bất diệt và trân quý.
Tiểu thì bất thức nguyệt,        Thuở nhỏ không biết trăng,
Hô tác bạch ngọc bàn.             Gọi là mâm ngọc sáng.
Hựu nghi Dao đài kính            Lại ngờ là gương ở Dao đài.
Những câu thơ dường như là lời tâm tình của trẻ con đầy hồn nhiên, trong sáng. Nhưng cái hồn nhiên này vô tình bật lên cái lộng lẫy của vầng trăng, cái “bất thức nguyệt” đó là khi chưa khám phá ra được hết ý tứ, tình cảm mà giữa ánh trăng và con người có tác động với nhau,.Trăng thì như chuẩn mực, là cái gương Dao đài – nơi Tây Vương Mẫu ở và nó soi vẻ đẹp của con người.
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,                  Quần ngọc đầu non không được thấy,
Hội hướng Dao đài nguyệt hạ phùng.                  Hẹn tới Dao đài gặp dưới trăng.
                                                                                                 (Thanh Bình điệu)

   Tóm lại, qua cách nhìn trong những bài thơ và đoạn thơ làm dẫn chứng cho thấy được quan niệm của họ Lí khi làm thơ về thiên nhiên luôn đặt vào các chủ đề riêng biệt lẻ loi (khi nó đươc sáng tác độc lập) vào trong cùng một đề tài sáng tác để cùng làm sâu sắc cho cái thiên nhiên vốn đơn điệu trở thành nơi cho ông dồn nén biến hóa và đầy mơ mộng ảo diệu. Thiên nhiên cũng lắm huyền diệu, cũng lắm hoang vu đậm chất tự nhiên ngàn năm (Thục Đạo nan) mà con người vẫn chưa khám phá hết. Qua một tình yêu vĩnh cữu, nồng nàn mà ông dành cho thiên nhiên và quan niệm mang tính chủ quan của Thi tiên vốn tính tình lãng mạn, phóng túng, ông tạo cho ông và tình yêu đó một không gian riêng tư đầy ánh trăng tình tứ giữa một “hoa gian” và “nhất hồ tửu”.

4.4.  Thiên nhiên trong thơ Lí Bạch phản ánh sâu sắc các phương diện tình cảm
4.4.1. Nỗi nhớ và tình yêu quê hương

   Với bài thơ Tĩnh dạ tứ này có lẽ quá quen thuộc với dân gian Trung Hoa, không chỉ trong phạm vi Trung Hoa mà nó còn lan sang Việt Nam ta rất nhiều. Xin nói thêm ngoại đề về trường hợp này, thường ở Trung Quốc, trong những khu du lịch văn hóa của địa phương nào đó có gắn với một nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa thì ở đó thường quà lưu niệm có vẽ hoặc in những bài thơ nổi tiếng của nhân vật đó lên phẩm vật lưu niệm. Ví như ở Tô Châu, nơi ra đời của bài thơ nổi tiếng Phong Kiều dạ bạc, thì quà lưu niệm ở đây như cây quạt giấy, bình gốm sứ đều có in tranh bến phong Kiều và bài thơ. Trương Kế sáng tác bài này khi đi thi trượt trở về ghé qua Tô Châu, tức cảnh mà sinh tình. Không những thế, nguyên tác bài thơ Phong Kiều dạ bạc sau này đã được Khang Hữu Vi đời nhà Thanh khắc trên tấm bia lớn dựng trong chùa Hàn Sơn để kỉ niệm giai thoại đẹp về bài thơ. Cũng qua mẫu truyện về bài Phong Kiều dạ bạc mà ta có cơ sở dễ dàng bắt nối với bài Tĩnh dạ tứ của thi Tiên họ Lí để thấy được rằng tình yêu quê hương đất nước của người Trung Hoa không chỉ thời Đường mà về sau này người ta vẫn giữ mãi. Cái giữ đó chính là trong một bài thơ, tình cảm đó được nén giữ trong một bài thơ ngũ ngôn chỉ 20 từ mà nó có độ tuổi bất diệt.
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
                                                        Đê đầu tư cố hương.

    Bài thơ có tựa đề rất đẹp là “tĩnh dạ tứ” tức là những suy nghĩ, những thổn thức trong đêm tĩnh lặng, trên trời ánh trăng tỏa sáng khắp nơi như một thứ ánh sáng lung linh huyền ảo chính trong khung cảnh thiên nhiên đó, ánh trăng là phương tiện chính làm cho ông trào dâng lên nỗi nhớ quê hương khi ông đang trong một trạng thái tịch mịch của màng đêm. Màng sương dày đặc ở nơi đất khách, hay chăng đây là một khách điếm, tửu quán nào đó trên đường viễn du dài hạn. Chủ đề bài thơ là trông trăng nhớ quê (vọng nguyệt hoài hương), thường thấy trong thơ cổ điển Trung Hoa.
Trong thơ của Tô Đông Pha thời Tống, thì ánh trăng là tấm gương soi rọi hình ảnh con đường nào là đường về quê nhà.

Xuân phong hựu lục Giang Nam ngạn,
Minh nguyệt hà thời chiếu ngã hoàn.
Dịch thơ: Giang Nam xuân lại xanh,
Đường về nào biết bao giờ trăng soi.
                            (Đào Trinh Nhất dịch)

   Phải chăng Tô Thức cũng là đồng hương với Lí Bạch cho nên mấy trăm năm sau, ánh trăng trong người con của tỉnh Tứ Xuyên ấy – Tô Đông Pha cũng lại dạt dào hình ảnh của quê hương Tứ Xuyên diễm lệ, của núi Nga Mi và dòng Bình Khương lặng lẽ chảy dưới ánh trăng đêm lấp lánh.

   Tuy vậy, cách thể hiện của Lí Bạch rất khác lạ. Với cách dùng từ đơn giản như sàng tiền, nghi thị, cử đầu, đê đầu, đó là những từ ngữ miêu tả những cử chỉ tuy bình thường, đơn giản chỉ là hoạt động ngẩng đầu; và cái hoài nghi nhưng rất chính xác “nghi thị địa thượng sương”. Trong không gian yên tĩnh của đêm trăng lung linh và màn sương phủ trên mặt đất ngoài song cửa khách điếm, Lí Bạch với bao tâm tư của một lữ khách viễn du mỗi khi “lạnh lùng gió vượt bể thu/ Hồn quê theo gió như vù vù bay”, nhưng khi người bạn tạm gọi là tri kỉ của Lí Bạch xuất hiện – vầng nguyệt cô đơn trong đêm – người bạn theo ông trên mọi nẻo đường đã nhắc ông hình ảnh trăng trên núi Nga Mi mà năm xưa chàng trai Lí Thái Bạch với bao khao khát hoài bão và giấc mộng kinh bang tế thế không thành sau thời gian “cung trung hành lạc” và cuộc binh biến An Lộc Sơn. Tất cả trôi qua thì đầu ông đã tuyết phủ, năm tháng trôi đi trên mọi nẻo đường thi Tiên đã in dấu chân qua, nhưng có lẽ số lần ông về quê nhà thì quá ít ỏi. Ánh trăng đêm ấy đã gợi nhớ cho ông về quê nhà, nơi tuổi trẻ mà ông từng ẩm tửu vọng nguyệt. Bằng cái kỉ niệm trong không gian lãng mạn ấy, Lí Bạch trong hồi ức khiến cho những ai xa quê cũng phải mũi lòng trước màng sương lạnh lẽo, ánh trăng nhắc nhở đó thì cao vời vợi.

   Tình yêu quê hương là tha thiết, bồi hồi như vậy, và cũng chính tình quê hương đã hun đúc cho Lí một tình yêu nước tự nhiên nhất. Trong bài “Thu tịch lữ hoài”, từ cái bữa tối mùa thu ấy, cái nhớ nhà ấy khi thi nhân đang có liên can đến sự kiện Vĩnh Vương Lí Lân, Lí Bạch bị tội lưu đày ở Dạ Lang.

(…)Phương thảo yết nhu diệm --dịch thơ-- cỏ thơm đẹp ướt thôi rồi,
Bạch lộ thôi hàn y                                        Áo may mặc rét giục người móc sa
Mộng trường Ngân Hán lạc                        Giấc mơ rơi giải Ngân Hà,
Giác bãi thiên tinh hy                                  sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.
Hàm bi tưởng cựu quốc                               Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,
Khấp hạ thùy năng huy                               Khóc rơi giọt lệ lau chùi đố ai? -                        
                                                                                   (Tản Đà dịch)

   Như trong phần trên đã nói, cả đời Lí Bạch theo chủ nghĩa xê dịch chỉ lúc ông ở thành Trường An, sống trong cung giữ chức Hàn Lâm học sĩ phục vụ triều đình. Mùa thu đã đến cộng thêm những cơn gió rét lạnh lùng vượt bể thu làm cho “Tâm đoạn minh nguyệt huy” ( đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi), và cũng có thể lúc này ông cũng chợt nhận ra rằng cuộc nhân sinh chẳng khác gì một giấc mộng lớn (Nhân sinh nhược đại mộngNghĩ cổ). Cuộc đời tưởng chừng như khép lại trong vùng Dạ lang khắc khổ trong cảnh lưu đày, mà thân thế thì chẳng ra chi. Ông tiếc thương cho cả một cuộc hành trình dang dở và ôm giấc mộng không thành với lí tưởng chính trị lớn lao. Trước cuộc binh biến An Lộc Sơn, vua Đường vì binh biến mà bỏ trốn khỏi kinh thành cũng đủ làm cho ông nhỏ giọt lệ cảm hoài. Đỗ Phủ cũng là một người có lòng yêu dân, yêu nước thiết tha nhưng đôi khi giọng thơ của ông lại không thể hiện được cái khí khái của một người ôm mộng cứu quốc mà chỉ là lời than vãn trước cảnh biên thùy máu chảy:

                                                Ngoài biên máu chảy đỏ,
                                                Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ.

                                                                 (Binh Xa hành)

   Còn Lí Bạch, sau quãng đời viễn du như một “giấc mơ rơi giải ngân hà” thì chạnh lòng cho hồn nước cũ, tiếc cho thời thịnh trị như Đỗ Phủ đã tả “ấp nhỏ có vạn nhà/ lúa gạo có nhiểu trắng xóa”, giờ thì chỉ khoanh tay đứng nhìn:

Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,
Khóc rơi giọt lệ lau chùi đố ai.

    Bằng những thủ pháp miêu tả rất tài tình, chỉ với hướng thơ gợi nhưng không tả, nói về cảnh vật đề gửi gấm tình ý. Thiên nhiên trong thơ Lí Bạch đã mang trọng trách thiêng liêng, thiêng liêng là có thể gợi nhắc cho ông nhớ về quê cũ. Đặc biệt, ánh trăng không chỉ là người bạn đồng hành mà còn là tấm gương chiếu rọi lại cảnh vật quê nhà cho thi nhân trong lúc cô đơn, lúc đứt tươm khúc ruột khi gió thu thổi lạnh và khơi gợi nên mối tình non nước, cố quốc xa xôi.

4.4.2. Trong tình yêu

   Thơ Đường là tinh hoa của văn học Trung Quốc, là thành quả rực rỡ của một thời đại văn chương có một không hai không chỉ với Trung Quốc mà với toàn thế giới. Lí Bạch là nhà thơ có một tâm hồn phóng khoáng, chính vì thế nên ông thích “rày đây mai đó” chứ không ngồi yên một chỗ bao giờ. Từ đó mà trong thơ ông luôn hiện hữu màu sắc của thiên nhiên cảnh vật ẩn chứa vào đó là cả một tâm hồn to lớn, chứa đựng nhiều chân lí sống. Ông làm thơ mọi lúc mọi nơi và cả trong khi đang say rượu. Nói đến thiên nhiên trong thơ Lí Bạch ta không thể quên được những cảnh thiên nhiên trong nhiều bài thơ như: Tĩnh dạ tứ, Xuân tứ, Vọng lư sơn bộc bố, quan sơn nguyệt… Tất cả đều nói lên được những nỗi tâm tư của Lí Bạch về quê hương đất nước, tình yêu vợ chồng, đôi lứa và cả tình tri kỷ. Tình yêu trong thiên nhiên thơ Lí Bạch là tình yêu của kỹ nữ, của người chinh phụ chờ chồng… Đối tượng khác nhau nhưng vẫn toát lên tình yêu giữa người với người. Cụ thể là qua những vần thơ trong Xuân tứ của Lí Bạch:

Yên thảo như bích ty,              Dịch thơ: Cỏ Yên như sợi tơ xanh,
Tần tang đê lục chi.                                Dâu Tần xanh ngắt rủ cành sum suê.
Đương quân hoài quy nhật,                    Khi chàng tưởng nhớ ngày về,
Thị thiếp đoạn trường thì.                      Chính là khi thiếp tái tê nỗi lòng.
Xuân phong bất tương thức,                  Gió xuân ai biết chi cùng,
Hà sự nhập la vi ?                                  Cớ sao len lõi vào trong màn là.
                                                                    (Tản Đà dịch)

   Bức tranh khắc họa mùa xuân của nước Tần, người chồng nơi biên thùy xa xôi, tức cảnh sinh tình, ngày đêm nhung nhớ người vợ tại quê nhà chờ đợi ngày đoàn tụ. Ngày xuân trên quê hương, cây dâu đã đâm chồi nãy lộc, cành dâu đã sát mặt đất. Trước cảnh cỏ non én lượn, người chồng tưởng tượng đến cảnh chứng kiến vợ nhớ chồng đến nỗi nẫu gan đứt ruột. Màn the bị con gió đưa đẩy làm cho tâm trạng người chinh phụ lên đến tột đỉnh, thể hiện được tình yêu chung thủy của đôi vợ chồng trong thời cuộc bấy giờ.
Thiên nhiên trong thơ Lí Bạch ở đây chính là hình ảnh xuân. Xuân trong Xuân tứ là bốn mùa thương nhớ với người thiếu phụ bốn năm chờ chồng mà người chồng đi đâu, làm gì không ai biết được chỉ biết được rằng trong tấm màn che, người thiếu phụ chẳng tha thiết gì đến bốn mùa đi qua hay lại đến.

  “Yên thảo như bích ty”- cảnh vật cỏ xanh nước Yên hay “Tần tang đê lục chi”- dâu tằm màu thẳm nước Tần là những cảnh vật hiện lên một màu xanh của cây cỏ vô tri, nhưng dưới cái nhìn buồn sầu của con người nó dầu vô hồn nhưng cũng đầy buồn man mác. Cảnh trong mơ là mong chờ ngày hội ngộ.

“Xuân phong bất tương thức”

    Hóa ra Xuân phong bất tương thức như một ngọn gió vô tình mà lại hữu tình đã mang gió xuân theo xuân về lay mành chinh phụ nhưng nàng cố làm vẻ không quen, không biết, không cảm tin có một người từ nơi xa xôi sắp trở về cho kẻ khuê phòng bớt thôi đau lòng đứt ruột “đoạn trường thì”. Màu xanh trong Xuân tứ của Lí Bạch là xanh của chờ đợi, của mơ ước, của khao khát và cả lòng chung thủy của người chinh phụ.
    Mùa xuân của thơ Đường với từng cơn gió thổi vào lòng người những nỗi tê tái vì cách xa, vì thời cuộc nhưng vẫn xanh trên cỏ bạc ngàn, hoa vẫn nở rung rinh trong gió thổi, tiếng chim vẫn hót rộn ràng cũng đi vào chiều dài của lịch sử.

4.4.3. Trong tình bạn

    Con người luôn có những kỉ niệm và khi nhìn những sự vật có liên quan cũng làm cho ta bồi hồi nhớ lại. Nhìn cảnh vật thiên nhiên lầu Hoàng Hạc gợi lại cho Lí Bạch nhớ ngày tiễn biệt “cố nhân”.

“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường giamg thiên tế lưu.”

    Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” ghi lại một kỉ niệm sâu sắc tại lầu Hoàng Hạc, Lí Bạch tiễn Manh Hạo Nhiên đi về Quảng Lăng, qua đó nên tình lưu luyến, thương nhớ bạn.

    Nơi đưa tiễn là phía Tây lầu Hoàng Hạc, một thắng cảnh thuộc Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Nhắc đến lầu Hoàng Hạc làm ta liên tưởng nhớ đến huyền thoại Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên, cưỡi hạc vàng bay về nơi này. Hay làm ta nhớ đến bài thơ Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu, có đoạn:

                                           “Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ.
                                            Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
                                            Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
                                            Bạch vân thiên tải không du du”.

Tương truyền rằng Lí Bạch khi đến Hoàng Hạc định làm bài thơ đã thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng:

                                         “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
                                         Thôi Hiệu đề thi tại thượng đẩu…”

Nghĩa là: Trước mắt cảnh đẹp, nhưng không thể tả, (Bởi vì) Thôi Hiệu đã đề thơ trước rồi.
Mở đầu bài thơ, hình ảnh “cố nhân” đã phần nào nói lên được mối quan hệ sâu sắc, lâu bền về tình bạn đẹp giữa Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên.

                                      Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

   Trong thơ cổ từ “cố nhân” xuất hiện là gợi tả bao tình nghĩa rung động hồn người.Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào một ngày tháng ba “tam nguyệt” mùa hoa khói “yên hoa” xuôi về nơi phồn hoa Dương Châu- một trong những đô thị đẹp nhất và nỗi tiếng thời Đường.
                                    yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu.

    “Yên hoa” là một thi liệu, nghĩa là khói hoa - một ẩn dụ giàu chất thơ mà ta gặp nhiều trong thơ Đường. Lầu Hoàng Hạc và Dương Châu như cách xa ngàn dặm đằng sau sự xa cách ấy chính là cả một nỗi niềm, một trời thương nhớ biệt ly của tình bạn thân. 
Hai câu thơ trên chính là linh hồn của cả bài thơ, giãi bày sâu sắc, cảm động của nhà thơ đối với tri kỉ. Dòng sông, cánh buồm, bầu trời là những cảnh vật của thiên nhiên. Làm ta chợt thấy hình ảnh Lí Bạch đứng mãi nhìn theo con thuyền đưa bạn cũ đi xa, cánh buồm đơn côi, lẻ loi xa dần, mờ dần “viễn ảnh” rồi mất dần vào bầu trời xanh “bích không tận”.

   Trần Xuân Đề trong đã từng nhận xét về hình ảnh ấy: Con sông sẽ trở nên rộng bao la khi cái hữu hạn của nó đồng nhất với cái vô hạn của bầu trời. Chiếc thuyền buồm lẻ loi chở Mạnh Hạo Nhiên đã tan biến trong dòng sông bao la đó mang đi tình bạn của Lí Bạch. Dòng sông càng rộng, chiếc thuyền buồm càng nhỏ mất hút vào khoảng không gian vô tận. Rõ ràng, sau khi tiễn bạn lên đường, Lí Bạch dừng lại khá lâu dõi mắt nhìn theo chiếc thuyền buồm lẻ loi đến tận chân trời xa tít. Lí Bạch mượn cái khung cảnh thiên nhiên sau buổi tiễn đưa để nói lên tình cảm nhớ bạn da diết. Lí Bạch tả về cái buồn của sự li biệt, nhưng vẫn giữ được phong cách phóng khoáng khi ông miêu tả cái hùng vĩ của thiên nhiên”. Quả đúng như vậy!

   Lúc bấy giờ trên con sông Trường Giang suốt đêm ngày thuyền bè ngược xuôi tấp nập thế mà Lí Bạch “duy kiến” chỉ nhìn thấy “cô phàm” của bạn. Chỉ sống với một tình bạn tri âm, thắm thiết thi mới có cái nhìn “duy kiến” ấy. Trong không gian bao la của lưu vực con sông Trường Giang – một trong những con sông lớn nhất của Trung Hoa, nơi mà các tàu thuyền của các thương buôn tấp nập vào thời Thịnh Đường phát triển nhất, thì chẳng thể nào chỉ có chiếc thuyền con nhỏ nhoi của Mạnh tiên sinh được, nếu chăng ta nhớ lại trong truyện Kiều của Việt Nam thì lúc Kiều ở lầu Ngưng Bích cũng trước một dòng sông rộng, cô đơn và chỉ thấy một “thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”. Nhưng ở đây Lí Bạch đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng làm sao chỉ thể duy kiến được, chăng là hình ảnh mơ hồ sao? Không phải như vậy, bằng nhãn quan và thi nhãn ẩn hiện trong thơ Đường thì cái cánh buồm lẻ đó là phản chiếu lại trong tâm thức của nhà thơ về người bạn họ Mạnh kia. Mạnh Hạo Nhiên tuy kết giao với Lí Bạch nhưng số lần gặp ông thì không nhiều, cho nên trong Lí Bạch vẫn tồn tại hình ảnh về người bạn thơ, bạn rượu kia có chăng là rất mờ nhạt. Sau phút chia li ấy, không biết bao giờ gặp lại cho nên vừa thổn thức vừa tiếc nuối mà ông chỉ nhìn thấy chiếc buồm con cô độc đang trôi xa trên dòng Trường giang bát ngát và thuyền bè tấp nập. Cánh buồm đó chăng là biểu tượng đại diện cho người bạn thân của ông trên đó.

   Bài thơ đã phản ánh một tâm hồn ðẹp, một tình bạn của Lí Bạch, cũng là của những tao nhân mặc khách đời Đường. Bài thơ lấy cấu trúc không gian xa - gần (cận - viễn), lấy ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm, ngôn ngữ trang nhã, gợi cảm, hàm xúc... đó là những yếu tố nghệ thuật tạo nên vẻ đẹp văn chương và cốt cách của bài thơ này.

4.5. Nỗi niềm hoài cổ với những bài thơ vịnh sử và các truyền thuyết dân gian được tạo dựng trên nền thiên nhiên rộng lớn.

   Cái mộng hiệp khách của Lí Bạch cả đời căng tràng như cái cá tính của ông, chống kiếm viễn du, uống rượu làm thơ thưởng ngoạn. Đi đến đâu là vung túi thơ, rượu bầu để lại dấu ấn cho dân gian ở đó về sau. Về một “tửu trung tiên” nức tiếng. Bài “Đăng kim lăng Phượng hoàng đài”, sáng tác khoảng vào năm Thiên Bảo thứ 6 – 747, nói về đài Phượng hoàng ở phía tây thành Kim Lăng, Nam Kinh. Toàn bài này có chút hao hao giống như Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, theo truyền thuyết Lí Bạch làm bài này với ngụ ý đọ với Thôi Hiệu về bài Hoàng Hạc lâu.

    Ngay từ đầu đề của bài thơ, câu thơ đầu đã dẫn về truyền thuyết của đài Phượng hoàng, câu dưới thì nói về nỗi niềm khi chim Phượng đã bay đi:

Phượng hoàng đài thượng, Phượng hoàng du,
Phượng khứ, đài không, giang tự lưu.

   Thật thần kì, ở hai cậu đầu của bài này mang màu sắc như trong cổ thi, 14 chữ của hai câu đầu thì có 3 chữ phượng; 2 chữ đài mà không lặp lại. Âm tiết rất thông thoáng, thả hơi ra đi vào luật cú pháp của cổ thi rất thần kì. Trong hai câu đầu đề bài thơ cũng đã gợi nên một sự tích tương đương như “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu, đó là câu chuyện tương truyền về chim Phương Hoàng. Theo sách Lục Triều Tích sự, khoảng năm Gia Nguyên đời nhà Tống (424-425), nhân sự kiện người ta nhìn thấy có chim ngũ sắc bay về đậu ở thành Kim Lăng và cho đó là chim Phượng hoàng. Nhân sự kiễn đó mà người ta dựng nên Phượng Hoàng đài để kỉ niệm loài chim quý này. Qua chi tiết này, cho ta thấy được cái mộng với tâm tình hoài cổ của Lí Bạch thật nặng nề. Không gian và khung cảnh hoang tàn của Ngô triều thời Tam Quốc còn sót lại; cái đài chim Phượng vắng teo hiu quạnh, bao nhiêu đó cũng đủ gợi nên mối sầu viễn vọng. Ông chứng tỏ ra mình không chỉ là một ngườ nặng nợ hoài cổ với lịch sử mà còn là người trĩu nặng với thiên nhiên, chim thú. Như chúng ta biết, những loài chim thú trong truyền kì Trung Hoa rất đa dạng và thú vị, hầu như không có thật. Đặc biệt là loài rồng và chim phượng, nhưng hình ảnh hai con vật này hầu như có mặt khắp trong các đền miếu và trong hoàng cung – biểu tượng cho vua và hoàng hậu. Và việc loài chim này xuất hiện trong câu thơ của Lí Bạch chứng tỏ rằng Lí Bạch rất đặc biệt quan tâm đến các câu truyện lưu truyền trong dân gian và đặt vào nó một niềm cảm hoài nặng nhọc.

  Thiên thiên của vùng đất Kim Lăng khi xưa là kinh thành của các đế vương nước Ngô khi xưa cư trú thời Tam quốc, sau này là Đông Tấn và Tề, Lương đều ở đó. Đi vào phân tích, ta thấy các hình ảnh hoa cỏ dần hiện ra dưới chân đài Phượng hoang liêu, u tịch.

Ngô Cung hoa thảo mai u kính

   Trong cung Ngô đó, khi xưa cung vàng điện ngọc tấp nập thị vệ, quân đội,… giờ thì phải nhường chỗ cho những thứ thực vật tầm tường thấp kém, đó chỉ là hoa thảo (bông, cỏ) lơ thơ, vi vu nhè nhẹ trước cơn gió. Không lãng mạn mà cũng không gợi hồn. Hoa cỏ đó có phải là những gì tàn tích của vương triều Ngô chăng. Nhớ lại khi xưa, dưới ánh trăng đêm thanh vắng trong cung vua Ngô Đế tấp nập tiếng nhạc, tiếng múa hát của cung nữ. Trong đó đặc biệt là:

Cô Tô đài thượng ô thê thì 
Ngô vương cung lý túy Tây Thi
                                     (Ô thê khúc )

Trong cái đêm ca vũ ấy, có sự góp mặt của một nhân vật đặc biệt – Tây Thi – một trong tứ đại mĩ nhân của Trung Hoa, người khuynh đảo cả triều vua. Trong câu thơ những từ như “Túy” (say), “cung lí” (trong cung) vua Ngô trong cung hành lạc, ngoài màn đêm kia là tiếng quạ chập chờn trong trăng sáng. Các hình ảnh của tự nhiên này được Lí Bạch ghép vào không gian thật có chiều, đó là chiều rộng của một cố đô một thời truy hoan của vua chúa, một mỹ nhân làm khuynh quốc khuynh thành. Một bài thơ khác ông miêu tả riêng về nàng Tây Thi:

Phong động hà hoa thủy điện hương, -Dịch thơ- Gió lộng hồ sen ngát điện hương,
Cô Tô đài thượng yến Ngô Vương.                     
Cô Tô vui mở tiệc Ngô Vương.
Tây Thi túy vũ kiều vô lực,                                   Tây Thi say múa thân mềm mại,
Tiếu ỷ đông song bạch ngọc sàng.                        Cười tựa bên song ngã xuống giường.
                                                         
                                                (Ngô Vương vũ nhân bán túy - Trần Trọng San dịch)

   Nói về người đẹp là cả một mảng đề tài phong phú của các thi nhân đời Đường, và đặc biệt là trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa xưa thì rất nhiều giấy mực đã hao tổn về điều này. Tây Thi thì không chỉ Lí Bạch mà còn có Vương Duy (bài Vịnh Thi Thi), cho thấy sức ảnh hưởng của người đẹp không chỉ đến chính trị triều đình mà còn đến các nhà thơ, ngay trong thời Lí Bạch thì cũng có một mỹ nhân nằm trong danh sách Tứ Đại – Dương Ngọc Hoàn, phi tần của Đường Minh Hoàng. Bằng những gì tinh túy, hình ảnh và không gian lãng mạn nhất của thiên nhiên Trung Hoa, thơ tả về mĩ nhân của Lí Bạch thường có hoa, hương, điệu múa hát. Trong bài viết về Dương Quí Phi, có câu:
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,             Mây hay xiêm áo, hoa hay mặt,
Xuân phong bất hoạn lộ hoa nùng.                  Sương điểm hoa, lất phất gió xuân.
 đó coi như là những nguyên liệu đắt đỏ nhất để tả người đẹp. Ngay câu đầu bài thơ trên đã mở ra một khung cảnh gần giống như Hồ Tây ở thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang với những cánh sen hồng tinh khiết trong sương sớm và lãng đãng hương lúc chiều tà lộng gió: Phong động hà hoa thủy điện hương. Bên cái hồ sen tuyệt đẹp ngan ngát hương ấy, vua Ngô mở yến nhân thưởng nhìn khúc vũ điệu của Tây Thi đắm đuối mà không ngời sau này tương lai của triều đại chỉ nằm vỏn vẹn trong câu thơ của Lí Bạch:  Ngô cung hoa thảo mai u kính/ Tấn đại y quan thành cố khâu. Cũng chính câu thơ lấy cái kết của triều đại ấy cũng được tạo dựng trên nền thiên nhiên hoang vắng đối lập với cái cảnh thiên nhiên đương thời của nhà Ngô.Thiên nhiên trong trường hợp này cũng rất đặc biệt, mọi vật đều im ắng, ngay cả khi đó chỉ là một phế tích hoang tàn đổ nát. Ngày trước cung vua, ngự hoa viên của nước Ngô thật hoành tráng, đâu giờ chỉ còn trơ cái mộ phần cổ xưa, chôn lấp cả triều đại huy hoàng.

    Trở lại với cảnh trí của đài Phượng hoàng, thì trong câu đầu cảnh vật nhìn từ xa ba ngọn núi ngoài thành Kim Lăng, bến bờ con sông Trường giang liền kề với nhau. Trong “Nhập Thục kí” (bài kí khi vào đất Thục) có ghi chép: 

Ba ngọn núi từ mỏm đá nhìn đài Phượng hoàng dùng tai nghe ước chừng cách Kim Lăng năm mươi dặm.” Thiên nhiên ở đây chính là “Tam sơn quần” (ba ngọn núi kiền nhau), và Bạch lộ châu nằm giữa sông Trường giang. Vì châu này rất nhiều cò trắng đến đậu, đó là một cảnh trí rất bắt mắt, đẹp tựa tiên cảnh mà trong bài thơ làm riêng về châu này Lí Bạch có viết:
Bạch lộ hạ thu thủy,
     Cô phi như trụy sương.
Độc lập sa châu bàng
                            (Bạch lộ tư)

Dịch nghĩa: Con cò trắng đáp xuống làn nước mùa thu/ Bay một mình như cụm sương rơi/Một mình nó đứng giữa cù lao.
    Và những câu thơ cuối của bài Đăng Kim Lăng Phượng hoàng đài như tả một mối tình u uất hoài cổ, tả cảnh xinh đẹp của núi sông cuối cùng là mối lo lắng chẳng cách nào báo đáp nước nhà. 

                                                 “Tổng vị phù vân năng tế nhật,
                                                  Trường An bất kiến sử nhân sầu”.
Dịch thơ:                                    Chỉ vì mây nổi che vầng nhật,
                                                 Chẳng thấy Trường An não dạ người.
                                                              ( Khương Hữu Dụng dịch)

     Cả bài thơ là nói lên tình cảm thâm trầm, về thanh điệu thì có sự hao giống như cổ thi – rất kì diệu nhưng lải có thể kích động. Tả cảnh xinh đẹp của núi sông cuối cùng là mối lo lắng cho đất nước, mà cũng vừa thương cảm cho những gì đã đi qua. Cuộc đời tung hoành của Lí Bạch thật thú vị, giấc mộng hiệp khách của ông cũng thật thú vị. Bằng giấc mộng hiệp khách mà ông thỏa mãn nỗi niềm cảm hoài, hoài cổ để lại trên từng bước chân du lãng của ông, và cũng từng bước chân du lãng ấy để lại trên bức thư biểu Đường Thi đầy hoa cỏ thiên nhiên bát ngát, đậm sắc màu cổ điển.

4.6. Thơ Lí Bạch miêu tả thiên nhiên là sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc và hội họa
4.6.1.     Sự hài hòa âm điệu tạo nên nhạc tính

    Nhạc tính, âm điệu trong thơ của Lí Bạch rất uyển chuyễn và súc tích, có bài nhạc tính mang trường độ ngắn; có bài thì dài hơi ngân nga thoải mái. Để tham gia làm nên hài hòa âm điệu của thơ ông yếu tố thể thơ rất quan trọng, và như ban đầu trình bày về thể cổ phong thì thể cổ phong rất hợp với hồn thơ lãng mạn của ông, thoải mái không câu nệ về bằng trắc, niêm luật số câu,…
Theo Ức Hiền Tạo trong bài viết “Thơ cổ phong của Lí Bạch” thì hầu hết thơ Lí Bạch hào phóng thiên dật, nhưng cổ phong của ông thì lại bình dị, tỏ rõ phong cách thơ ca của Lí Bạch thật đa dạng.
   Bài Tương tiến tửu của Lí Bạch làm vào khoảng mùa thu năm Khai Nguyên thứ 22, là một trong những kiệt tác của thơ ca Lí Bạch, ông làm bài này khi uống rượu cùng với Nguyên Đan Khâu, khi ông ở Trường An.
Bài thơ lấy cái thế cuổng phóng, dùng những câu dài làm kinh động lòng người, hát những lời cảm khái sâu xa.

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Dịch nghĩa:
Anh chẳng thấy nước sông Hoàng hà từ trời tuôn xuống,
Chảy nhanh ra bể chẳng quay về.

   Ngay trong câu đầu, một cảnh tượng hùng tráng bày ra trước mắt. Con Sông Hoàng Hà hùng vĩ ầm ầm chảy bằng chín âm thanh trong câu thơ có 9 chữ, mỗi chữ như chứa đựng một năng lượng riêng nhất định tạo nên cái thanh âm hùng tráng cho sức chảy con sông. Đây đổng thời cũng là một cậu hỏi “quân bất kiến”, và phải chăng đây là một câu hỏi không lời đáp. Xét về mặt nghĩa câu thơ thì nó nêu lên một quan niệm nhân sinh rất “Đạo”, biểu hiện cho tư tưởng thuận theo tự nhiên của Đạo Giáo: đời người thì ngắn ngủi, qua nhanh như con nước sông Hoàng Hà chảy mạnh qua thác ghềnh trong cái thiên nhên hùng tráng, trôi ra biển cả cuốn phăng hết mọi thứ trên đưởng mà nó đi qua. Hai câu thơ đầu như bổ sung cho nhau, khí thế hào phóng, định vị được chủ thi luật rất cuồn phóng của những câu thơ sau.
 Về âm lượng thể hiện trong thơ thì âm lượng được phóng hết cỡ, hết tầm với tần suất âm thanh vang vội, tưởng chừng như nhà thơ đang gào to:

Chủ nhân hà vị ngôn thiểu tiền,
Dịch nghĩa:                             Kính tu cô chủ đối quân chước.
(Chủ nhân cớ sao lại nói ít tiền,
Mua rượu mau để ta chuốc chén cùng bạn)
  Chủ nhân hà vị ngôn thiểu tiền, đó như một câu hỏi sao nghi Thi Tiên trong túi ít tiền? có thể đó là một câu nói bông đùa vui vẻ, nhưng đồng thời cũng là khẳng định tính khảng khái phóng túng của ông không hạn chế tiền bạc, chấp tất cả đề thi nhân cùng hòa mình vào rượu, vào thơ hát những khúc hát tiêu dao sang sảng.
Bài thơ có tiết tấu rõ, nhanh, tiêu biểu như đã dẫn ra 4 câu thơ tiêu biểu làm ví dụ; hình thức thì câu dày rậm rạp; âm luật nhảy nhót, bộc lộ tình cảm tràn đầy khi lúc say rượu của nhà thơ tuôn ra những vẩn thơ tự do nhất. Nhưng dù say hay tỉnh, thì nền thiên nhiên vẫn là màu nền, âm nền để Lí Bạch viết nên khúc nhạc “Tương tiến tửu” uyển quặc, chao nghiêng nhưng sảng khoái lạ kì.
   Bỏ qua chất giọng hào sảng của thi nhân khi say rượu, đến với một giọng thơ khác – một điệu nhạc mang chất “hoài cổ” rất hợp với khung cảnh thiên nhiên hoang tàn trong những bài thơ cùng đề tài vấn vương hoài cổ. Bài Tô Đài lãm cổ

Cựu uyển, hoang đài dương liễu tân,(1) ---Dịch thơ---Đài hoang vườn cũ liễu còn tơ,
Lăng ca thanh xướng bất thăng xuân.(2)                      Dìu dặt lăng ca giọng gió đưa.
Chỉ kim duy hữu Tây giang nguyệt,   (3)                       Nay chỉ Tây giang vừng nguyệt tỏ,
Tằng chiếu Ngô Vương cung lí nhân.  (4)                     Từng soi người ngọc điện vua Ngô.
                                                                                                              (Tùng Vân dịch)
Xét theo luật của thơ thất ngôn tuyệt cú thì nhạc điệu của bài này vừa uyển chuyễn nhưng hơi buồn vì cảnh vật quá cô đơn, hoang tàn.

               Câu thơ (1), mở đầu với chữ thứ hai, chữ sáu mang dấu thanh hỏi và ngã. Hai sự đối xứng về thanh điệu này tạo nên cái hài hòa cân bằng trong cách ngân nga của âm Hán Việt. Nếu chúng ta thử đọc hai từ “uyển” và “liễu” gần nhau thì giữa khoảng dấu thanh hỏi và ngã sẽ có một sự kiến tạo nên âm vực rất mềm mại: Uyển liễu.
               Trong khi đó, trong âm đọc Hán Việt của ta thì nhiều nhà nghiên cứu Việt – Trung cho rằng nó phản ánh diện mạo ngữ âm Trung Hoa dưới thời nhà Đường, nhưng hiện nay cái diện mạo ngữ âm thời Đường đó không còn nữa mà thay vào hệ âm chính thức (Quốc ngữ âm) âm Phổ Thông chỉ có bốn dấu thanh là âm (yīn), dương (yáng), thượng (shǎng), khứ (), thì số lượng âm tiết giảm đáng kể làm kém duyên cho một bài thơ hay nếu ngân nga. Nhưng thay vào đó, người Trung Quốc có cach cảm nhận theo đặc điểm ngữ âm riêng biệt của họ.
               Các câu (2); (3); (4) thì thanh điệu theo luật nhưng không tiện phân tích thêm bởi vì mỗi quốc gia, mỗi thời kì thì có những âm đọc khác nhau. Sở dĩ âm Hán Việt rất thích hợp cho thơ Đường luật là vì nó chỉ giới hạn và hạn định ở Việt Nam ta, nhưng so với âm Phổ Thông của Trung Quốc thì âm của nước họ tiết tấu nhanh hơn, ngắn gọn và trường độ dài, không có âm cụt. Riêng âm đọc Hán Việt thì tạo nên nhạc tính rất cao, bởi vì tiếng Việt ta rất giàu chất nhạc.
   Qua sự đối sánh này, để chúng ta nhìn thấy được diện mạo ngữ âm đôi nét của thơ Đường khi nó sống trên đất Việt Nam và chịu ảnh hưởng ít nhiều trong tiếng Việt. và nhạc tính mà âm Hán Việt tạo ra cho thơ Đường một khí thế trang trọng rất hiệu quả.

4.6.2. Thiên nhiên mĩ lệ như một bức họa sinh động

Tương kiến thời nan biệt diệt nan,
Đông phong vô lực bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ty phương tận,
Lạp cự thành hôi lệ thủy can.
                                  (Vô đề - Lí Thương Ẩn)
   Mở đầu phần này xin được trích dẫn bốn câu thơ đầu của bài Vô Để của Lí Thương Ẩn, là vì nhóm chúng tôi tìm hiểu trong quyển Lí luận và phê bình văn học bài viết Tính mơ hồ đa nghĩa của văn học và lấy bài thơ trên dẫn chứng cho những hình ảnh tượng trưng ước lệ trong thơ Đường cũng như trong thơ Lí Bạch về mảng thiên nhiên phong cảnh. Trong bốn câu thơ trên, những hình ảnh gợi nên sự vật thiên nhiên rất cụ thể, nhưng xét từng thành phần thì nó chỉ gợi – tạo cảm giác mơ hồ, như Đông phong; bách hoa; đáo tử ty phương tận; lạp cự thành hôi.. Đó chỉ là những ước mơ suốt đời, chừng nào còn tằm hãy còn tơ, chiếc nến chưa tàn lụi. và nhiều nhà thơ chú giải thơ Đường đều nói bài Vô đề không thể giảng giải cụ thể, xác định được.
   Trở lại với hình ảnh tượng trưng là mơ hồ nhất, bởi ở đó cái cá biệt biểu thị một nội dung lớn lao. Trong các phong cảnh thiên nhiên mà trong thơ Lí Bạch phản ánh rất nhiều hình ảnh tượng trưng đó, gợi nhưng không tả và nhìn ở góc độ nghệ thuật thì nó rất có mối liên hệ với nghệ thuật thư họa của Trung Hoa. Bốn cái tài lớn trong quan niệm của Trung Hoa biệu thị trong con người là cầm, kì, thi, họa, thì ở Lí Bạch chỉ có thi, ngoài thi ra có thể còn có thêm ba yếu tố còn lại, nhưng giữa cái thi của Lí Bạch thì mối quan hệ với họa rất gần gũi, như tạo một tiền đề cho nghệ sĩ đời sau sáng tác họa, rất nhiều bài thơ của ông được các danh họa đời sau vẽ thành tranh minh họa đề thơ. Xin phân tích khung cảnh thiên nhiên trong một số câu của vài bài để làm sáng tỏ nên vấn đề này.
Nguyệt hạ độc chước - Bức tranh thiên nhiên lãng mạn trong những cuộc say của thi nhân dưới ánh trăng đêm huyền diệu.
Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân.
   Hai câu thơ trên trong bài Nguyệt hạ độc chước (một mình uống rượu dưới trăng), mở ra một con đường dẫn vào thế giới của ánh trăng đêm huyền diệu. Vén bức màn để ngắm nhìn bức tranh đầy trăng đó là cả một không gian mĩ lệ. Ở đây, từ hoa gian có nghĩa là vườn hoa; hồ tửu là bình rượu. Những nét phác thảo của bức tranh “quốc họa” dần lộ ra với chất liệu vừa thiên tạo mà cũng vừa nhân tạo, cả hai sự kết hợp này tạo nên cái chất “thiên nhân hợp nhất” trong thơ Lí Bạch. Bức tranh tĩnh vật dần hiện ra khi nhà thơ vẽ ra một không gian đẹp và một tĩnh vật gợi cảm. Hoa gian hồ tửu. Hai vật thể này, một cái là chất tạo nền bao trùm trong đó có phân tầng rõ rệt: trên thì có minh nguyệt, dưới thì có bình hồ lô tửu và hình ảnh nhà thơ đang độc ẩm dưới ánh trăng khuya sau hàng cây phong hiu hiu gió. Người đời sau tôn Lí Bạch là ông tiên rượu, nếu nhìn vào bức tranh đó quả chẳng khác nào một hình ảnh lãng mạn đầy cá tính của Thái Bạch đang uống rượu, làm thơ; tay vung bút, vung chén rượu “cử bối du minh nguyệt”.
    Ba chữ nhất hồ tửu gợi nên cảm giác đơn điệu độc chước rất khẳng định vô tương thân, hay nói tâm tình cô đơn trống trải. bài thơ vẽ nên bức tranh hình tượng sinh động thơ mà còn ca múa, lúc tỉnh, say đều không rời được ánh trăng hình ảnh:
Ngã ca nguyệt bồi hồi,
Ngã vũ ảnh minh loạn.
Đặc biệt, chất thi họa trong bài thơ biểu hiện ở chỗ dù say khước nhưng vẫn giữ tinh thần, quan niệm “Thiên nhân hợp nhất”, giữa người và trăng hòa hiệp cùng nhau, tạo nên đôi tri kỉ khó phân tách: Cử bối du minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam thân; Ngã vũ ảnh minh loạn/ tỉnh thời đồng giao hoan. Chi tiết này vừa tạo cho bức tranh có màu chủ đạo và cố định.
Vầng trăng là cái bất tử của vũ trụ, là cái bất di bất dịch. Nhưng trong Nguyệt hạ độc chước, ánh trăng đã được nhà thơ “thuần hóa” và thu phục rất độc đáo, tuy thi nhân cũng biết rằng Nguyệt kí bất giải ẩm (trăng đã không biết uống) mà lại Ảnh tùy đồ ngã thân (bóng chỉ quấn theo ta). Có lẽ trong cơn say khước kia nhà thơ vô tình bắt ánh trăng phục vụ cho mình làm vui, nhà thơ cũng ý thức rằng vầng trăng kia là không thể bắt xuống thế gian, nhưng bóng – ánh trăng thì hoàn toàn có thể, ánh trăng đã cùng múa men với củ động của Lí Bạch, vẽ nên bức tranh có hồn và rất sinh động. Điểm này so với các bài thơ của các thi gia khác khi viết về ánh trăng đêm có người và cảnh. Như bài Phong kiều dạ bạc, bài thơ nức tiếng của Trương Kế khi ghé thuyền bến Phong Kiều ở Tô Châu, hai câu đầu là:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,    Dịch thơ:      Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.                  Lửa chày cây bến sầu vương giấc hồ.

Có lẽ khi Trương Kế nhìn lên bầu trời thì trăng đã xế tàn, quạ đã cất tiếng kêu trong sương đêm dày đặc. Cái không gian chia hai trong hai câu thơ tạo nên khoảng cách rất xa trong bố cục bức tranh, một là khoảng không bầu trời; hai là ánh lửa chày và hàng phong đượm buồn trong đêm cô đơn của nhà thơ ấy. Hai không gian này quá xa cách, đến khi tiếng chuông Hàn Sơn điểm thì tất cả như chia nhau mà đi hết. Qua sự đối sánh nhỏ này để thấy được cái linh động trong cách miệu tả thiên nhiên của hai nhà thơ, mà đặc biệt là Lí bạch. Lí Bạch rất thích hợp với cung cách vừa tận hưởng thú vui, đắm mình trong say khước trong tiêu dao và cùng thiên nhiên hòa điệu. Tuy chất liệu thiên nhiên là thành phần chính để ông kết hợp sáng tác, nhưng đồng thời cũng là cái mà nhà thơ gọi là tri ậm tri kỉ, không những là bạn tri kỉ, ánh trăng như một tiêu chuẩn thẩm mĩ, như lí tưởng to lớn mà họ Lí rất ngưỡng mộ:
Trăng sáng từ đáy biển,
                                                             Một sớm chiếu muôn nơi.                        
        (Cổ Phong bài 10)
   Bài thơ cũng đồng thời là bức tranh thiên nhiên như mượn cảnh tiên ở trần thế, đầy hơi thở lãng mạn, nhà thơ suốt đời thích trăng và rượu – yêu cái khoáng đạt tự do, chính cái tự do đó tạo nên không gian thi họa mênh mông và lãng đãng.
4.7. Sự tương quan giữa thiên nhiên trong thơ Đường và thơ Lí Bạch với thơ của các nhà thơ Việt Nam như Bà huyện Thanh Quan, Tản Đà.

 Thơ các nhà thơ Việt Nam (Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến và Tản Đà) có sự kế thừa nhưng nội dung miêu tả phát triển một cách độc lập.

   Ba thi hào: Bà huyện Thanh Quan và Tản Đà có thể xem là hai nhà thơ lớn của thi ca Việt Nam giữa Trung đại và hiện đại, cũng có thể xem là đại diện cho mảng đề tài về miêu tả thiên nhiên, phong cảnh làng quê Việt Nam. Ở họ, sự tương đồng về hình thức thơ ca Đường Luật  là rất lớn, tuy không sử dụng nhiều thể thơ khó của Trung Hoa như Cổ Phong, nhưng sự sự giống nhau gần gũi và dễ phát hiện nhất là thể thơ luật. Gồm có bát cú và tuyệt cú.
Sự thuận lợi về mặt hình thức này tạo đà cho thơ Đường ở Việt Nam phát triển rất nhanh chóng và đạt nhiều thành tựu to lớn. Nhưng cũng chính sự kế thừa này (về mặt hình thức) cũng tạo đà cho những nội dung mà trong thi ca đời nhà Đường dễ dàng thâm nhập vào trong thơ của các nhà thơ.

   Thơ Đường Việt Nam, bẳng những cách thể hiện và lối tư duy thuần Việt, các nhà thơ của chúng ta đã tái sử dụng những hình ành, thi liệu và đề tài (chủ yếu là thiên nhiên) vào trong sáng tác của mình. Nhưng việc tái sử dụng này là không hoàn toàn y nguyên mà đó là sự vay mượn và có phát triển theo chiều hướng của truyền thống thi ca cổ điển Việt Nam. Đăc biệt, ở các nhà thơ kể trên đều có sáng tác bằng chữ Nôm – thứ chữ viết và âm đọc thuần Việt. Ở đây, nhóm chúng tôi xin so sánh những câu thơ của các nhà thơ trên với các câu thơ trong thơ Đường và thơ Lí Bạch về thi liệu, về tình cảm thể hiện trong đề tài thiên nhiên.

Gác mái ngư ông về viễn phố,                                              Kìa ai câu tuyết bên sông,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.                                              Áo tơi nón lá một ông thuyền chài.
(Chiều hôm nhớ nhà, Bà Huyện thanh Quan)                 (Giang tuyết, Liễu Tông Nguyên)

   Trong một vài ý thơ của Bà huyện thanh Quan có sự tương đồng rõ nét, nhất là tả cảnh. Thí dụ như bài Qua đèo Ngang - làm người ta liên tưởng đến những bức tranh cổ xưa của Trung Hoa (…) Đường xa vó mỏi, khách nhìn quan san, đèo cao trời tà, đá lá hoa mịt mùng – Đó đây dưới núi, tiều phu vài chú lom khom(3).  Những chất liệu rất mộc và dân gian. Dân gian ở đây chỉ sự khái quát về cảnh quan, văn vật của các nền văn hóa. Hai cặp thơ trên, đều đồng một chất liệu là thể thất ngôn Đường luật, xét về nhãn tự trong thơ thì ờ chiều hôm nhớ nhà là chữ “về”;”lại” hai động từ chỉ hành động. Thi liệu ở đây sử dụng có sự phối hợp độc đáo giữa thi liệu Trung Hoa trong thơ Đường và của cảnh vật Việt Nam rất dân giã như “Ngư, tiều, canh mục” qua cách dùng từ ngữ.  Trong câu gác mái ngư ông về viễn phố, từ ngư ông, thực sự trong thơ Đường Trung Hoa từ Ngư ông không phải hiếm, nó cũng là chất liệu dân gian của thơ họ, như từ ngư – không hoàn toàn chỉ loài động vật, nhưng ngư có thêm bộ thủy mang nét nghĩa của nghề cá hay gọi là nghề chài. Ta có thành ngữ ngư ông đắc lợi cũng chính bởi vậy. Như vậy, nhìn lại hai cặp thơ trên ta thấy rõ sự tương đồng về chất liệu và riêng sự phát triển ý thơ thì hoàn toàn Việt Nam. Phong cảnh trong Chiều hôm nhớ nhà tất nhiên khôn phải là bến Phong Kiều, Tô Châu, cũng không là thành Trường An mà là cảnh thôn xóm yên bình có đám trẻ dắt trâu về kẻo buổi hoàng hôn. Thật rất chất Việt nam. Bức tranh chiều hôm đó rất giản dị, tuy có thô nhưng không kiệt quệ. Còn trong thơ Đường thì như bức thư họa với nhiều xúc cảm mà họa gia vẽ vời mặc sức rất bóng bẩy và sáng lóa. Qua đó, ta thấy cách phát triển của thơ Việt nam rất độc lập và hoàn toàn sáng tạo. ta chỉ mượn thi liệu làm bối cảnh còn màu sắc thì hoàn toàn của các nhà thơ tô vẽ và làm nên một phong cách thơ Đường rất Việt Nam.

 Nỗi niềm hoài cổ, tâm tình lãng mạn cũng được các nhà thơ rất chú trọng vào trong thơ Việt Nam. Cái hoài cổ đó có thể là trước tòa thành đổ nát của triều đại, cái hoài cổ xót thương về một thân phận con người vùi trong câu chuyện dân gian hay lịch sử,... Tất cả đều có tái sử dụng nhưng không y nguyên. Nếu ở Trung Quốc, Lí Bạch vịnh sử về triều Ngô, về Vương Chiêu Quân thì Tản Đà – một trích tiên của văn học Việt Nam hiện đại cũng có bài Tế Chiêu Quân, dịch thơ Đường và hay nhất là Tây Thi vịnh của Vương Duy. Và ở đề tài hoài cổ, tâm tình lãng mạn thì thiên nhiên trong thơ Tản Đà rất bắt mắt, chẳng kém gì sắc mau thơ thiên nhiên thơ Lí Bạch:
+Tiếng sấm ân tình bốn mặt ran,                
+ Tiền Đường chưa chắc mã hồng nhan.
Bức tranh lấy nền bầu trời và bờ sông rộng lớn sậm màu tối này như ám chỉ tình cảnh của Thúy Kiều khi hầu rượu Hồ Tôn Hiến, nhà thơ cũng khóc cho Thúy Kiều tiếc cho một đời hồng nhan. Chính tình cảm tiếc thương đó, Tản Đà vô tình vẽ nên bức tranh người đẹp đặt trên nền thiên nhiên vũ trụ tối tăm. Tiếng sấm của bầu trời thét như vị thần khó tính, bờ sông Tiền Đường thì tràn sóng dữ, cũng như Lí Bạch khi miêu tả về Vương Chiêu Quân:
                           Hán gia Tần địa nguyệt,                 Xứ Tần trăng sáng tỏ,
                          Lưu ảnh chiếu Minh Phi                 Dõi bóng chiếu Minh Phi.
Trong bài Thăng Long hoài cổ, Bà Huyện Thanh Quan thể hiện tình cảm rất ngậm ngùi đau xót vì cố đô đang mai một dần vì vẻ đẹp vốn có:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Thất vọng trước thực tại đầy rẫy những tang thương biến cải, nhà thơ lần về những dĩ vãng mơ màng với những vàng son của quá khứ một thời đẹp đẽ của thành Thăng Long. Ở khung cảnh này, màu sắc không khí chiều tà cùng với những chữ rất đẹp và cổ điển tạo nên phong cảnh trang nhã và sang, có phần huyền ảo, cổ kính nhưng đượm buồn. Tương đương như nhà thơ họ Lí vịnh Đài Phượng ở thành Kim Lăng, hay thành cũ trong Tô đài lãm cổ.
 Dẫu biết rằng mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng bằng kiến thức và sự khám phá có phần chủ quan của nhóm thì sự so sánh này thiết nghĩ cũng không quá mơ hồ mà là có thể phù hợp với tư duy nghiên cứu. Tất cả cũng chỉ để chỉ ra sự độc lập ở mỗi nền thi ca, mỗi tác giả.

5.             KẾT LUẬN
Cuộc đời Lí Bạch như một bài thơ mà ông tự họa, có lúc thăng có lúc trầm có lúc bình thản êm diệu như ánh trăng trên núi Tứ Xuyên. Cuộc viễn du khi hồi kết của ông cũng đã chứng minh cho túi thơ đầy ắp những lãng mạn phiêu bồng mà Trích Tiên đã trải qua hơn phân nửa thế kỉ. Ông vĩnh viễn ôm trăng vào lòng mình như một giấc mộng lớn mà cả đời nhà thơ theo đuổi:
Nhân sinh nhược đại mộng.
Cái đại mộng đó phải chăng làm nền tảng cho những thi phẩm của ông dồi dào và được dân gian lưu yêu mến truyền mãi đến ngày hôm nay. Thơ Lí Bạch, nhất là thơ miêu tả thiên nhiên đẹp đẽ như một món bảo bối ngắm hoài không biết chán, càng ngắm càng bóng bẩy. Điều này đã làm cho vẻ đẹp thiên nhiên càng lộng lẫy, thiên nhiên càng rộng lớn thì lòng người càng sâu hút và dạt dào cảm xúc. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Khán thiên gia thi hữu cảm:
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong.
Tóm lại, cảnh sắc thiên nhiên Trung Hoa đã được Lí Bạch họa lại bằng thơ như một bức trường họa, không giới hạn về biên giới, chính cái không biên giới này đã tạo đà cho những bức tranh thiên nhiên trong thơ ca Việt Nam có cơ hội phát huy vẻ đẹp thuần túy của mình để cả hai cùng tồn tại song song và nâng niu những giá trị tốt đẹp nhất.

-----HẾT-----